THỰC TRẠNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM - Pdf 69

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG
NGHỆ Ở VIỆT NAM
I. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA
1. Tình hình đầu tư đổi mới công nghệ
Trong suốt những năm qua, đặc biệt sau những năm đổi mới, đầu tư đổi
mới công nghệ đã có những tiến bộ nhất định. Đầu tư đổi mới công nghệ có dấu
hiệu gia tăng và mang lại một số kết quả nhất định trong một số ngành, lĩnh vực.
1.1. Trong công nghiệp
Trong công nghiệp nhờ ứng dụng công nghệ và đổi mới công nghệ, năng
lực và trình độ công nghệ của một số ngành kinh tế đã được cải thiện một bước,
giúp các ngành này làm chủ được công nghệ ngoại nhập, đạt trình độ công nghệ
mức trung bình của thể giới như ngành xây dựng, điện lực, điện dân dụng, lắp
ráp ô tô, dầu khí, thiết bị điện, may, xe máy, chế tạo khuôn mẫu, chế biến thuỷ
sản, xăm lốp, đồ nhựa.v.v…Đáng chú ý, những tiến độ về đổi mới công nghệ
mới chủ yếu diễn ra tại một số doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các doanh nghiệp trong khu chế
xuất, khu công nghiệp thuộc những ngành, lĩnh vực được Nhà nước chú trọng
đầu tư. Tuy nhiên, trình độ công nghệ lạc hậu của nhiều ngành đã hạn chế năng
lực cạnh tranh của sản phẩm làm ra. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 416.863 tỷ
đồng năm 2005 tăng 17,2%
5
so với vùng này, trong đó khu vực doanh nghiệp
nhà nước tăng 8,7%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 24%, khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài tăng 20,9%. Một số ngành do đổi mới công nghệ nêntốc độ tăng
trưởng rất cao như than sạch tăng 21,7%; một số sản phẩm hoá chất là phân hoá
học tăng 24,7%; một số sản phẩm điện tử, cơ khí chế tạo máy công cụ tăng
32,8%; ô tô các loại tăng 31,1% so với thực hiện năm 2004. Ngoài ra. Một số
ngành khác đang đầu tư mạnh mẽ để đổi mới công nghệ tuy nhiên kết quả còn
chưa khả quan lắm, điện sản xuất tăng 15,4%, thuỷ sản chế biến tăng 15,9%;
5
5

độ tăng thuê bao internet từ 17.000 thuê bao năm 1999 lên 250.000 năm 2002
6
6
.Nguồn: Tổng cục thống kê- Trang Web www.most.gov.vn
và tính tới tháng 8/2003 là gần 500.000 người
7
. Số người sử dụng internet vào
khoảng gần 2 triệu - với dân số Việt Nam vào thời điểm này, đạt tỷ lệ 2,51%.
Tuy nhiên tỷ lệ này còn thấp so với mức bình quân trên toàn thế giới 9,37%.
Việt Nam hiện đang xếp thứ bảy tại khu vực trong các lĩnh vực điện thoại di
động, internet, điện thoại cố định…Nhưng lại có mức tăng trưởng cũng như có
thị trường viễn thông phát triển nhanh nhất Đông Nam Á, đạt 32,5% giai đoạn
1995 - 2000. Tổng số thuê bao điện thoại cố định tại Việt Nam tính đến tháng
8/2003 đạt gần 6,4 triệu, với mức tăng hàng năm 20% - 40%. Mật độ sử dụng
điện thoại tăng từ 1 máy trên 1 người dân năm 1995 lên đến 8 máy trên 100
người dân vào năm 2004
8
. Tổng số thuê bao di động tăng nhanh vào khoảng 1,9
triệu với mật độ là 2,47 máy hoặc trên 100 người dân. Những tiến triển bộ trên
chủ yếu nhờ sự quan tâm đầu tư của nhà nước, nhờ sức ép mở cửa thị trường
bên ngoài và vị thế độc quyền đặc thù của ngành.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế và so với nước khác
trên thế giới, đầu tư đổi mới công nghệ ở Việt Nam còn thấp. Đầu tư chung
khoa học công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,45% so với GDP trong khi tỷ trọng này
tại các nước đạt khoản 1 - 2%. Trong tổng số vốn đầu tư đó, đầu tư cho đổi mới
công nghệ lại càng ít hơn.
Bảng 1: Đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ
(Theo giá thực tế)
Năm 2000 2001 2002 2003 2004
Đầu tư cho KH & CN (tỷ đồng) 1882,8 1935,5 691,5 1117,4 1300,0

81 - 95 719 1239 1958 124 119 234
1996 37 971 1008 4 58 62
1997 30 1234 1264 0 111 111
1998 25 1080 1105 5 343 348
1999 35 1107 1142 13 322 335
2000 34 1205 1239 10 620 630
2001 52 1234 1286 7 776 783
2002 69 1142 1211 9 734 743
2003 78 1072 1150 17 757 774
2004 103 1328 1431 22 676 698
2005 180 1767 1947 27 641 668
Nguồn: Cục sở hữu trí tuệ
Hàm lượng công nghệ và hàm lượng chất xám trong hàng hoá của nước
ta còn thấp, sản phẩm được làm ra chủ yếu mới dựa vào vốn và lao động. Tăng
trưởng kinh tế năm 2005 đạt 8,4% trong đó yếu tố công nghệ chỉ góp 31,2%.
Xét trên tổng thể nền kinh tế, số ngành sử dụng công nghệ cao còn rất ít
và chưa phát triển: đa số các ngành đổi mới chỉ sử dụng công nghệ trung bình
và thấp so với thể giới.
Bảng 3: So sánh trình độ công nghệ Việt Nam với các
nước trong khu vực (%)
Nước
Nhóm ngành
công nghệ thấp
(a)
Nhóm ngành công
nghệ trung bình
(b)
Nhóm ngành công
nghệ cao
(c)

tài nghiên cứu khoa học. Kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu do ngân sách nhà
nước tài trợ chưa tạo điều kiện để ứng dụng trong sản xuất và đời sống. Các
chương trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông
nghiệp hiện nay hầu như mới dừng lại ở phòng thí nghiệm, việc nhân rộng kết
quả nghiên cứu, nhất là phổ biến cho bà con nông dân, ứng dụng vào thực tế
còn rất hạn chế và khó khăn. Việc lựa chọn và quyết định đầu tư vào các chương
trình nói trên vẫn được thực hiện theo cơ chế xin - cho, dẫn đến nhiều tiêu cực
và hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Năm 2002, bộ khoa học và công nghệ
mới tổ chức chương trình tài trợ một phần cho hoạt động đổi mới công nghệ của
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với nguồn vốn hạn chế ở mức 6
tỷ đồng Việt Nam.
2.2. Đầu tư từ doanh nghiệp
Những năm gần đây, doanh nghiệp đã chú trọng nhiều hơn đến nghiên
cứu, tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật và cách thức sản xuất mới, đổi mới và
đa dạng hoá sản phẩm. Theo số liệu thống kê của cục sở hữu công nghiệp, số
lượng đơn xin đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kê mẫu mã à
thương hiệu tăng trung bình 16% giai đoạn 1990 - 2005. Nhiều sáng kiến công
nghệ được phát minh bởi những người dân bình thường, không phải nhà khoa
học và đã có những đóng góp thiết thực trong cuộc sống như: Sángkiến cải tiến
dụng cụ cắt có thành máy gặt lúa, máy nảy bắp, sáng kiến di chuyển nhà, sáng
kiến cho cá tra sinh sản nhân tạo.v.v…
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu và triển khai
đã gia tăng thông qua các hợp đồng nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Trong cơ
cấu nguồn thu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai, nguồn thu do ký hợp
đồng với doanh nghiệp đã tăng đáng kể, chiếm khoảng 40% nguồn thu ngoài
ngân sách của các viện nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên
9
.
Một số doanh nghiệp đã nổi lên như những gương điển hình trong đầu tư đổi
mới công nghệ so với yêu cầu đầu tư để nâng cao năng lực công nghệ của doanh

nghệ. Trong khi đó, thủ tục thẩm định các dự án đầu tư đổi mới công nghệ trong
doanh nghiệp Nhà nước kéo dài kiểu doanh nghiệp không mấy hào hứng trong
đổi mới công nghê. Cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước không khuyến
khích doanh nghiệp có chiến lược đầu tư dài hạn, phần nào hạn chế đầu tư đổi
m ới công nghệ trong doanh nghiệp bởi hai lý do: Thứ nhất, cơ chế hiện hành
lấy tình hình lỗ, lãi hàng năm của doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả khiến
doanh nghiệp ngại áp dụng một chiến lược đầu tư dài hạn, trong đó có đổi mới
công nghệ. Thứ hai, cơ chế tuyến và bổ nhiệm giám đốc doanh nghiệp Nhà
nước hiện hành chưa đảm bảo tính liên tục trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp dẫn đến khó có thể xây dựng một chiến lược dài hạn cho doanh
nghiệp Nhà nước qua các nhiệm kỳ giám đốc khác nhau.
Cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước và môi trường hoạt động chưa
tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ, các cách doanh nghiệp Nhà
nước thực hiện chậm. Doanh nghiệp Nhà nước còn có tư tưởng dựa vào Nhà
nước, chưa năng động, chưa thấy sự cần thiết phải đầu tư cải tiến, đổi mới công
nghệ mà chỉ tìm kiếm những cơ hội để có được lợi nhuận ngắn hạn trong khi là
ra chính doanh nghiệp phải là chủ thể quyết định đầu tư cho đổi mới công
nghệ
10
. Nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức hết những thách thức đặt ra đối với
họ trong bối cảnh hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế. Thực trạng này là hệ
quả của hàng loạt cơ chế chính sách kinh tế vĩ mô như: Chính sách thương mại
bảo hộ bất hợp lý tạo nên tính ỷ lại của doanh nghiệp, giảm áp lực đối với đổi
mới công nghệ; môi trường kinh doanh chưa bìnhđẳng giữa các thành phần kinh
tế; cơ chế bao cấp, những đặc quyền do các doanh nghiệp Nhà nước và sự bất
ổn định trong cơ chế chính sách.
b. Khu vực doanh nghiệp tư nhân
Khác với khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực doanh nghiệp tư nhân
có động cơ thúc đẩy đầu tư đổimới công nghệ mạnh mẽ hơn, không vướng phải
những yếu tố cản trở về cơ chế quản lý như đã nêu trên của doanh nghiệp Nhà

Do cán bộ đi học tập về đề xuất 33 33 %
Gợi ý của nhà cung cấp 21 21 %
Trung tâm thông tin công nghệ, tạp chí,
sách báo chuyên ngành
16 16 %
Hội chợ, triển lãm, hội nghị, hội thảo 31 31 %
Các nguồn khác 0 0 %
Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh
nghiệp công nghiệp Việt Nam - CIEM - 2005
Điều này phản ánh thực tế hiện nay, các doanh nghiệp càng ít chủ động
trong việc đề ra kế hoạch đầu tư đổi mới công nghệ một cách dài hơn mà chủ
yếu thụ động tiến hành đổi mới nhằm đáp ứng các yêu cầu nảy sinh trong quá
trình sản xuất. Việc đổi mới công nghệ phần nhiều vẫn "chạy theo" để đáp ứng
nhu cầu của thị trường về sản phẩm hơn là định hướng "đón trước" nhu cầu của
thị trường.
Theo khảo sát, được biết, ít có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng một trong
số các phương thức để tiến hành đổi mới công nghệ mà thường kết hợp giữa
một vài phương thức để có kết quả như mong muốn. Trong đó, tự tổ chức
nghiên cứu triển khai thường đi kèm với việc mua công nghệ mới nhằm nâng
cao hiệu quả ứng dụng và vận hành công nghệ.
Bảng 5: Phương thức thực hiện đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
Phương thức Tỷ lệ DN tiến hành
Tự tổ chức NC & trong trong nội bộ DN 39 %
Hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước 31 %
Hợp tác với các cơ quan khoa học nước ngoài 8 %
Bắt chước, thiết kế lại mẫu 52 %
Mua nguyên liệu từ nguồn trong nước 22 %
Mua nguyên liệu từ nguồn nước ngoài 56 %
Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp trong nước 18 %
Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài 23 %

chế: mối liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài rất yếu, đặc biệt là mối liên kết bạn hàng. Hoạt động thu hút đầu
tư nước ngoài thời gian qua vẫn nặng về chạy theo số lượng, chưa quan tâm đầy
đủ đến chất lượng và yêu cầu chuyển giao công nghệ.
Bảng 6: Năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật trong
các doanh nghiệp
Phân loại năng lực Điểm số
Năng lực vận hành công nghệ 3,6
Năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ 3,4
Năng lực hỗ trợ cho tiếp thu công nghệ 2,9
Năng lực đổi mới công nghệ 2,6
Chú thích: Điểm số 1 ứng với kém; 2 - Trung bình; 3 - Khá; 4 - tốt; 5 - rất tốt
11
11
.Báo đầu tư , số 26/12/2002, tr14
Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh
nghiệp công nghiệp Việt Nam - CIEM – 2005
2.3. Các nguồn đầu tư khác
Ngoài các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ doanh nghiệp và từ ngân sách
nhà nước, còn có các nguồn vốn ngoài xã hội khác như từ cá nhân, các tổ chức
trong và ngoài nước và các tổ chức khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, hiện nay,
các nguồn đầu tư này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn đầu tư.
Nguyên nhân chính là do các kênh huy động và hỗ trợ vốn cho đầu tư đổi mới
công nghệ chưa được khai thông và đa dạng hoá. Kênh tín dụng cho đầu tư đổi
mới công nghệ hầu như chưa được hình thành. Trong khi đó, nhiều kênh huy
động khác nhau vẫn chưa được thực thi ở Việt Nam.
Trong các nguồn vốn trên, gần đây, chỉ có nguồn đầu tư từ các tổ chức
nghiên cứu và triển khai đã bắt đầu có dấu hiệu gia tăng. Với chủ trương chính
sách của Nhà nước cho phép các tổ chức nghiên cứu và triển khai được thực
hiện sản xuất kinh doanh, nhiều tổ chức đã được trực tiếp tham gia vào quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status