THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM - Pdf 69

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI
NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
BH PNT Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với thế giới.Hoạt động BH
PNT ở Việt Nam đã có ít nhiều từ thời kỳ Pháp thuộc và ở Miền nam chế độ cũ.
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1993
2.1.1.1. Từ năm 1965 đến 1975: Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc năm
1954, nhà nước Việt nam non trẻ cùng với việc xây dựng cơ sở hạ tầng và các tổ
chức kinh tế. Yêu cầu quản lý mới đòi hỏi cấp thiết phải có cơ chế tài chính và
cơ chế đảm bảo an toàn tài sản cho nền kinh tế. Vì vậy, từ năm 1963 Bộ Tài
Chính đã nghiên cứu và trình Chính phủ thành lập công ty BH Việt Nam.
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ tài Chính, ngày 17/12/1964, Chính phủ
đã ra Quyết định 179/CP về việc thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam ( thuộc
Bộ tài Chính quản lý), tên giao dịch là Bảo Việt, và chính thức đi vào hoạt động
ngày 15/01/1965, với số vốn điều lệ là 10 triệu VNĐ ( Khoảng 2 triệu USD).
Trong suốt thời gian này ( 1965- 1975), Bảo Việt hoạt động theo cơ chế
bao cấp, các hoạt động BH, tái BH chủ yếu dựa vào các công ty BH của Liên
Xô (cũ), Trung Quốc và chủ yếu chỉ thực hiện hai nghiệp vụ là BH hàng hóa
xuất nhập khẩu và BH tàu biển. Đa số người dân chưa có khái niệm, hoặc chỉ
hiểu “ sơ sơ” về BH. Đây là giai đoạn sơ khai của BH phi nhân thọ Việt Nam.
2.1.1.2. Từ năm 1976 đến 1986: Sau khi giải phóng miền Nam, đất nước hoàn
toàn độc lập. Ngành BH của Việt nam bắt đầu hoạt động ở các tỉnh phía Nam.
Ngày 17/01/1976, đã thành lập công ty BH, tái BH Việt Nam ( viết tắt là
BAVINA), thuộc Tổng nha tài chính Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa
miền Nam Việt Nam. Sau đó, (3/1977), Bộ Tài Chính đã ra Quyết định sát nhập
BAVINA thành chi nhánh Bảo Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, toàn
Quốc vẫn chỉ có một công ty BH hoạt động độc quyền là Bảo Việt.
Tiếp theo đó, năm 1978
công ty BH Việt Nam ( Bảo Việt) đã mở rộng điạ bàn hoạt động của mình trước
hết là ở những tỉnh thành như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu. Bắt đầu từ năm

2.1.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến nay
2.1.2.1. Tình hình kinh tế xã hội từ năm 1994 đến nay
a) Khái quát chung tình hình kinh tế - xã hội.
Thời kỳ này, công cuộc đổi mới ở nước ta đang được phát triển cả chiều
rộng,chiều sâu và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thay đổi
đời sống về mọi mặt của người dân: Kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao,
đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị - xã hội
ổn định, quan hệ ngoại giao được mở rộng. Có thể nói, chưa bao giờ vị thế của
VN trên trường quốc tế lại được đánh giá cao như trong giai đoạn hiện nay.
Thành tựu nổi bật nhất là Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng tương đối
cao trong nhiều năm liên tục (đứng thứ 2 Châu Á). Trong vòng 11 năm ( từ
1994 đến 2005) GDP của Việt Nam đã tăng hơn hai lần, với tỷ lệ tăng bình quân
hàng năm là gần 7%. Riêng năm 2005, GDP tăng 8,4%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong
GDP tăng dần, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần.
Môi trường đầu tư nước ngoài của Việt Nam ngày càng được thông
thoáng. Tính đến cuối năm 2005 , đã có hơn 5.871 dự án đầu tư nước ngoài còn
hiệu lực, với tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 49,5 tỷ USD, trên 50% số dự án đã
đi vào hoạt động với số vốn thực hiện gần 30 tỷ USD. Đặc biệt, năm 2005, các
dự án mới cấp phép chủ yếu tập trung vào công nghiệp và xây dựng. Các DN
FDI đóng góp khoảng 15% GDP,chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu, đóng góp
4,9% tổng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động.
Xuất nhập khẩu Việt nam cũng tăng liên tục trong những năm qua. Năm
2005 tổng giá trị xuất nhập khẩu cả năm ước đạt 69,11 tỷ USD, tăng 18,2% so
với năm 2004 ( trong đó xuất khẩu tăng 21,6%, nhập khẩu tăng 15,4%).
Trong những năm qua, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến cải cách trong
lĩnh vực tài chính – Ngân hàng, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát,
đảm bảo tính minh bạch của tài chính nhà nước, tạo nền móng để phát triển thị
trường tài chính Việt Nam. Lần đầu tiên ở Việt Nam đang đã hình thành và dần
phát triển thị trường chứng khoán, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị

Qua bảng số liệu trên cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ năm
1994 đến 2005 là 6,8%/năm.GDP năm 2005 đã tăng 2,183 lần so với năm 1994.
Đây là một trong những điều kiện tốt để TTBH phát triển.
*). Vốn đầu tư phát triển và cơ cấu của nó
Trong quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ
Việt Nam đã có nhiều chính sách tích cực nhằm huy động vốn đầu tư từ mọi
nguồn lực trong và ngoài nước. Kết quả là trong những năm qua, tổng nguồn
vốn đầu tư phát triển toàn xã hội liên tục tăng với tốc độ cao, và cơ cấu các
nguồn vốn cũng liên tục thay đổi. Tình hình trên thể hiện ở bảng số liệu sau
Bảng 2.2.Vốn đầu tư phát triển và cơ cấu nguồn vốn từ năm 2003 đến 2005
Chỉ tiêu
Năm
Vốn đầu tư (tỷ đồng) Cơ cấu nguồn vốn(%)
Nhà nước Ngoài nhà
nước
Đtư Nước
ngoài
Tổng cộng Nhà nước Ngoài nhà
nước
Đtư Nước
ngoài
2003 128.030 61.845 27.125 217.000 59,0 28,5 12,5
2004 144.872 69.590 44.238 258.700 56,0 26,9 17,1
2005 172.044 104.976 46.980 324.000 53,1 32,4 14,5
(Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội tăng với tốc độ khá cao và có tín hiệu rất khả quan ( năm 2004 so với 2003
đã tăng 19,21%-năm 2005 so với 2004 tăng 25,24%). Mặt khác,cơ cấu các
nguồn vốn cũng thay đổi (tỷ trọng nguồn vốn nhà nước dần giảm dần; tỷ trọng
nguồn vốn ngoài nhà nước có xu hướng tăng). Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho

kinh tế, ngành bảo hiểm mới thực sự “ hòa mình” vào công cuộc đổi mới của
đất nước, đó là TTBH bắt đầu cạnh tranh – đổi mới – và phát triển.
Ngay sau khi nghị định 100/CP của Chính phủ được ban hành, một số
công ty BH đã lần lượt ra đời đó là:Công ty BH Thành phố Hồ Chí Minh ( Bảo
Minh) ( 1994) Công ty cổ phần bảo hiểm xăng dầu ( PJICO) ( 1995), và sau đó
là công ty cổ phần BH Nhà Rồng ( Bảo Long)…. Đến năm 1996, TTBH Việt
Nam đã có sự tham gia của các công ty BH có vốn đầu tư nước ngoài như VIA (
1996); UIC ( 1997)…TTBH Việt Nam bắt đầu cạnh tranh và trở nên sôi động.
Tiếp theo đó, ngày 09/12/ 2000 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá X đã
thông qua Luật KDBH và có hiệu lực từ ngày 01/04/2001, đã tạo cơ sở pháp lý
quan trọng cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của TTBH Việt Nam.
Tính đến hết năm 2005, trên TTBH Việt Nam đã có 16 DNBH phi nhân
thọ ( trong đó có 2 DNBH nhà nước, 6 DNBH cổ phần, 3 DN 100% vốn nước
ngoài và 5 DN liên doanh). Năm 2005, TTBH phi nhân thọ phát triển ổn định.
Doanh thu đạt 5.678 tỷ VNĐ tăng 18,5% ( Trong đó doanh thu phí BH là 5.535
tỷ.đ – tăng 16, 1 %, và doanh thu từ hoạt động đầu tư là 143 tỷ đ) . Tổng số vốn
điều lệ của các DNBH PNT là 3.590 tỷ VNĐ, tổng tài sản 6.904 tỷ VNĐ, tổng
đầu tư vào nền kinh tế là 4.496 tỷ VNĐ, tổng số nhân viên là 6.714 người và
tổng số đại lý BH PNT là 36.760 người.
2.1.3 Ảnh hưởng của chính sách pháp luật đến sự hình thành và phát triển
thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam
- Trước năm 1993, hoạt động KDBH ở Việt nam là độc quyền, chỉ có
một DNBH nhà nước duy nhất hoạt động theo chỉ tiêu và nhiệm vụ của Nhà
nước giao cho. Ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế còn rất hạn chế. Nguyên nhân
của tình trạng này là do môi trường pháp lý trong lĩnh vực BH còn trong giai
đoạn sơ khai. Thực chất trong thời gian này ở Việt Nam chưa có TTBH.
- Để tăng cường sự quản lý Nhà nước trong hoạt động KDBH. Ngày
15/05/1992 Bộ Tài Chính đã ra Quyết định thành lập Phòng quản lý bảo hiểm
Vụ tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính có chức năng quản lý Nhà nước
về KDBH, là đơn vị chủ quản của các DNBH nhà nước. Đến ngày 20/08/2003

Nam trưởng thành rất nhiều từ khi có mặt các DNBH nước ngoài. Mặt khác,
cũng tạo điều kiện khuyến khích các DNBH trong nước mở rộng phạm vi hoạt
động ra nước ngoài.Ngoài ra, việc ban hành luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư
ngoài tại Việt nam ngoài, Luật dân sự…cũng là cơ sở pháp lý quan trọng, cần
thiết và có tác dụng tích cực cho việc thúc đẩy TTBH phi nhân thọ phát triển.
Các chính sách trên đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển TTBH PNT ở
Việt Nam. Cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.
2.2.TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT
NAM TỪ NĂM 1994 ĐẾN NAY
2.2.1. Những thành tựu của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam .
Theo đà chuyển biến tích cực của kinh tế - xã hội, TTBH phi nhân thọ ở
Việt Nam trong những năm qua có nhiều khởi sắc: Các DNBH phi nhân thọ
phát triển cả về số lượng, qui mô, và năng lực tài chính. Số lượng sản phẩm
không ngừng tăng. Tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt ở mức khá cao. BH phi
nhân thọ ngày càng có nhiều đóng góp vào ổn định, tăng trưởng kinh tế và đầu
tư trở lại nền kinh tế….Trước khi đi vào đánh giá chi tiết những thành tựu đạt
được trong những năm qua, chúng ta hãy xem “ bức tranh” toàn cảnh về TTBH
phi nhân thọ từ năm 1994 đến 2005 qua bảng số liệu dưới đây:
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu chủ yếu của TTBH PNT từ 1994 đến 2005
CHỈ TIÊU CHỦ YẾU 1994 1996 1999 2002 2003 2004 2005
Số DNBH phi Nthọ 1 6 10 13 14 14 16
Số lượng sản phẩm 20 55 83 354 386 413 502
Dthu phí BH (tỷ đ) 741 1.263 1.606 2.624 3.815 4.764 5.535
T.độ t trưởng (%năm - 26,83 7,33 21,0 45,3 24,9 16,1
ĐónggópvàoGDP (% 0,37 0,46 0,40 0,49 0,63 0,67 0,72
(Các năm từ 1994 -1996 -1999-2002: Tính tốc độ tăng trưởng bình quân bằng cách chia 3)
( Nguồn: Vụ bảo hiểm – Bộ tài Chính)
Chúng ta sẽ đi đánh giá chi tiết các chỉ tiêu trên qua các phần dưới đây.
2.2.1.1.Tăng trưởng về qui mô, năng lực tài chính, đa dạng các hình thức SH
a). Về số lượng các doanh nghiệp và năng lực tài chính

nước ngoài
5 triệu USD 6,295 triệu
USD
12 C.ty liên doanh BH Việt – Úc (BIDV-QBE) 1999 Liên doanh 4 triệu USD 5 triệu USD
13 Công ty bảo hiểm tổng hợp Groupama VN 2001 100% vốn
nước ngoài
5 triệu USD 6,2 triệu USD
14 C.ty liên doanh TNHH BH Sumsung-Vina 2002 Liên doanh 5 tr USD 5 tr USD
15 Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Châu á –
Ngân hàng công thương (IAI)
2002 Liên doanh 6 tr USD 6 tr USD
16 C.ty TNHH BH phi nhân thọ AIG ( V.Nam) 2005 100% vốn
nước ngoài
10 triệu USD 10 triệu USD
( Nguồn: Vụ Bảo hiểm – Bộ Tài Chính)
Qua bảng số liệu trên cho thấy: Không chỉ gia tăng về số lượng, các
DNBH phi nhân thọ Việt Nam còn chú trọng tăng cường về năng lực tài chính
thông qua việc tăng vốn điều lệ: Bảo Việt tăng vốn điều lệ từ 586 tỷ đồng lên
900 tỷ đồng. Mức tăng vốn điều lệ lớn nhất là Bảo Minh từ 40 tỷ đồng lên 1.100
tỷ đồng do cổ phần hóa vào năm 2003-2004. Công ty cổ phần BH Viễn Đông
mới chỉ hoạt động 2 năm cũng đã tăng vốn điều lệ từ 70 tỷ đồng lên 200 tỷ đồng
…Nhìn chung các DN sau một thời gian hoạt động đều tăng vốn điều lệ ( trừ
AAA và AIG mới thành lập 2005), một mặt để tăng cường năng lực, đứng vững
và phát triển trong cạnh tranh, một mặt đáp ứng được yêu cầu qui định của Nhà
nước về vốn pháp định theo Nghị định 43/2001/NĐ-CP ( 70 tỷ VNĐ hoặc
5.000.000 USD Mỹ) Năng lực tài chính của các DN tăng lên, góp phần quảng
bá cho thương hiệu của mình, đảm bảo cho việc mở rộng, khai thác, ký kết các
hợp đồng BH mới. Ngoài ra, nó còn giúp các DN này tăng mức phí BH giữ lại,
giảm phần tái BH. Nếu như trước năm 1993, đối các dịch vụ có tái BH, ngành
BH phải chuyển phần lớn phí BH cho các công ty tái BH ở nước ngoài, thì đến

2
1
3
2
2
3
3
2
3
3
3
1
3
3
3
1
3
3
3
2
3
3
5
2
3
4
5
2
3
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status