BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ HÒA
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
biệt là lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lê Thị Thu Phượng đã tận tâm, nhiệt
tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn
này.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu, được sự quan tâm tạo điều kiện của
Học viện Hành chính Quốc gia, Nhà Xuất bản Tôn giáo - Ban Tôn giáo Chính
phủ (nơi tôi đang công tác) đến nay, tôi đã hoàn thành bản luận văn Thạc sĩ
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh
Lai Châu”. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Tôn giáo Chính phủ,
Nhà Xuất bản Tôn giáo và các đồng nghiệp trong cơ quan đã động viên, tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo và góp ý của các thầy,
cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thị Hòa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH............................................................................ 11
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn.............................................. 11
1.1.1. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo......................................................................... 11
1.1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói chung và đạo Tin
lành nói riêng............................................................................................................................ 13
1.1.3. Đạo Tin lành................................................................................................................ 14
1.1.4. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở Việt Nam
.......................................................................................................................................................... 16
1.2. Một số vấn đề lý luận về QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
2.3.2. Công tác kiện toàn, củng cố t ch c bộ máy và đào tạo bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công ch c làm công tác quản
lý nhà nước về tôn giáo....................................................................................................... 58
2.3.3. Công tác quản lý sinh hoạt của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh.......60
2.3.4. Quan hệ giữa người dân và chính quyền địa phương sau Chỉ thị số
01/2005/CT-TTg...................................................................................................................... 66
2.3.5. Công tác phối h p đ u tranh chống việc l i dụng đạo Tin lành đối
với đồng bào dân tộc thi u số trên địa bàn tỉnh...................................................... 68
2.3.6. Công tác thanh tra, ki m tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp lu t liên quan đến đạo Tin lành.............................................................. 71
2.4. Đánh giá chung................................................................................................................... 72
2.4.1. Kết quả............................................................................................................................ 72
2.4.2. Hạn chế........................................................................................................................... 74
2.4.3. Nguyên nhân................................................................................................................ 76
Tiểu kết chương 2........................................................................................................................... 78
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU................................................................................. 79
3.1. Quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về
tôn giáo nói chung và đạo Tin lành nói riêng............................................................... 79
3.1.1. Quan đi m chủ trương của Đảng về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
nói chung và đạo Tin lành nói riêng............................................................................. 79
3.1.2. Chủ trương của Đảng về quản lý nhà nước đối với hoạt động của
đạo Tin lành............................................................................................................................... 81
3.1.3. Chính sách pháp lu t của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo nói
chung và đạo Tin lành nói riêng..................................................................................... 86
3.1.4. Dự báo xu hướng phát tri n hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn
tỉnh Lai Châu từ 2020 đến 2025..................................................................................... 89
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của
đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu.......................................................................... 93
- BTGCP
: Ban Tôn giáo Chính phủ
- CMA
: Hội Liên hiệp Phúc Âm và Truyền giáo Bắc Mỹ
- CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
- ĐCSVN
: Đảng Cộng sản Việt Nam
- QLHCNN
: Quản lý hành chính nhà nước
- QLNN
: Quản lý nhà nước
- QPPL
: Quy phạm pháp luật
- NĐ-CP
- UBND
: Ủy ban nhân dân
- UBTVQH
: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với chính sách nhất
quán tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến tháng
11/2019, nước ta đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức tôn
giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau. Với hơn 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27%
dân số cả nước, trong đó có 57.049 chức sắc; 147.028 chức việc; có 29.660 cơ
sở thờ tự. So với năm 2018, số lượng tín đồ tăng 424.142 người; chức sắc
tăng 1.539 người; chức việc tăng 1.467 người; cơ sở thờ tự tăng 264 cơ sở (số
liệu BTGCP). Với số liệu này cho thấy, sự phát triển của các tôn giáo đang
ngày càng tăng nhanh về cả số lượng tôn giáo và tín đồ. Sự hoạt động nhộn
nhịp của các tôn giáo, một mặt cho thấy Đảng và Nhà nước đang thực hiện
chính sách phát triển tự do tôn giáo, một mặt cho thấy nhu cầu theo tôn giáo
c ng đang ngày càng lớn mạnh. Một trong những tôn giáo đang phát triển
mạnh ở Việt Nam là Đạo Tin lành, đây là tôn giáo lớn trên thế giới với rất
nhiều hệ phái và tổ chức giáo hội khác nhau. Theo một số nghiên cứu đạo Tin
lành được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu thế k XX. Cùng với thời
gian đạo Tin lành ở Việt Nam phát triển khá nhanh, nhất là sau năm 1975 cho
đến nay, với hơn 100 năm h nh thành và phát triển đạo Tin lành đã có trên 100
tổ chức, giáo phái, nhóm Tin lành với khoảng 1,5 triệu tín đồ ở khắp các địa
phương trong cả nước trong đó có 13 tổ chức đã được Nhà nước công nhận,
nhà nguyện trá hình vẫn tiếp tục diễn ra trên địa bàn tỉnh. Tính đến nay trên
địa bàn tỉnh Lai Châu có 8/8 huyện, thành phố; 78/108 xã, phường, thị trấn,
32 8/1.140 bản và tổ dân phố, 246 điểm nhóm, 3 nhóm hộ với tổng số 9.086
hộ/50.041 người tin theo đạo Tin lành, Công giáo và Phật giáo (trong đó từ 13
tuổi trở lên là 28.378 người).
Trong thời gian qua, đạo Tin lành phục hồi và phát triển trên địa bàn tỉnh
Lai Châu, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi
2
đây. Bên cạnh những mặt tích cực và hoạt động tôn giáo b nh thường, ổn định,
tuân thủ pháp luật, t nh h nh đạo Tin lành ở Lai Châu c ng có diễn biến rất
phức tạp gây nên những tác động tiêu cực về chính trị, kinh tế, văn hóa, trật tự
an toàn xã hội. Các hoạt động tuyên truyền, lừa phỉnh, phát triển đạo trái
phép, kích động tư tưởng ly khai; lợi dụng việc phát triển “đạo Vàng Chứ” để
lôi kéo chia rẽ tôn giáo này với tôn giáo khác, giữa người có tôn giáo và
không tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn thường xuyên diễn ra.
Trước tình hình trên, chính quyền địa phương đã dùng nhiều biện pháp,
vừa tuyên truyền, vận động thuyết phục, vừa đấu tranh xử lý bằng những biện
pháp hành chính nhưng vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả làm ảnh hưởng
không nhỏ đến việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh trật tự trên địa
bàn tỉnh.
Trong bối cảnh này, việc tập trung nghiên cứu nhằm hoàn thiện QLNN đối
với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu cho công tác QLNN đối
với hoạt động của đạo Tin lành trong thời gian tới. Do đó, tôi chọn “Quản
lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu”
làm đề tài tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
hướng phát tri n và những v n đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý” [31].
Công tr nh đã khái quát đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam, nêu rõ thực
trạng và nguyên nhân, ảnh hưởng, xu thế và những vấn đề đặt ra cho công tác
đối với đạo Tin lành trong thời gian tới ở nước ta.
Tác giả Lê Hoàng Phu: “Lịch sử Hội thánh Tin lành Việt Nam (1911 1965)” [46]. Đây là luận án tiến sĩ được tác giả c ng là mục sư của Hội thánh
thực hiện. Tác phẩm là kho tư liệu quý về hệ phái CMA ở Việt Nam nói
chung, về Hội thánh Tin lành Việt Nam nói riêng. Luận án khá chi tiết và dày
công biên niên các sự kiện đánh dấu quá tr nh h nh thành, phát triển của Hội
4
thánh Tin lành Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1965, đủ để h nh dung đạo Tin
lành ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 dù được Hoa Kỳ hậu thuẫn vẫn
không thể có sự nở rộ về tổ chức, nhóm, phái nhiều như sau thời điểm đất
nước đổi mới đến nay.
Tác giả Nguyễn Thanh Xuân với các tác phẩm: “Bước đầu tìm hi u đạo
Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam” [61]; “Đạo Tin lành ở Việt Nam” [63];
“Đạo Tin lành - công tác đối với đạo Tin lành trong giai đoạn mới” [62].
Trong các tác phẩm này, tác giả đã khái quát trình bày những vấn đề cơ bản
của đạo Tin lành trên thế giới và Việt Nam như lịch sử ra đời phát triển và ảnh
hưởng của đạo Tin lành đối với đời sống kinh tế an ninh, chính trị xã hội nơi
có đạo; khẳng định đạo Tin lành tuy có số lượng tín đồ không nhiều nhưng đã,
đang và sẽ là một tôn giáo phát triển ở Việt Nam.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu chung về tôn giáo và riêng về
đạo Tin lành ở Việt Nam nói trên đã đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
từ những góc độ tiếp cận khác nhau về tôn giáo học, về chính trị học, về hành
chính học,… Tuy vậy, vấn đề QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành ở
Việt Nam nói chung, với Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng hiện
c n chưa được nhiều cơ quan nghiên cứu, quản lý và các tác giả quan tâm
toàn diện, chi tiết và có hệ thống.
hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước
đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu theo quy định
của pháp luật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu QLNN đối với hoạt động
của đạo Tin lành theo quy định của pháp luật.
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Lai Châu.
6
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2005 đến nay (sau khi có Chỉ
thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số
công tác đối với đạo Tin lành) và đề ra giải pháp cho giai đoạn từ 2020 đến
2025.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận và khung nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử để nhìn nhận đối tượng nghiên cứu. Với phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, đạo Tin lành ở địa bàn nghiên cứu (tỉnh Lai Châu) được
nhìn nhận như kết quả của một quá trình lịch sử đạo Tin lành đến định cư ở
vùng đất này và tiếp tục được bổ sung hoàn thiện trong sinh hoạt đời sống,
hoạt động sản xuất và đấu tranh với thiên nhiên và các thế lực thù địch.
Nghiên cứu c n được thực hiện dựa trên nền tảng Tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
tôn giáo.
Vận dụng các lý thuyết và thực tiễn vào trong trường hợp nghiên cứu
cụ thể về đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu có thể đưa ra Quy trình
vhoớiạtđạđộoTinng đạlànho
vQLNNềcông
vtácềhoQLNNạtđộngvềcđạủaođạtino
Tintrên lànhđịabàntrênt ỉđịnha
Quan điểm
của Đảng và
một số giải
phápđốnhiằvmớ i
Xác định
những
vấn đề
đặt ra và
nâcông caotác
nguyên
QLNNhiệuquvảề
QLNNhoạtđộđốngi
nhân thực
trạng
củavớđạihoạTint
lànhđộngtrêncủđạai
công tác QLNN đối với đạo Tin lành.
- Phương pháp điều tra, khảo sát:
Đây là phương pháp quan trọng nhằm xác định những vấn đề đặt ra trong
công tác QLNN đối với đạo Tin lành. Điều tra khảo sát trực tiếp bằng việc đi
thực tế, qua quan sát, ghi chép và trao đổi trực tiếp đối với các đối tượng liên
quan để có ý kiến khách quan về QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành
và tìm ra những khó khăn, bất cập.
Ngoài phương thức điều tra khảo sát, việc phỏng vấn sâu một số đối
tượng tham gia vào QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành ở địa phương
nghiên cứu c ng được thực hiện.
- Phương pháp chuyên gia:
Ngoài các phương pháp tự thân th phương pháp chuyên gia c ng đóng vai
trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Bản thân hoạt động
của đạo Tin lành và công tác quản lý mang tính tổng hợp cao, do vậy muốn
đảm bảo cho các đánh giá về thực trạng và định hướng nhằm hoàn thiện
QLNN về hoạt động của đạo Tin lành đ i hỏi có sự tham gia của các chuyên
gia, các nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực có liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn góp phần hệ thống lại cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối
với đạo Tin lành và áp dụng trong QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành
trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
6.2. Về mặt thực tiễn
- Làm rõ thực trạng hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai
Châu.
9
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của
đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
người đã tạo ra tôn giáo hay nói một cách khác, tôn giáo là một sản phẩm xã
hội của con người, nó là phạm trù lịch sử. Tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài trong
tiến trình phát triển của lịch sử loài người và sẽ tồn tại trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo các quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lê nin vào cách mạng Việt Nam trong đó có các quan niệm
về tôn giáo. Từ đó đã h nh thành lên và ngày càng hoàn thiện một hệ thống
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước để đảm bảo các quyền
con người, đảm bảo xây dựng được lực lượng cách mạng là quần chúng theo
tôn giáo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Liên quan đến cách giải thích về tôn giáo, trong văn bản quy phạm pháp
luật của Nhà nước Việt Nam đưa ra cách hiểu về tôn giáo. Khoản 5, Điều 2,
Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn
11
tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tư ng tôn thờ, giáo lý,
giáo lu t, l nghi và t ch c”. [47, tr.1]
Bên cạnh đó, c ng có ý kiến cho rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến
cộng đồng người có chung niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, huyền bí; có hệ
thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và có tổ chức.
Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, người
ta đưa ra những quan niệm khác nhau về tôn giáo. Mặc dù việc giải thích khái
niệm này khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, tuy nhiên, về phương
diện quản lý nhà nước, khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thường được tiếp
cận từ góc độ thực thể xã hội tôn giáo được thể hiện bằng các yếu tố để nhận
biết một tôn giáo đó là:
+ Giáo lý (kinh sách, giáo luật, lễ nghi, sấm giảng…);
+ Giáo sỹ (nhà tu hành, chức sắc, chức việc, …của tôn giáo);
Tin lành nói riêng
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước. Quản lý nhà
nước về tôn giáo là thuộc loại quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt.
Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành. Khi Nhà nước xuất hiện, những
công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm - quản lý
nhà nước xuất hiện. Hiện nay, khái niệm QLNN được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, được sử dụng quyền
lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến
hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội.
Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước với
chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan
trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, U ban nhân dân các cấp).
13
Từ khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo,
chúng ta có thể đưa ra khái niệm về QLNN đối với hoạt động tôn giáo theo
hai nghĩa như sau:
Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình sử
dụng quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan
nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động nhằm điều chỉnh, hướng
các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp
luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình
chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ
thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các
hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng quy định
có nhiều cách gọi: đạo Thệ phản, đạo Cải cách, đạo Tân giáo.
Xuất phát từ Kinh Thánh và theo tính chất cải cách, việc truyền đạo Tin
lành gắn liền với việc dịch Kinh thánh và giảng Phúc âm. Do vậy từ cuối thế
k XVIII cùng với phong trào Phúc âm (Evangelism), tên gọi Phúc âm c ng
được dùng để chỉ đạo Tin lành.
Khi truyền vào Việt Nam cuối thế k XIX, đạo Tin lành được người miền
Bắc gọi theo cách người Trung quốc là "đạo Thệ phản", ở miền Trung gọi là
đạo "Gia-tô", ở miền Nam gọi là đạo "Huê kỳ". Đầu những năm 20, 30 của
thế k XX, giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội Liên hiệp Cơ đốc và
Truyền giáo (The Christian and Missionnary Alliance - thường được gọi tắt là
Hội Truyền giáo CMA) cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh thánh ra tiếng
Việt Nam. Hai ông không dịch Phúc âm (Evangelism) là "Tin mừng" mà dịch
là "Tin lành". C ng có tài liệu cho rằng hai ông đã sử dụng lại thuật ngữ "Tin
lành" từ bản dịch Kinh thánh của một giáo sĩ Công giáo (cố Chính Linh). Trên
thực tế, việc dùng từ "Tin lành" đã tránh cho tôn giáo này các cách gọi
15
không thiện cảm như "đạo bỏ ông bỏ bà", "đạo rối",... dễ đi vào l ng người
hơn. Cách gọi này dần dần thành thói quen và tồn tại cho đến ngày nay.
1.1.4. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở Việt Nam
Từ khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, thì có thể đưa
ra khái niệm về QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành theo hai nghĩa như
sau:
Nghĩa rộng: QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành là quá trình sử
dụng quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan
nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động nhằm điều chỉnh, hướng
các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp
luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
tế cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, nhà nước nào, ở đâu có hoạt động tôn giáo
thì ở đó có sự quản lý của nhà nước, vì lợi ích của quốc gia dân tộc và trật tự
an toàn xã hội nên việc quản lý, điều chỉnh của nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo là cần thiết, khách quan.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, không những cần thiết phải
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo mà còn cần phải tăng cường
QLNN đối với lĩnh vực này, vì:
Thứ nhất: Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo có nhiều
đổi mới, bởi vậy công tác QLNN đối với tôn giáo c ng cần phải có những đổi
mới cho phù hợp. Trong lĩnh vực tôn giáo từ khi thành lập nhà nước đến nay,
mặc dù quan điểm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và nhà nước ta luôn
nhất quán song những năm gần đây quan điểm đó ngày càng mang tính minh
bạch, rõ ràng và có nhiều nội dung mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
năm 2003 đánh giá: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
ph n nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ ph n
17