ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ NGỌC HÀ
CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên
ngành
: Luật hình sự
:603840
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Hà Nội – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học
HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về đối tượng với giới hạn
chứng minh
2.1.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng chứng minh
2.1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn chứng minh
2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về nghĩa vụ chứng minh
2.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về thu thập và đánh giá
chứng cứ
2.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về thu thập chứng cứ
2.3.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về đánh giá chứng cứ
2.4. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về nguồn chứng cứ
Kết luận chương 2
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA
3.1. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến
hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
3.1.1. Những kết quả đạt được
3.1.2. Những hạn chế
3.1.3. Nguyên nhân
3.1.3.1. Nguyên nhân từ hệ thống pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
3.1.3.2. Nguyên nhân từ phía chủ thể có trách nhiệm chứng minh
3.1.3.3. Nguyên nhân từ phía chủ thể tham gia hoạt động chứng minh
3.1.3.4. Nguyên nhân khác
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động chứng minh trong giai
đoạn điều tra
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng và chống tội phạm là một vấn đề quan trọng trong xã
hội. Mục đích của việc đấu tranh phòng và chống tội phạm chính là mục đích
của tố tụng hình sự, là “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện
chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” [36]. Do đó, chứng minh
trong tố tụng hình sự là một vấn đề phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa
mang tính thực tiễn. Việc nhận thức đúng và đầy đủ lý luận về chứng minh có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án, bảo
đảm cho hoạt động của các cơ quan THTT trong các giai đoạn điều tra, truy
tố, xét xử được khánh quan, chính xác - thể hiện rõ mục đích của tố tụng hình
sự. Bởi vì, hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự có tính quyết định
trong việc xác định sự thật khách quan của VAHS. Hoạt động chứng minh
trong VAHS cần được giải quyết một cách kiên quyết, kịp thời, có hiệu quả
như Lênin đã chỉ rõ: “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt… hoàn toàn không
phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ đã phạm tội thì không thoát khỏi
bị trừng phạt. Điều quan trọng không phải ở chỗ đã phạm tội thì phải trừng
phạt nặng, mà là ở chỗ không tội phạm nào không bị phát hiện” [29, tr.508].
Mặt khác, giai đoạn điều tra VAHS là giai đoạn để chứng minh tội
phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra, các vấn đề cần thiết khác. Kết quả điều tra là
cơ sở để VKS quyết định truy tố bị can trước TA hoặc quyết định đình chỉ vụ
án, đồng thời là cơ sở để TA xét xử đúng người, đúng tội. Mỗi tội phạm xảy ra
bao giờ cũng để lại những dấu vết nhất định trong thế giới khách quan. Đối
với một VAHS, việc áp dụng các biện pháp điều tra luôn cần thiết để thu thập,
2
2.
Tình hình nghiên cứu
Chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS là một đề tài không rộng
nhưng phức tạp, còn tồn tại nhiều cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên
cứu làm rõ. Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự ở những mức độ
và phạm vi khác nhau. Luận án Tiến sĩ Luật học “Thu thập, đánh giá và sử
dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Đỗ Văn Đương năm 2000 - Luận văn này được hoàn thiện trước khi ban hành
BLTTHS năm 2003. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học luật Hà
Nội năm 2003: “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” (Chủ nhiệm đề tài: Th.S. Bùi Kiên Điện); Luận văn
Tiến sĩ Luật học “Quá trình chứng minh trong vụ án hình sự ở nước ta” của
tác giả Nguyễn Văn Du năm 2006. Luận văn thạc sĩ luật học “Hoạt động
chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Mạc Thị Duyên
năm 2012; Khóa luận tốt nghiệp “Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình
sự” của tác giả Nguyễn Kiều Vân năm 2011...
Bên cạnh đó, các nhà khoa học và một số tác giả cũng đã quan tâm đến
một số khía cạnh nội dung này và đã đề cập trong một số giáo trình như: Giáo
trình luật tố tụng hình sự Việt Nam (Chương IV) của trường Đại học Luật Hà
Nội năm 2011, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam (chương VI, mục 6) PGS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên (Trường Đại học Huế năm 2002)…; Sách
chuyên khảo và các bài viết được đăng trên tạp chí khoa học như Tạp chí Luật
học, Tạp chí TAND, Tạp chí Kiểm sát… có một số tác giả trực tiếp hay gián
tiếp đề cập đến nguyên tắc này nhưng dưới các góc độ khác nhau. Cụ thể:
chứng minh trong giai đoạn điều tra và thực tiễn của hoạt động chứng minh
trong giai đoạn điều tra VAHS, luận văn đưa ra những kiến nghị và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan
đến hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS và nâng cao hiệu
quả của hoạt động này trong thực tế.
4
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Với mục đích đó, nhiệm vụ của luận
văn cần phải giải quyết:
Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của hoạt động
chứng
minh trong giai đoạn điều tra.
Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về hoạt
động chứng minh trong giai đoạn điều tra.
Phân tích thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng
hình
sự Việt Nam liên quan đến hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra:
những kết quả đã đạt được, những bất cập và nguyên nhân tồn tại những bất
cập đó.
4.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là một số vấn đề lý luận của hoạt
động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS nói chung, pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam hoạt động này nói riêng; thực tiễn áp dụng của hoạt động
chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS ở Việt Nam.
tội phạm.
Luận văn đã làm rõ được một số vấn đề lý luận, hệ thống những
khái
niệm liên quan đến hoạt động chứng minh và đặc điểm của nó trong giai đoạn
điều tra VAHS.
-
Luận văn đã khái quát, phân tích và làm rõ nội dung của hoạt động
chứng minh trong giai đoạn điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam,
đặc biệt là luận giải sâu sắc các vấn đề về đối tượng chứng minh, nghĩa vụ
chứng minh, chủ thể chứng minh và các giai đoạn của quá trình chứng minh;
Tiếp cận vấn đề dưới góc độ so sánh luật ở mức độ nhất định.
-
Phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện, đầy đủ về thực
trạng hoạt động chứng minh trên cả phương diện lập pháp và thực thi pháp
6
luật; Đề xuất giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự.
Vì vậy, luận án có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Trước hết, đây là một
công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý nước ta nghiên cứu một cách
đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về hoạt động chứng minh trong điều tra
VAHS ở nước ta hiện nay, góp phần phát triển lý luận về hoạt động chứng
minh trong điều tra VAHS. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai
xã hội” [62, tr.475]; chứng minh là “dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ
điều gì đó là đúng hay không đúng” [62, tr.256]. Như vậy, có thể hiểu hoạt
động chứng minh là hoạt động nhận thức, tư duy hay thực tiễn của con người
với mục đích nhất định, xác định sự tồn tại hay không tồn tại hoặc xác định
đúng, sai của một sự vật, sự việc, hiện tượng trên cơ sở những chứng cứ, căn
cứ cụ thể.
Chứng minh trong hoạt động tố tụng hình sự là một dạng của hoạt động
chứng minh nói chung. “Chứng minh tội phạm là thu thập, kiểm tra, đánh giá
chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [32,
tr.161]. Chứng minh tội phạm là công việc phức tạp, đó là việc thu thập, kiểm
tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ án. Để giải quyết đúng
đắn VAHS, các cơ quan THTT và người THTT có trách nhiệm áp dụng mọi
biện pháp để chứng minh sự thật của vụ án. Những vụ án xảy ra luôn để lại
8
những dấu vết trong thế giới khách quan, được con người và môi trường vật
chất phản ánh lại. Quá trình chứng minh VAHS thực chất là quá trình con
người nhận thức về sự kiện phạm tội đã xảy ra thông qua việc thu thập, kiểm
tra, đánh giá những thông tin về vụ án. Quá trình chứng minh là quá trình xác
định sự thật khách quan đối với VAHS, là quá trình nhận thức đi từ cái chưa
biết đến biết, một quá trình tuân theo các quy luật của phép biện chứng duy
vật. Quá trình này là một quá trình nhận thức chân lý, một quá trình phản ánh
biện chứng các sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất vào trong ý thức con
người, trên cơ sở thực tiễn.
Trong khoa học pháp lý đang tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau
xung quanh khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự. Xét về bản chất, quá
trình này tuân thủ các quy luật chung của quá trình nhận thức khách quan theo
quan điểm Mác-xít. Theo tác giả, khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự
Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Đối chất và nhận
dạng… nhằm làm rõ đối tượng chứng minh trong giai đoạn điều tra. Hoạt
động truy tố do VKS tiến hành thể hiện quyền giám sát hoạt động của CQĐT
và thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đặc trưng bởi những hành vi tố tụng
như: Nghiên cứu hồ sơ, nghiên cứu bản kết luận điều tra, viết bản cáo trạng và
truy tố bị can trước TA. Hoạt động xét xử do TA tiến hành là hoạt động mang
tính quyết định cuối cùng nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và áp dụng
các hình phạt tương ứng theo quy định của pháp luật. Hoạt động xét xử bao
gồm các hành vi tố tụng cụ thể như: Xét hỏi bị cáo, hỏi người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác, xem xét vật
chứng; Tranh luận tại phiên tòa; Nghị án; Tuyên án… Tất cả những hành vi tố
tụng cụ thể đó nhằm đến một mục đích cuối cùng và cao nhất đó là chứng
minh chân lý khách quan của VAHS. Hoạt động này cần được tiến hành theo
đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS hiện hành quy định và tuân thủ
10
một số nguyên tắc nhất định: Nguyên tắc đảm bảo pháp chế; Nguyên tắc
không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp
luật; Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án; Nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa của người bị tạm giam, bị can, bị cáo; Nguyên tắc đảm bảo tính vô tư
của người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng…
Trên cơ sở những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và
các văn bản pháp luật khác về điều tra, truy tố, xét xử và thực tiễn xét xử có
thể hiện: Quá trình chứng minh trong VAHS là quá trình mà các cơ quan
THTT, người THTT thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về VAHS. Việc
nhận thức về VAHS là việc phản ánh một cách khách quan toàn bộ diễn biến
về vụ án, hay nói cách khác là tái dựng lại được một bức tranh toàn cảnh,
là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ
án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [32]. Là một yếu tố của quá
trình chứng minh, hoạt động điều tra được xem như là một hoạt động nhận
thức nếu nhìn từ góc độ của lý luận phản ánh. Trước hết, tội phạm được phản
ánh vào môi trường xung quanh thông qua các dấu vết, hình ảnh của nó để lại
trên các đối tượng vật chất, trong trí nhớ của những người tham gia tố tụng
trong tương lai.
Chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS là quá trình chứng minh
trong VAHS bắt đầu từ khi vụ án được khởi tố và kết thúc khi cơ quan có
thẩm quyền có bản kết luận điều tra về VAHS, thể hiện sự đánh giá, kết luận
mang tính pháp lý đầu tiên về sự thật khách quan của vụ án. Giai đoạn này là
giai đoạn khởi đầu của quá trình chứng minh làm tiền đề cho các giai đoạn
tiếp theo. Trong giai đoạn này, CQĐT, VKS có quyền sử dụng các biện pháp
điều tra, các nguồn chứng cứ khác nhau để chứng minh. Để điều tra vụ án,
Điều tra viên, Kiểm sát viên phải đưa nhiều giả thiết khác nhau và mỗi giả
thiết đều phải được chứng minh để loại trừ hay xác định để đưa đến kết luận
về vụ án. Để chứng minh, CQĐT, VKS phải sử dụng mọi chứng cứ thu thập
12
được trong vụ án, không loại trừ chứng cứ nào để chứng minh cho các giả
thiết điều tra đặt ra.
Cũng như các giai đoạn khác của quá trình tố tụng hình sự, hoạt động
chứng minh ở giai đoạn điều tra được hiểu là hoạt động nhận thức về sự kiện
phạm tội đã xảy ra trong quá khứ thông qua việc nghiên cứu những thông tin
về sự kiện đó được để lại trong thế giới vật chất và ý thức của những người
biết về sự kiện đó. Chính từ giai đoạn chứng minh này, giá trị chứng minh các
thông tin được khẳng định là cơ sở cho việc giải quyết vụ án được hình thành,
đầy đủ. Giai đoạn điều tra là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự.
hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là các chủ thể có trách nhiệm
chứng minh do pháp luật tố tụng hình sự quy định tùy từng quốc gia với từng
mô hình tố tụng khác nhau. Các chủ thể chứng minh trong giai đoạn điều tra
là người nắm vững pháp luật, có kiến thức về nghiệp vụ chuyên sâu về công
tác pháp luật, sử dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến để phát hiện
và điều tra được tội phạm. Chủ thể chứng minh ở giai đoạn điều tra bao gồm
Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc cán bộ được phân công làm công tác điều
tra của các cơ quan khác như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực
lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Người
tham gia tố tụng cũng tham gia vào hoạt động chứng minh do các chủ thể
chứng minh THTT yêu cầu nhưng họ không phải chủ thể chứng minh.
Thứ hai: Thời hạn điều tra. Các CQĐT tiến hành các hoạt động thu
thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ bằng thời hạn điều tra vụ án như: Từ khi
khởi tố vụ án cho đến kến kết thúc điều tra, đối với tội phạm ít nghiêm trọng
không quá hai tháng; Đối với tội nghiêm trọng không quá ba tháng; Đối với
tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng không quá bốn tháng. Trong
14
một số trường hợp do tính chất phức tạp của vụ án thì có thể được gia hạn
điều tra: Đối với tội ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần
không quá hai tháng; Đối với tội nghiêm trọng có thể gia hạn hai lần, lần thứ
nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng; Đối với tội phạm
rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn
tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba
lần mỗi lần không quá bốn tháng.
Thứ ba: Các phương tiện điều tra. Các CQĐT có thể sử dụng trong quá
trình chứng minh tội phạm ở giai đoạn này là các phương tiện kỹ thuật hình
Thứ năm: Nội dung của hoạt động chứng minh. Là một phần chứng
minh VAHS, hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS cũng bao
gồm các hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Để tái hiện lại sự
kiện phạm tội đã xảy ra trước đây một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ,
làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án thì Điều tra viên, Kiểm sát viên phải áp
dụng những biện pháp khác nhau mà pháp luật cho phép nhằm thu thập, kiểm
tra, đánh giá các thông tin mà sự kiện này để lại trong thế giới khách quan
dưới hai hình thức phản ánh trong ý thức của con người và trong môi trường
vật chất [20, tr.12].
Trong quá trình chứng minh VAHS, các chủ thể chứng minh cần xác
định đối tượng chứng minh và xác định được giới hạn chứng minh. Tính toàn
diện của hoạt động chứng minh phụ thuộc vào việc xác định đối tượng chứng
minh, tính đầy đủ của hoạt động chứng minh lại do việc xác định giới hạn
chứng minh quyết định. Chỉ có khi nào cơ quan THTT thu thập đầy đủ chứng
cứ để có thể đưa ra kết luận về việc tồn tại hay không tồn tại của các yếu tố
thuộc đối tượng chứng minh thì mới có thể có nhận thức đầy đủ và toàn diện
về sự thật khách quan của vụ án và trên cơ sở đó đưa ra quyết định giải quyết
đúng đắn VAHS. Vấn đề này ở giai đoạn điều tra VAHS cần được xem xét kỹ
lưỡng. Bởi lẽ, từ đó mà CQĐT, VKS tiến hành các hoạt động phù hợp đáp
16
ứng yêu cầu của quá trình giải quyết vụ án. Để giải quyết vấn đề này, trong
từng vụ án cụ thể, Điều tra viên và các chủ thể chứng minh phải dựa vào các
quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, niềm tin nội tâm và ý thức
pháp luật để quyết định cần thu thập, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu những
chứng cứ để làm rõ từng tình tiết và toàn bộ các tình tiết thuộc đối tượng
chứng minh của vụ án đó.
Như vậy, đặc điểm dễ nhận thấy của hoạt động chứng minh trong giai