Đánh giá thực trạng hoạt động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ngoài nước trong công tác XKLĐ - Pdf 69

Đánh giá thực trạng hoạt động tìm kiếm và mở
rộng thị trờng lao động ngoài nớc trong công
tác XKLĐ
I.Đánh giá công tác tìm kiếm và mở rộng thị tr ờng lao động ngoài n ớc của
Việt Nam trong thời gian qua
1. Quy mô và thị phần các thị tr ờng lao động ngoài n ớc của Việt Nam
1.1 Quy mô
Quy mô XKLĐ của Việt Nam trong thời gian qua liên tục tăng. Tính từ năm
2000 đến thời điểm cuối 2005, chúng ta đã đa đợc 326.831 lao động và chuyên
gia sang trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ ngoài nớc làm việc theo chơng trình
hợp tác quốc tế về lao động. Cụ thể nh sau :
Bảng1 : Lao động xuất khẩu qua các năm (2000-2005)
Năm Số lợng (LĐ) TH/KH (%) TH/2000 (%)
2000 31.500 105
2001 36.168 100,05 114,93
2002 46.122 115 146,42
2003 75.000 150 238,01
2004 67.447 112 214,12
2005 70.594 100,85 224,11
Tổng số 326.831
Nguồn : Số lợng lao động xuất khẩu giai đoạn 2000-2005- Phòng quản lý lao
động ngoài nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc- BLĐTB&XH, năm 2006.
Để tăng tính trực quan khi quan sát sự biến động quy mô XKLĐ của Việt
Nam theo thời gian, chúng ta sẽ xem biểu đồ sau:
Biểu đồ 1 : Số lợng lao động xuất khẩu qua các năm (2000-2005)
Đơn vị : lao động
Nguồn : Số lợng lao động xuất khẩu giai đoạn 2000-2005- Phòng quản lý lao động ngoài
nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc- BLĐTB&XH, năm 2006.
Qua biểu đồ trên ta thấy, số lợng lao động xuất khẩu qua các năm liên tục
tăng, từ 31500 ngời (2000) lên 70594 ngời (2005), tăng 2.24 lần và năm nào cũng
vợt mức kế hoạch đề ra. Đặc biệt năm 2003 chúng ta đã XKLĐ đợc 75000 ngời,

Phần trăm
(%)
Đài Loan 120515 29,08
Nhật Bản 22768 5,49
Hàn Quốc 65936 15,91
Malaisia 97634 23,56
Các nớc khác 107564 25,96
Tổng số 414417 100
Nguồn : Các thị trờng XKLĐ chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1992-2005-
Phòng quản lý lao động ngoài nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc-
BLĐTB&XH, năm 2006.
Nh vậy, đã có những sự khác nhau nhất định về thị phần các TTLĐ ngoài n-
ớc của Việt Nam, xem thêm biểu đồ dới đây:
Biểu đồ 2: Cơ cấu các thị trờng lao động ngoài nớc của Việt Nam (1992-2005)
Đơn vị : %

Nguồn : Các thị trờng XKLĐ chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1992-2005- Phòng quản
lý lao động ngoài nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc- BLĐTB&XH, năm 2006.
Có thể thấy, thị trờng tiếp nhận lao động Việt Nam nhiều nhất trong thời gian
qua chính là Đài Loan, với trên 120 ngàn lao động Việt Nam làm việc, chiếm
29,08% trong tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù vậy, thị trờng
này lại thờng tiếp nhận lao động phổ thông là chủ yếu, do đó chất lợng lao động
không cao và đơng nhiên số tiền lao động gửi về còn ở mức thấp (tính trên một
đơn vị lao động). Nếu coi lợi ích từ XKLĐ nh một chiếc bánh gốm 5 phần lớn kể
trên thì miếng bánh nhận đợc từ các nớc khác (ngoài 4 nớc kể trên) lớn đứng thứ
hai (25.96%). Tiếp đến là thị trờng lao động Malaisia, với trên 97 ngàn lao động
Việt Nam làm việc chiếm 23.56%, nhng cũng giống nh thị trờng Đài Loan, về cơ
bản đây là thị trờng tiếp nhận những lao động có chất lợng không cao nên mức l-
ơng của ngời lao động không cao so với các thị trờng Nhật Bản và Hàn Quốc hay
một số nớc khác. Thị trờng Hàn Quốc và Nhật Bản chiếm các vị trí tiếp theo trong

2005 22784 2955 12102 24605 8148
Tổng 120515 22768 65936 97634 107564
Nguồn : Các thị trờng XKLĐ chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1992-2005-
Phòng quản lý lao động ngoài nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc-
BLĐTB&XH, năm 2006.
Qua bảng trên chúng ta có thể thấy một số mốc quan trọng, đánh dấu thành
công của Việt Nam trong việc mở rộng đợc thị trờng mới (theo lãnh thổ), cụ thể :
- Thị trờng Đài Loan bắt đầu hoạt động từ năm 1997 ( đa sang 191 lao động), tuy
nhiên thị trờng này chính thức đợc chính phủ và các bộ ngành liên quan của hai
phía ký kết theo chơng trình hợp tác lao động quốc tế là tháng 11 năm 1999. Bắt
đầu chúng ta đa sang đợc 558 lao động, tới năm 2005, con số này đã lên tới 22784
lao động. Nhìn chung, từ 1999 tới nay, lao động của ta sang đó làm việc liên tục
tăng, trong đó đạt số lợng đông nhất vào năm 2004 là 37144 ngời và trong cả giai
đoạn 1992-2005 thì đây là thị trờng mà số lao động Việt Nam sang làm việc là
nhiều nhất trong số các thị trờng hiện có cùng kỳ (với 120.515 lao động). Mặc dù
vậy lao động Việt Nam ở Đài Loan thờng là lao động phổ thông, giúp việc gia
đình và phục vụ (chiếm gần 73%). Trong thời gian tới chúng ta sẽ tiếp cận với thị
trờng này trong các ngành nghề đòi hỏi chất lợng lao động cao hơn với mức thu
nhập tốt hơn.
- Thị trờng Nhật Bản bắt đầu chính thức tiếp nhận lao động Việt Nam sang
làm việc là năm 1993, với 164 ngời. Cho tới nay, tổng số lao động đã đợc đa sang
làm tại Nhật là 22768 ngời, mức lao động xuất khẩu cao nhất là 3249 vào năm
2001. Mặc dù về mặt số lợng thì đây không phải là thị trờng có nhiều lao động
Việt Nam sang làm việc, nhng đứng trên góc độ kinh tế thì đây là thị trờng lớn,
nhiều tiềm năng nhất. Bởi thu nhập của lao động làm việc tại Nhật là rất cao,
khoảng 600 - 1000 USD/ tháng, cao hơn nhiều lần so với thị trờng Đài Loan và
Malaisia, do đó lợng ngoại tệ lao động gửi về từ Nhật cũng là rất lớn. XKLĐ của
nớc ngoài vào Nhật đều thông qua hình thức tu nghiệp sinh, thị trờng này rất ít
nhận lao động phổ thông, đơn giản mà thờng là lao động có trình độ chuyên môn
và kỹ năng nghề nghiệp cao, lao động chủ yếu làm việc trong các nhà máy công

các năm. Đây là các thị trờng cũng thờng xuyên có biến động, tuy nhiên ảnh hởng
riêng lẻ của chúng không mang tính quyết định tới chiến lợc XKLĐ của Việt
Nam. Mặc dù vậy, đây đều là các thị trờng giàu tiềm năng khai thác và trong số
đó có thể nổi lên nhiều thị trờng mà trong tơng lai Việt Nam sẽ cố gắng biến
chúng trở thành các thị trờng chính của mình.
Tuy nhiên, trong thời gian qua Việt Nam cũng đã mất đi một số thị trờng
trong một số thời điểm nhất định, chẳng hạn năm 2005 Malaisia tạm dừng nhận
lao động Việt Nam trong một số lĩnh vực, bởi hiện tợng lao động của chúng ta bỏ
trốn ra ngoài quá nhiều và không kiểm soát đợc. Hay năm cuối 2004, Anh cũng
đã tạm dừng nhận lao động Việt Nam sang làm việc và nguyên nhân cũng lại xoay
quanh vấn đề lao động bỏ trốn Tất cả nguyên nhân khiến lao XKLĐ ch a đạt
hiệu quả cao nhất, thị trờng bị mất cùng các nguyên nhân của một số hạn chế
trong công tác tìm kiếm và mở rộng thị trờng lao động ngoài nớc sẽ đợc trình bày
và phân tích trong phần các nguyên nhân còn tồn tại trong công tác tìm kiếm và
mở rộng thị trờng lao động ngoài nớc dới đây.
Theo ngành nghề lao động thì mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ lại có những
nhu cầu lao động khác nhau. Chẳng hạn, ở thị trờng Đài Loan thì lao động phổ
thông chiếm đa phần và chủ yếu là lao động giúp việc gia đình hay chúng ta vẫn
thờng quen gọi họ là Ô-sin, nhng thị trờng Nhật Bản thì lại yêu cầu lao động có
chuyên môn kỹ thuật nhất định. Tuy vậy, nhìn chung chúng ta có cơ cấu lao động
theo 4 loại ngành nghề cơ bản từ năm 1992 đến tháng 8/2004 nh sau :
Bảng 4 : Lao động xuất khẩu theo ngành nghề (1992- 8/2004)
Ngành nghề Lao động xuất khẩu
Số lợng %
Công nghiệp 131.162 54,95
Phục vụ cá nhân và xã hội 70.769 29,65
Xây dựng 36.424 15,26
Nông nghiệp 354 0,14
Tổng số 238709 100
Nguồn : XKLĐ theo ngành nghề- Phòng thị trờng lao động - Cục quản lý lao

Bảng 5: Số tiền tối thiểu thực tế một lao động nhận đợc trong một năm theo
một số nghề nhất định
Đơn vị: USD
Nớc
Nghề
Nhật Bản Hàn Quốc Li Bi Đài Loan
Lao động phổ thông 4.800 4.800 2.640 3.065
Thợ nề, mộc 6.000 3.024
Thợ điện 6.000 6.000 3.042
Thợ hàn 7.200 7.800 4.800
Thợ dệt 6.000 6.000 4.800
Thợ may 6.000 6.000 4.800
Khán hộ công 3.065
Nguồn: Số liệu - Cục quản lý lao động ngoài nớc- Bộ LĐ-TB&XH, 2004
Nh vậy, chỉ sau một năm đi lao động tại nớc ngoài thì số tiền mà họ nhận
đợc cũng gấp nhiều lần so với thu nhập từ cùng việc đó trong nớc. Chẳng
hạn, ở Đài Loan sau khi lao động một năm, ít nhất ngời lao động cũng
gửi về cho gia đình đợc trên 3000 USD (khoảng 50 triệu đồng), nếu ở
Hàn Quốc thì con số này là 4800 USD (khoảng 80 tiệu đồng). Đặc biệt
với các công việc nh thợ hàn ở Hàn Quốc thì sau một năm, một lao động
có thể gửi về gia đình 120-130 triệu đồng. Đây là những số tiền rất lớn
mà nếu những lao động đó, với trình độ và tay nghề đó sẽ không bao giờ
đạt đợc ở trong nớc, thậm chí họ có tích luỹ trong vài chục năm cũng cha
chắc đã có đợc nh vậy. Để thấy rõ hơn về mức sinh lợi của XKLĐ trong
thời gian từ 2000-2004 chúng ta theo dõi bảng sau:
Bảng 6: Hệ số sinh lợi trong các ngành nghề XKLĐ (2000-2004)
Các ngành nghề
XKLĐ
Mức sinh lợi
Nông, lâm nghiệp 3,028

bằng ngoại tệ để nhập khẩu các yếu tố đầu vào và các chi phí khác). Dới
đây là tơng quan về hệ số XK ròng của XKLĐ so với một số ngành nghề
xuất khẩu khác của Việt Nam:
Bảng 7: Hệ số XK ròng của XKLĐ so với một số ngành nghề xuất khẩu khác
Đơn vị: số lần
Các ngành nghề xuất
khẩu
Hệ số XK ròng của
XKLĐ/ Hệ số XK
ròng ngành nghề khác
Công nghiệp nặng 5,6
Công nghiệp nhẹ&thủ
công nghiệp
8,4
Nông lâm sản 1,29
Thuỷ sản 3,36
Nguồn: Tạp chí - Bản tin thị trờng lao động, số 4 năm 2006
Lu ý rằng, số ngoại tệ do XKLĐ mang về chúng ta đa ra ở phần trên là
ngoại tệ thuần. Trên ý nghĩa hiệu quả vốn lu chuyển ngoại tệ (dòng tiền mang
về vợt so với dòng chi ra), có thể coi 1 USD thu đợc từ XKLĐ có ý nghĩa tơng đ-
ơng nh thu đợc 5,6 USD của hoạt động xuất khẩu hàng hoá thuộc ngành CN nặng,
hoặc 8,4 USD trong ngành CN nhẹ và thủ CN (các hoạt động xuất khẩu hàng
hoá này, để thu về 1 USD thờng phải chi ra gấp XKLĐ 5,6 lần hoặc 8,4 lần để
nhập khẩu vật t thiết bị và các chi phí khác).
Thật vậy, xét 2 hoạt động xuất khẩu là XKLĐ và xuất khẩu hàng hoá CN nặng:
giả sử để thu đợc 1 USD từ hoạt động XKLĐ cần bỏ ra tổng chi phí là x USD (x
< 1), do đó hệ số XK ròng của XKLĐ là Kxklđ = 1/x.
Do hệ số XK ròng củaXKLĐ/hệ số XK ròng của CN nặng là 5,6 lần nên hệ số XK
ròng của CN nặng là KCN nặng = 1/5,6x. Vì thế để thu đợc 1 USD từ hoạt động
xuất khẩu hàng CN nặng cần bỏ ra tổng chi phí là 5,6x USD, mặt khác nếu bỏ

Vận tải
ô tô
Số tiền
25-30 30- 35 30- 35 35- 40 40- 45 50- 55 60- 65
Nguồn : Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 2/2001
Khi chúng ta XKLĐ sang các thị trờng nớc ngoài, có nghĩa là chúng ta đã
tạo ra việc làm cho ngời lao động, đồng thời chúng ta lại tiết kiệm đợc các khoản
tiền không nhỏ để đầu t tạo việc làm mới phải bỏ ra nếu họ làm việc ở trong nớc.
Theo đó, càng XKLĐ nhiều (số lợng) thì khoản tiền chúng ta tiết kiệm đợc lại
càng lớn và chi Ngân sách càng giảm, trong khi mục tiêu giải quyết việc làm vẫn
đợc giải quyết. Để có thể lợng hoá cụ thể các con số này, chúng ta xem bảng sau:
Từ năm 1996 đến năm 2000, hàng năm XKLĐ đã tiết kiệm đợc lợng vốn đầu t
tạo chỗ làm mới nh sau:
Bảng 9: Số vốn tạo việc làm do XKLĐ qua các năm
Năm
1996 1997 1998 1999 ớc 2000 Tổng
Số LĐ đa đi (ng-
ời)
12.600 18.470 12.240 21.810 30.000 95.120
VĐTBQTT/ LĐ
(triệu đồng)
35 37 40 42 45
TSVTT tạo việc
làm tơng ứng với
số lao động đã đi
(triệu đồng)
441.000 683.390 489.600 538.020 1.350000 3.502010
Nguồn : Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 2/2001
Qua hai bảng trên cho thấy, trong 5 năm từ 1996-2000, nhờ hoạt động
XKLĐ mà chúng ta đã tiết kiệm ít nhất 3.500 tỷ đồng cho đầu t tạo việc làm mới

riêng. Cùng với tình hình an ninh, ổn định nh trong nhiều năm trở lại đây, hệ
thống luật pháp ngày càng trở nên chặt chẽ, tạo ra một hành lang pháp lý thông
thoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế, Việt Nam đã trở thành một khu vực hấp
dẫn đối với các nhà đầu t. Lợng vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp vào Việt Nam tăng
nhanh qua từng năm. Bên cạnh đó, đã có nhiều doanh nghiệp XKLĐ của Việt
Nam mạnh dạn thâm nhập thị trờng quốc tế, trong số đó, có nhiều doanh nghiệp
đã có những thành công đầu tiên trong việc khẳng định thơng hiệu của mình. Sự
phát triển của thơng mại - mậu dịch quốc tế kéo theo những dòng di c về lao
động, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động.
Quan hệ hợp tác của nớc ta với các nớc khác trong khu vực và trên
thế giới ngày càng đợc mở rộng và phát triển. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập
quan hệ ngoại giao với 169 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Thông qua các
chuyến thăm và làm việc song phơng, vấn đề hợp tác về văn hoá, kinh tế xã hội
luôn đợc đề cấp đến. Thông qua những chuyến viếng thăm và làm việc của những
ngời đứng đầu Nhà nớc, nhiều Bản ghi nhớ, Thoả thuận về hợp tác lao động đã đ-
ợc ký kết, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hợp tác về lao động. Bên cạnh
đó, việc tham gia vào các tổ chức quốc tế nh ASEAN, AFTA và tích cực tiến
hành đàm phán gia nhập WTO cũng tạo điều kiện cho Việt Nam trong việc xúc
tiến các hoạt động tìm hiểu chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiếp nhận lao
động nớc ngoài của các nớc cũng nh tranh thủ sự ủng hộ, tạo điều kiện của các tổ
chức quốc tế trong việc đa lao động sang làm việc tại các quốc gia.
Một điều kiện thuận lợi nữa đối với hoạt động xuất khẩu lao động đó
là sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Đảng, Chính phủ và sự phối hợp nhịp nhàng,
chặt chẽ của các ngành, các địa phơng trong cả nớc trong việc thực hiện xuất khẩu
lao động. Hệ thống chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động cũng nh các văn
bản hớng dẫn hoạt động xuất khẩu lao động thờng xuyên đợc điều chỉnh, hoàn
thiện và ban hành nhằm đáp ứng những thay đổi của điều kiện thị trờng. Nhà nớc
đã thành lập quỹ hỗ trợ XKLĐ và chế độ khen thởng đối với những cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp có thành tích trong công tác mở rộng thị trờng lao động ngoài
nớc (ngày 13/09/2004); thành lập hiệp hội XKLĐ Việt Nam (ngày 7/4/2004), đa

Lao động Việt Nam có u điểm là cần cù, thông minh, sáng tạo, năng động và có
khả năng tiếp thu nhanh cấc công việc khác nhau (điều này rất lợi thế trong việc
xúc tiến, đa dạng hoá thị trờng- theo ngành nghề). Đặc biệt, khi có động lực về
kinh tế thì họ có thể lao động bất kể ngày đêm và có thể hoàn thành công việc với
năng suất cao Vì vậy, không ít lao động Việt Nam đ ợc chủ sử dụng lao động nớc
ngoài đánh giá cao, bớc đầu tạo uy tín trên thị trờng lao động quốc tế, đợc nhiều
nớc chấp nhận. Đây sẽ là một lợi thế to lớn trong khi Việt Nam đàm phán, tìm
kiếm hợp đồng.
Yếu tố thứ hai, Thị trờng lao động quốc tế đang có nhu cầu lớn về sử dụng lao
động nớc ngoài với những ngành nghề phù hợp khả năng của lao động Việt
Nam.
Tại rất nhiều quốc gia hiên nay, xu thế già hoá dân số đã dẫn đến tình trạng thiếu
lao động trầm trọng, họ đang có nhu cầu khá lớn về sử dụng lao động nớc ngoài.
Đa số nhu cầu về ngành, nghề, việc làm thờng tập trung vào những lĩnh vực yêu
cầu về trình độ lao động không quá cao, phù hợp với khả năng và trình độ của lao
động nông thôn Việt Nam nh: lắp ráp điện tử, dệt, da, may mặc, lao động dịch vụ,
giúp việc gia đình, chăm sóc ngời bệnh, trồng và khai thác nông nghiệp, lâm
nghiệp hoặc những ngành nghề thuộc lĩnh vực 3D (độc hại, nguy hiểm, khó
khăn) mà lao động bản địa ít quan tâm. Tuy nhiên, ở một số quốc gia, nhu cầu
ngành nghề kỹ thuật cao hơn nh cơ khí, xây dựng, phần mềm tin học, lao động
trên biển, đánh bắt hải sản vẫn còn rất cao, chúng ta cũng có cơ hội tiếp cận nh -
ng nhìn chung thị trờng cung ứng lao động của ta cha thực sự đáp ứng đợc.
Một số nớc châu á nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaisia, Lào là những thị
trờng mà ta đã đa đi xuất khẩu sang một lợng lao động khá lớn mà vẫn đang có
khả năng tiếp nhận thêm nhiều lao động Việt Nam. Đây cũng là những nơi có
điều kiện làm việc, phong tục tập quán khá phù hợp với lao động Việt Nam, quan
hệ hợp tác giữa nớc ta với khu vực này đang phát triển tốt đẹp. Lao động Việt
Nam ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan có thu nhập cao, lao động ở Malaisia, Lào
thu nhập ổn định, tuy thấp hơn các thị trờng trên nhng so với trong nớc cũng cao
hơn nhiều lần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status