thực trạng của thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của việt nam - Pdf 69

thực trạng của thị trờng xuất khẩu các mặt hàng
chủ lực của việt nam
I. đặc điểm của thị trờng xuất khẩu các mặt hàng
chủ lực của Việt nam
1. Về cơ hội
Thành quả 15 năm đổi mới nền kinh tế đã đa thế và lực của nớc ta
lên một tầm cao mới. Trong xu thế toàn cầu hoá khu vực hoá thành một xu
hớng tất yếu thúc đẩy hầu hết các quốc gia mở rộng thị trờng bằng cách
giảm bớt, thậm chí xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan; chuyển dịch
một cách thông thoáng hàng hoá, vốn đầu t, tiền tệ, dịch vụ, lao động giữa
các quốc gia với quy mô ngày càng lớn; hình thành vô số tổ chức kinh tế, tài
chính mang tính toàn cầu và khu vực; ký kết hàng vạn hiệp định song phơng
đa phơng, hàng trăm công ớc kinh tế quốc tế, phát triển nhiều tập đoàn
xuyên quốc gia...Khu vực hoá tập hợp những quốc gia trong từng khu vực
với những mục đích đa dạng, hình thức phong phú. Khu vực hoá góp phần
thúc đẩy tự do hoá thơng mại, đầu t, dịch vụ trong phạm vi khu vực cũng nh
giữa các khu vực, tao lập những khu vực rộng lớn với một chính sách tài
chính tiền tệ, công nghệ, thị trờng thống nhất, giúp cho các quốc gia thành
viên tiết kiệm chi phí, tạo mối trờng kinh doanh có hiệu quả, tạo lợi thế
trong hợp tác cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Việt Nam cũng không nằm
trong xu thế đó, ta đã có quan hệ kinh tế với hơn 130 nớc trên thế giới và
nhiều tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế. Hàng hoá Việt Nam đã có mặt tại tất
cả các nớc lớn nh: Mỹ, EU, Nhật Bản và các trung tâm kinh tế lớn. Một số
ngành sản xuất phát triễn với tốc độ cao, tạo đợc khối lợng lớn về sản phẩm
hàng hoá chất lợng cao, ổn định, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị tr-
ờng quốc tế. Cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu ngày càng đợc
thông thoáng, tạo môi trờng pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt
động.
Thành tựu to lớn về đối ngoại của nớc ta và những diễn biến trên thị tr-
ờng thế giới đã đặt nớc ta nhiều thuận lợi mới để mở rộng hơn nữa kinh tế
đối ngoại làm cho nền kinh tế đối ngoại trở thành đòn bẩy quan trọng góp

cho kinh tế đối ngoại nói chung và xuất khẩu nói riêng trỏ thành đòn bẩy để
thúc đẩy nhanh sự tăng trởng kinh tế. Về tình hình chính trị xã hội của n-
ớc ta ổn định, sự cải tiến liên tục tình hình kinh tế, pháp luật, chính sách
thông thoáng đó là những nhân tố tạo niềm tin và hấp dẫn với các đối tác n-
ớc ngoài.
2. Về khó khăn và thách thức
Mặc dù thành quả của 15 năm đổi mới đã làm cho bộ mặt kinh tế nớc tá
khác xa hơn trớc. Nhng chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế rằng nớc
ta là một nớc kém phát triễn. Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt hậu về
kinh tế ngày càng xa so với các nớc trong khu vực và trên thế giới do phát
triễn của nớc tá quá thấp, lại phải đối phó cạnh trnah gay gắt trên thị trờng
quốc tế. Không hội nhập thị trờng đợc; nhng hội nhập với nền kinh tế thế
giới, nền kinh tế của nớc ta lại không tránh khỏi phải chịu ảnh hởng của xu
thế tự do hoá thơng mại, của biến động giá cả quốc tế và lãi suất ngân
hàng, của tình hình cung cầu và vốn đầu t, của nhu cầu đa dạng của thị trờng
nớc ngoài trong khi bố trí cơ cấu kinh tế...
Về hàng xuất khẩu caủa Việt Nam nói chung và cũng nh hàng xuất
khẩu chủ lực của nớc ta đang đứng trớc một sự cạnh tranh gay gắt với các
khu vực nh: Thái Lan, Indonesia, Philíppin, Malaysia...Đặc biệt là Trung
Quốc vừu trở thành viên chính thức của tổ chức Thơng mại thế giới WTO đủ
tạo ra một lợi thế rất lớn cho hàng Trung Quốc cạnh tranh chiếm thị phần
các thị trờng trên thế giới. Việc Trung Quốc gia nhập WTO là một cản trở rất
lớn cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập thị trờng thế giới. Bởi vì những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nh: may mặc, da dày, hàng nông sản,
thủ công mỹ nghệ... cũng là thế mạnh của Trung Quốc.
Mỹ và phơng tây tiếp tục thực hiện mu toán diễn biến hoà bình ở Việt
Nam, gây áp lực với ta về vấn đề dân chủ, nhân quyền, đa nguyên đa
đảng. Chính sách hai mặt của Trung Quốc đối với Việt Nam cha hề thay đổi;
hành động lấn chiếm lãnh thổ của ta, đặc biệt là trên biển, đặt ta trong tình
trạng luôn luôn phải cảnh giác. Đối phó với sức uy hiếp ngày càng tăng,

theo phơng án khai thác dầu thô. Vì vậy, việc tìm ra các mặt hàng mới để
thay thế là một thách thức lớn đối với việc gia tăng xuất khẩu.
3.2. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản
Hiện nay nhóm hàng này chiếm gần 25% kim ngạch xuất khẩu với
những mặt hàng chủ yếu là gạo, cà phê, cao su, rau quả, thuỷ sản, hạt tiêu,
và nhân điều, tất cả đều đạt kim ngạch trên 100 triệu USD/năm. Nhóm hàng
này có xu hớng tăng kim ngạch tuyệt đối nhng tỷ trọng tuyệt đối của nhóm
sẽ giảm xuống còn 22%(tơng đơng 5,85 tỷ USD) vào năm 2005 và 17,2%(t-
ơng đơng 8-8.6 tỷ USD) vào năm 2010. Nguyên nhân là do xuất khẩu nông
nghiệp phải chịu những hạn chế mang tính cơ cấu(nh diện tích có hạn, khả
năng khai thác và đánh bắt có hạn). Bên cạnh đó nhu cầu của thế giới cũng
có hạn, giá cả lại không ổn định.
Theo Bộ Thơng Mại hạt nhân tăng trởng của nhóm sẽ là mặt hàng thuỷ
sản bởi tiềm năng khai thác và nuôi trồng còn nhiều, nhu cầu thế giới lại
tăng khá ổn định, bình quân tăng mỗi năm trên 13%. Thị trờng xuất khẩu
chính của mặt hàng này là Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc...
Đối với mặt hàng gạo, do nhu cầu thế giới tơng đối ổn định, khoảng 20
triệu tấn/ năm, nhiều nớc nhập khẩu chú trọng vào an ninh lơng thực, thâm
canh tăng năng suất cây trồng, gia tăng bảo hộ, giảm nhập khẩu. Trong hoàn
cảnh đó, dự kiến suốt thời kỳ 2001-2010 nhiều lắm ta cũng có thể xuất khẩu
đợc khoange 4-4,5 triệu tấn/năm, thu về mỗi năm khoảng 1 tỷ USD. Để nâng
cao kim ngạch, cần đầu t cải tiến cơ cấu và chất lợng gạo xuất khẩu; khai
thác các thị trờng mới nh: Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ, ổn định và duy
trì thị trờng truyền thống nh Indonesia, Philippin.. thông qua các hợp đồng
G-to-G, nghiên cứu khả năng phối hợp với Thái Lan để điều tiết nguồn cung,
ổn định giá cả thị trờng tăng hiệu quả xuất khẩu gạo.
Đối với hàng cà phê, thị trờng xuất khẩu chính vẫn là EU, Hoa Kỳ,
Singapore và Nhật Bản. Nói chung, xuất khẩu cà phê sẽ không gặp khó khăn
lớn về thị trờng nhng giá cả khó ổn định.
Nhìn chung, để nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản đạt đợc giá trị kim

khu vực này, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1998 gần nh đã kết
thúc với sự phục hồi kinh tế ở các nớc Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Thái
Lan... Trong số các nớc bị ảnh hởng nghiêm trong nhất của cuộc khủng
hoảng, Hàn Quốc đã dẫn đầu qua tình trạng phục hồi với mức tăng GDP
9%(1999) so với 6%(1998), Singapore có mức tăng 5%(1999) so với mức
âm 0,2%(1998), Hồng Kông tăng 0,7%(1999) so với âm 4,7%(1998),
Indonesia tăng 2%(1999) so với mức âm 7,5%(1998), Thái Lan tăng
4%(1999) so với mức âm 8%(1998), Malaysia tăng 3%(1999) so với mức
âm(1998), Philippin tăng 2,9%(1999) so với mức âm 0,2%(1998). Các nớc
Nam á nh ấn Độ, Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trởng ổn định. Đây là điều
kiện rất thuận lợi để giao lu hàng hoá của Việt Nam vào khu vực Châu á-
Thái Bình Dơng tăng rất nhanh. Dự kiến đến năm 2005 xuất khẩu của Việt
Nam vào khu vực Châu á-Thái Bình Dơng tiếp tục tăng 10-12%/năm, nhng
từ năm 2006-2010 sẽ còn 8%/năm. Với tốc độ tăng trởng nh dự báo thì đầu
năm 2003 khu vực này chiếm khoảng 60% thị trờng xuất khẩu của cả nớc và
đến năm 2010 thì còn khoảng 30%.
Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang khu vực này vẫn là
những mặt hàng truyền thống nh: dầu thô, gạo, hạt điều, cà phê, cao su, hải
sản, rau quả tơi... Đặc biệt là các sản phẩm gia súc, gia cầm, hoa quả nhiệt
đới, rau củ, dầu thô, khi đốt, điện năng có khả năng tăng mạnh trong thời
gian tới.
Sản lợng một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam có thể xuất khẩu vào
các nớc Châu á-Thái Bìn Dơng là:
Dầu thô 10 triệu tấn/năm
Than đá 4 triệu tấn/năm
Gạo 1,5 triệu tấn/năm
Cao su 200.000 tấn/năm
Cà phê 100.000tấn/năm
Chè 50.000 tấn/năm
Hạt tiêu 50.000 tấn/năm

sang các nớc ASEAN nhng đồng thời nó cũng đặt ra một thách thức rất lớn
về sự cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trong nớc và trong khu vực
ASEAN.
1.1.2. Thị tr ờng Nhật Bản
Từ năm 1986 đến nay, lợng hàng Việt Nam nhập khẩu của Nhật Bản đã
tăng 3-4 lân trong khi lợng hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản lại tăng
từ 13-14 lần. Vậy mà, suốt từ năm 1988 đến nay Nhật Bản luôn là nớc xuất
siêu. Sau Indonesia, Việt Nam là nớc đang phát triễn tại Châu á luôn xuất
siêu sang Nhật Bản, trờng hợp này rất hiếm. Nhật Bản đợc đánh giá là bạn
hàng lớn nhất trong 8 bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong những năm
qua(8 bạnn hàng này chiếm 89% kim ngạch xuất khẩu và trên 80% kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam; đó là: Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông,
SNG, Pháp, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan). Nếu lấy mốc năm 1985 là
năm cuối cùng trớc khi đổi mới từ năm 1986 đến nay để so sánh với năm
1997, là một năm mà quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng
giữa hai nớc còn cha chịu tác động tiêu cực trực tiếp của cuộc khủng hoảng
tài chính- tiền tệ Châu á trong 2 năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng kinh
tế kéo dài của chính Nhật Bản từ đầu thập niện 90 đến nay thì kim ngạch
buôn bán hai chiều Việt-Nhật năm 1997 đã tăng 19,9 lần so với con số tơng
ứng của năm 1985. Tốc độ tăng trởng thơng mại bình quân giữa hai nớc là
30%; trong đó tăng trởng xuất khẩu là 33,2% và nhập khẩu là 38,9%, đều
tăng nhanh hơn nhiều so với tốc đọ tăng trởng xuất khẩu chung của ngoại th-
ơng Việt Nam kể cả Xuất khẩu và nhập khẩu.
Trong 3 năm gần đây, 1997-1999, đặc biệt là hai năm 1997-1998 kinh
tế Nhật Bản vốn cha thoát khỏi suy thoái kéo dài từ thập niên 90, lại đã gặp
khó khăn nghiêm trọng do sự tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài
chính Châu á. Tình hình suy thoái kinh tế nặng nề đã tác động đến chi tiêu
và đầu t của ngời Nhật, làm ảnh hởng xấu đến quan hệ thơng mại, đặc biệt là
nhập khẩu của Nhật Bản đối với các nớc khác; trong đó có Việt Nam. Thế
nhng, vợt lên trên mọi khó khăn, các cơ quan xúc tiến phát triễn thơng mại

tiêu dùng của ngời Nhật đối với hàng hoá tiêu dùng của Việt Nam sẽ ngày
càng gia tăng hơn, nếu họ quen sử dụng, còn các hàng hóa tiêu dùng cho sản
xuất của Việt Nam vẫn xuất sang Nhật nh: dầu thô, than đá, sắt thép... thì
thực tiễn đã cho thấy đó là những hàng hoá nguyên vật liệu thiết yếu dùng
cho sản xuất công nghiệp mà nền kinh tế Nhật Bản luôn luôn cần tới. Năm
1998 có thể nói nền kinh tế của Nhật Bản đang chạm tới đáy của sự suy
thoái, với tốc độ tăng trởng 18%, đạt kỹ lục cha từng có từ 5 thập niên gần
đây, song quan hệ thơng mại của nớc ta khi đó Nhật vẫn là thị trờng tiêu thụ
chủ yếu, chiếm tới 60-70% tổng doanh thu xuất khẩu các sản phẩm dầu thô,
than đá và hàng may mặc thuỷ sản của ta.
Mặc dù quan hệ thơng mại Việt-Nhật đã có sự phát triễn liên tục, khả
quan nh vậy song nghiêm túc thừa nhận, so với tiềm năng thực có vẫn còn
hạn chế. Cụ thể là, nếu tính đến thời điểm năm 1997 , năm mà hoạt động
buôn bán giữa hai nớc đã đợc ghi nhận là phát triễn khả quan nhất, ta thấy
kim ngạch xuất nhập khẩu Việt-Nhật đã chiếm 0,46% trong tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của Nhật Bản. Nếu so sánh tơng quan giữa thơng mại giữa
các nớc trong khu vực với Nhật Bản thì con số tỷ trọng đó là nhất nhỏ bé.
Theo số liệu của Quỷ tiền tệ Quốc tế(IMF) tỷ trọng kim ngạch xuất nhập
khẩu của các nớc ASEAN trong tổng kim ngạch ngoại thơng của Nhật Bản
là: Thái Lan là 3,7%, Malaysia là 4,5%, Indonesia là 5,2%...
Tơng tự trên, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng đều hàng
năm với mức bình quân khá cao là 20% kể từ năm 1990 đến nay, trong đó
tăng cao nhất là 25% trong năm 1999, song đến nay Việt Nam vẫn là một
bạn hàng xuất khẩu nhỏ bé của Nhật Bản. Năm 1998 khoảng 0,5%, trong khi
tỷ trọng của Trung Quốc là cao nhất: 13,2%, Singapore là: 2,9%, Malaysia
là: 2,7%, Thái Lan là: 2,6%, Indonesia là: 2,3% và thấp nhất là Philippin
cũng đạt tới 1,7%, còn cao hơn Việt Nam 3,4 lần.
Vậy để hàng hoá của Việt Nam thâm nhập vào thị trờng Nhật Bản tơng
xứng với tiềm năng của hai nớc thì:
-Trớc hết, đó là vấn đề về chất lợng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam

hợp đồng lớn, hoặc các hợp đồng đột xuất ngoài kế hoạch dự kiến của phía
ta nhng phía Nhật lạ có nhu cầu.
Tóm lại, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản trong những năm qua
đã phát triễn khả quan hơn trớc nhiều song vẫn cha thực sự xứng với tiềm
năng và nhu cầu phát triễn của mỗi nớc. Cần phải có những giải pháp đồng
bộ để phát huy lợi thế so sánh của nớc ta.
1.2. Thị trờng EU
Chính sách thơng mại Việt Nam-EU có nhiều chuyển biến tích cực. Bắt
đầu từ tháng 11/1990 quan hệ Việt Nam và cộng đồng Châu Âu đã đợc bình
thờng hoá. Tháng 12/1993 Việt Nam đã ký hiệp định buôn bán hàng dệt may
với EU. Với hiệp định này hàg dệt may xuất sang EU tằng từ 130 triệu USD
năm 1992 lên 294 triệu USD năm 1993. Ngày 17/7/1995, tại Brussel đã ký
hiệp định hợp tác giữa cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và EU, trong đó
EU dành cho Việt Nam quy chế tối huệ quốc(MFN) và quy chế u đãi thuế
quan phổ cập(GSP). Hiệp định này tạo cơ sở pháp lý quan tropng là nền tảng
cho việc thcs đẩy quan hệ Việt Nam-EU trên nhiều lĩnh vực nh: kinh tế, th-
ơng mại, đầu t, khoa học kỹ thuật, giáo dục...
Chính cơ sở pháp lý trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam khai
tác các lới thế so sánh để xuất khẩu sang EU, nhất là hàng dệt may và dày
dép. Từ chổ hầu nh bị cấm vận, nhóm hàng này của Việt Nam xuất khẩu
sang EU năm 2000 đạt gần 700 triệu USD.Riêng mặt hàng dày dép ,từ 1995
đến nat đợc xuất khẩu tự do sang EU .
Đến năm 1991 tông kim nghạch xuất nhập khẩu giữa hai bên mới là
392 triệu USD (Trong đó Niệt Nam xuất 193 triệu USD , nhập 200 triệu
USD)thi đến năm 1999 thi con số này là 3.9 tỹ USD tâng gâp 10 lần( trong
đó Việt nam xuất gần 2,9 tỹ USD , nhập 1 tỷ USD )tỷ lệ hàng chế biến ngày
càng tăng .
Đến nay cả Việt nam và EU đều xem nhau là đối tác quan trọng. Trong
các quốc gia EU, Đức là bạn hàng thứ 4 của Việt Nam, Anh là nớc thức 9,
Pháp và Hà Lan đứng thứ 12 và 13. Mới đây EU công nhận Việt Nam áp

Nam hiện nay, điều quan trọng là phải nghiên cứu xem họ có nhu cầu gì,
nhu cầu đến đâu và bảo hoà cha, đây chính là bí quyết trong cuộc cạnh tranh
với các nớc khác để mở rộng xuất khẩu sang thi trờng EU.
Bên canh những thuận lợi lớn thì xuất khẩu những mặt hàng chủ lực của
Việt Nam vẫn còn những trở ngại khó khăn:
Thứ nhất là những hạn chế bởi hạn ngạch nhập khẩu mà cụ thể là đối
với hàng dệt may của Việt Nam. Mặc dù khối lợng hàng dệt may đã tăng lên
nhiều so với trớc nhng còn thấp so với khả năng cung cấp của Việt Nam và
nhu cầu mua hàng của các nhà nhập khẩu EU.
Thứ hai là hàng rào thuế quan của EU đối với một số mặt hàng nông
sản của Việt Nam có thể xuất sang EU lại rất cao. Chẳng hạn nh thuế nhập
khẩu gạo lên trên 100%, đờng gần 200%(mặc dù đã đợc giảm thuế theo
GSP), trong khi một số lợng lớn hàng của nhiều nớc khác đợc giảm nhiều
hơn hoặc đợc miễn thuế do đợc hởng các u đãi thơng mại riêng. Hàng hoá
Việt Nam xuất sang EU khó cạnh tranh đợc với các hàng hoá của các vùng
Châu Phi, Thái Bình Dơng, Caribe, cũng nh một số nớc Đông Âu do các nớc
này đợc hởng các u đãi thơng mại theo công ớc Lomé hoặc các hiệp định ký
kết.
Thứ ba là theo quy định của EU, nớc xuất khẩu phải có kế hoạch và
thiết bị đầy đủ để giám sát dự lợng độc tố trong nhóm hàng noong sản và
thực phẩm. Do cơ quan chức năng của Việt Nam cha đáp ứng đợc yêu cầu
trên nên từ trớc đến nay nhiều mặt hàng nông sản thực phẩm, nh thịt chẳng
hạn, cha xuất đợc sang EU. Ngoài ra, một trở ngại rất quan trọng là các
doanh nghiệp Việt Nam châ lập đợc quan hệ đối tác trực tiếp với nhà nhập
khẩu mà phần lớn hàng Việt Nam phải xuất qua trung gian và dới dạng gia
công(theo ớc tính, hiện nay từ 10-45% tổng giá trị giày dép và quần áo của
Việt Nam xuất khẩu sng EU là qua trung gian).
1.3. Thi trờng Mỹ
Đây là nớc nhập khẩu hàng lớn nhất thế giới, mỗi năm nhập khẩu 1000
tỷ USD hàng hoá, với nhu cầu đa dạng, nắm bắt những đỉnh cao về công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status