ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
̃
́
NGUYÊN ANH TUÂN
GI¸M §ÞNH T¦ PH¸P §èI VíI C¸C TéI PH¹M VÒ THAM
NHòNG TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Vô ¸N H×NH Sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
̃
́
NGUYÊN ANH TUÂN
GI¸M §ÞNH T¦ PH¸P §èI VíI C¸C TéI PH¹M VÒ THAM
NHòNG TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Vô ¸N H×NH Sù
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.1.4.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
VỚI CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ.............................................................. 7
Khái quát về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự........................... 7
Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự.................................... 7
Phân loại Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự.................................. 11
Vai trò, ý nghĩa của Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự....................15
Đối tượng, nội dung và thủ tục giám định tư pháp trong tố tụng hình sự...23
Khái niệm, đặc điểm giám định tư pháp đối với các tội phạm
tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự..........................26
Khái niệm.................................................................................................. 26
Đặc điểm.................................................................................................... 29
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG
GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM
NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ.....34
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.3.
3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.
3.3.4.
3.3.5.
3.3.6.
3.3.7.
Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về
tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự..........................79
Cơ sở và yêu cầu về mặt lập pháp.............................................................. 79
Cơ sở và yêu cầu về mặt thực tiễn............................................................. 80
Hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp đối với các tội phạm
về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.....................81
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự......................................................... 81
Hoàn thiện về luật giám định tư pháp........................................................ 84
Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp
đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự............................................................................................ 86
Tăng cường sự lãnh đạo, kiểm tra, hướng dẫn và giải quyết những
vướng mắc đối với công tác giám định tư pháp trong quá trình giải
quyết các vụ án tham nhũng...................................................................... 86
Nâng cao nhận thức và năng lực của các chủ thể về giám định tư
pháp trong tố tụng hình sự......................................................................... 88
Số hiệu
Bảng 2.1.
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, tình hình tội phạm tham nhũng có diễn biến phức tạp trên
mọi lĩnh vực, xảy ra ở nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau, tập trung chủ yếu trên một
số lĩnh vực trọng điểm như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý tài sản công, tài chính,
ngân hàng, quản lý sử dụng đất… Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng nhiệm vụ
đấu tranh phòng, chống tham nhũng và sớm ban hành các Nghị quyết; Luật phòng,
chống tham nhũng; Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS… nên đã tạo được chuyển biến
tích cực trong đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt được
yêu cầu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, thể hiện ở số lượng tài
sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, lãng phí, thất thoát đặc biệt nghiêm trọng vẫn xảy
ra. Việc phát hiện, khởi tố, điều tra để xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng gặp
nhiều khó khăn trong quá trình xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
tham nhũng, đặc biệt là khó khăn trong giám định tư pháp trong quá trình giải quyết
các vụ án về tham nhũng như: thời gian giám định dài; kinh phí chi trả giám định
quá lớn; một số cơ quan được trưng cầu giám định từ chối né tránh; không quy định
công tác giám định đối với từng tội danh cụ thể; không quy định thời gian cử Giám
định viên; không quy định rõ trách nhiệm của Giám định viên; trình độ chuyên môn
của một số giám định viên chưa đáp ứng được yêu cầu, kết luận giám định không
chính xác, phải giám định nhiều lần… là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thời gian
giải quyết một số vụ án bị kéo dài, thậm chí không xử lý được.
Việc xác định thiệt hại về tài sản trong một số vụ án tham nhũng bắt buộc
phải tiến hành trưng cầu giám định về tài chính kế toán, giám định kỹ thuật, giám
Đối với các vụ án tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản, Viện kiểm sát,
Tòa án thường cho rằng, phải có quyết toán công trình thì kết luận giám định mới có
giá trị pháp lý, trong khi đó các công trình xây dựng cơ bản trong án tham nhũng thì
thường đã và đang thi công trong nhiều năm và không biết khi nào mới quyết toán
công trình được, mà thời hạn điều tra thì có hạn. Vì thế, mặc dù nhiều công trình
xây dựng đã có dấu hiệu rút ruột công trình, hành vi sai phạm rất rõ ràng như: lập
chứng từ giả mạo, tiền đã xuất ra khỏi quỹ, bị chiếm đoạt… nhưng các cơ quan truy
tố, xét xử vẫn cho rằng đó là khoản tiền tạm ứng,
2
chưa quyết toán công trình thì chưa cấu thành tội phạm. Đây chính là nguyên nhân
mà có rất ít các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được khởi tố,
truy tố, xét xử trong thời gian vừa qua.
Những hạn chế, vướng mắc nêu trên cần được khắc phục, nên học viên lựa
chọn đề tài: “Giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự” làm luận văn thạc sỹ luật học đáp ứng yêu cầu lý
luận và thực tiễn của giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở
Việt Nam thời gian qua, vấn đề giám định tư pháp trong quá trình giải
quyết các vụ án đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, ban, ngành;
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
giám định tư pháp”; cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn liên quan đến hoạt động giám định tư pháp với nhiều công trình như:
-
Qua nghiên cứu các công trình khoa học, báo cáo tổng kết các cuộc họp, hội
thảo… có thể thấy ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả có những góc độ và
cách tiếp cận khác nhau, chỉ ra những khó khăn vướng mắc trong hoạt động giám
định tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung, vụ án về tham
nhũng nói riêng; đi sâu phân tích thực trạng, chỉ ra một số nguyên nhân và giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu,
toàn diện về lý luận, thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định
tư pháp đối với tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tiếp tục hoàn thiện lý luận; đánh giá thực trạng, chỉ rõ những tồn
tại, hạn chế, thiếu sót và các nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó để đưa ra
các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm
về tham nhũng trong để giải quyết triệt để vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
-
Tiếp tục hoàn thiện lý luận về hoạt động giám định tư pháp đối với các tội
phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trên cơ sở nghiên cứu
các văn bản pháp luật, các tài liệu lý luận và khái quát về thực tiễn hoạt động giám
định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng.
-
5.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời dựa trên các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh, phòng
chống tội phạm.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như:
-
Phương pháp tổng hợp, phân tích;
-
Phương pháp thống kê hình sự;
-
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;
-
Phương pháp đối chiếu, so sánh;
-
Phương pháp khảo sát điển hình;
6.
CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự
Thuật ngữ giám định có nguồn gốc chữ La tinh là “Expertis”, có nghĩa là
xem xét, tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra, làm rõ, chứng minh, kết luận... Đó là quá
trình các chủ thể dùng các kiến thức chuyên môn về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật
và những kinh nghiệm thực tiễn để nghiên cứu, xét nghiệm, so sánh và kết luận về
một người, vật thể, sự việc, hiện tượng... giúp cho cơ quan, cá nhân trưng cầu, yêu
cầu giám định có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề đặt ra trên cơ sở khoa
học. Giám định có nhiều lĩnh vực như: giám định pháp y, giám định pháp y tâm
thần, giám định kỹ thuật hình sự, giám định văn hóa, giám định tài chính- kế toán,
giám định xây dựng... Trong mỗi lĩnh vực giám định lại được chia ra thành nhiều
các chuyên ngành giám định cụ thể.
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “giám định” là “việc xem xét và kết luận
về một sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [34,
tr.389, 1071]. Từ điển Bách Khoa Việt Nam cũng có cách định nghĩa tương tự về
nghĩa của từ giám định trong ngành luật là “kiểm tra và kết luận về một hiện tượng
hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [36, tr.1211].
Theo quy định của pháp luật, GĐTP là hoạt động bổ trợ tư pháp phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành
chính. Trong lĩnh vực tư pháp, khái niệm giám định tư pháp lần đầu tiên được đề
cập trong Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là
Chính phủ), theo đó nêu:
Giám định tư pháp là sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học
kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến
7
8
của người sống có ý nghĩa đối với vụ án, do người có hiểu biết chuyên môn tiến
hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra bằng quyết định trưng cầu giám định. Khái
niệm này đã cụ thể hóa các hoạt động giám định trong tố tụng hình sự nhưng phạm
vi
sự
chủ thể của khái niệm này quá hẹp vì giám định tư pháp trong tố tụng hình
không chỉ được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra mà còn theo yêu cầu
của những Cơ quan tiến hành tố tụng khác (Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển…)
Quan điểm thứ hai cho rằng: trong tố tụng hình sự giám định là việc
nghiên cứu, phân tích, xét nghiệm do các nhà khoa học, kĩ thuật và chuyên môn
khác tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án về
những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự (Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp
lý 2011). So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này phù hợp hơn với các quy định
của BLTTHS năm 2003 xét về mặt chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định. Tuy
nhiên khái niệm này cũng chưa bao quát hết nội hàm các quy định của pháp luật tố
tụng về chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định cũng như những nội dung khác
liên quan đến Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự.
Có thể nhận thấy, GĐTP trong tố tụng hình sự là hoạt động xuất hiện trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. GĐTP chỉ được tiến hành trong
những trường hợp và theo trình tự do BLTTHS quy định. Nói cách khác, hoạt động
giám định tư pháp nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự theo trình tự do
BLTTHS quy định thì mới là GĐTP trong tố tụng hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự quy định GĐTP là một biện pháp điều tra, thu thập
Điều 65 quy định về thu thập chứng cứ trong đó xác định rõ để thu thập
chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền tiến hành một trong các
biện pháp là Trưng cầu Giám định.
-
Điều 73 quy định về Kết luận giám định, trong đó xác định rõ quyền của
người giám định được đưa ra kết luận về vấn đề được giám định, trách nhiệm, thủ
tục khi đưa ra kết luận về vấn đề được giám định; trách nhiệm, thủ tục đối với Cơ
quan tiến hành tố tụng trong trương hợp không đồng ý với kết luận giám định.
-
Tại Điều 155 quy định về Trưng cầu giám định trong đó xác định rõ chủ
thể có quyền ra quyết định trưng cầu giám định là Cơ quan tiến hành tố tụng, quy
định về các nội dung trong Quyết định trưng cầu giám định và các trường hợp bắt
buộc phải trưng cầu giám định.
-
Điều 156 quy định về việc tiến hành giám định, trong đó có các quy định về
địa điểm tiến hành giám định, các chủ thể khác có thể tham dự việc giám định bên
cạnh giám định viên và thu tục trong trường hợp giám định không thể tiến hành
đúng thời hạn mà cơ quan trưng cầu giám định yêu cầu.
định.
Điều 157 quy định về các vấn đề có liên quan đến nội dung kết luận giám
Từ những phân tích trên, có thể khái quát “Giám định tư pháp trong tố tụng
1.1.2.2. Căn cứ vào tình huống và kết quả giám định: giám định lần đầu,
giám định bổ sung, giám định lại
Giám định lần đầu là việc tiến hành giám định lần đầu tiên đối với một vấn
đề nào đó của vụ án cần được làm rõ theo quyết định TCGĐ của CQTHTT.
Giám định bổ sung là giám định tiếp theo lần giám định trước nhằm bổ sung,
làm rõ thêm KLGĐ trước đó hoặc khi phát sinh những vấn đề mới liên quan đến các
tình tiết đã được kết luận trước đó. Ngoài ra, giám định bổ sung còn được trưng cầu
trong trường hợp khi ra quyết định TCGĐ lần trước đó, CQTHTT không đưa ra hết
những câu hỏi đối với giám định viên. Giám định bổ sung có thể do người tiến hành
giám định trước đó tiến hành hoặc do người giám định khác tiến hành.
Giám định lại là việc giám định được tiến hành theo yêu cầu của CQTHTT
11
trong trường hợp có căn cứ xác thực nghi ngờ KLGĐ không đảm bảo tính khách
quan hoặc có mâu thuẫn trong các KLGĐ về cùng một vấn đề cần giám định.
Nội dung giám định lại là toàn bộ những yêu cầu giám định lần trước và
người giám định trước đó không được tiến hành việc giám định lại mà phải do
người giám định khác tiến hành.
1.1.2.3. Căn cứ vào số lượng, thành phần người tham gia giám định: giám
định cá nhân, giám định tập thể
Giám định cá nhân là việc giám định do một người tiến hành độc lập giải
quyết toàn bộ yêu cầu giám định theo quyết định trưng cầu của CQTHTT.
Giám định tập thể là việc nhiều người cùng một lĩnh vực chuyên môn hoặc ở
nhiều lĩnh vực chuyên môn cùng tiến hành giám định một vấn đề nào đó.
Giám định tập thể được CQTHTT trưng cầu trong trường hợp sau:
+ Yêu cầu giám định đòi hỏi nhiều người giám định ở các lĩnh vực chuyên
môn khác nhau giải quyết.
+
sự kiện chết người, thương tích... theo văn bản trưng cầu của CQTHTT nhằm phục
vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Giám định pháp y tâm thần: là một bộ phận của tâm thần học, phát triển cùng
với sự phát triển chung của ngành tâm thần học. Giám định pháp y tâm thần là việc
sử dụng kiến thức trong lĩnh vực y học tâm thần để xem xét những vấn đề có liên
quan đến cá nhân như vấn đề về sức khỏe tâm thần, xác định chính xác những đối
tượng bị nghi rối loạn tâm thần có bị bệnh tâm thần hay không, mức độ nặng nhẹ, từ
đó xác định năng lực trách nhiệm hành vi phạm pháp.
Mục đích của giám định pháp y tâm thần nhằm giám định tình trạng sức
khỏe- sức khỏe tâm thần của bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng. Giám
định khả năng chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự dựa trên 2 tiêu chuẩn:
+
Tiêu chuẩn y học: đó là vấn đề chuẩn đoán bệnh (họ bị bệnh gì? mức độ
nặng, nhẹ?)
+
Tiêu chuẩn pháp luật: xem xét khả năng nhận thức hành vi (có, hạn chế hay
mất khả năng nhận thức), xem xét khả năng kiềm chế hành vi. Nên đối tượng của giám
định pháp y tâm thần là trạng thái tâm thần và hồ sơ tài liệu của con người.
Giám định kỹ thuật hình sự: là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp
khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn trong khoa học hình sự để xác định hoặc
truy nguyên các hiện tượng vật chất như con người, sự vật, hiện tượng… có liên
quan đến vụ án hình sự.
Hoạt động giám định trong lĩnh vực này thực hiện các nhiệm vụ truy nguyên
nhằm làm sáng tỏ một vụ việc có tính hình sự với mục đích xác định và chứng minh
sự đồng nhất của các hiện tượng vật chất đang có liên quan đến vụ việc với những
trình cầu đường, giám định tính chất an toàn giao thông, giám định chất lượng
phương tiện giao thông, giám định chất lượng cây xanh trồng trên hè phố…
Giám định tài chính: việc người có chuyên môn về tài chính, kế toán sử
dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên ngành và
những quy định của pháp luật có liên quan để xem xét, đánh giá các chứng từ, tài
liệu liên quan đến hoạt động tài chính, kế toán của các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp.
14
Giám định tài chính nhằm phục vụ cho việc xem xét, phân tích, đánh giá tính
đúng đắn của việc chấp hành pháp luật của Nhà nước về tài chính, kế toán. Trong
trường hợp không đúng pháp luật của Nhà nước thì có gây ra thiệt hại gì về kinh tế
không? Thiệt hại ở mức độ như thế nào? Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận về
chuyên môn theo yêu cầu của CQTHTT, phục vụ đắc lực cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ.
Định giá tài sản trong tố tụng hình sự: là việc xác định giá trị tài sản bị xâm
phạm bởi hành vi phạm tội. Trong BLHS có rất nhiều tội danh quy định yếu tố giá
trị tài sản bị xâm phạm (hư hỏng, hủy hoại, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái
phép, nâng khống giá trị,…) là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội
phạm. Vì vậy, việc xác định giá trị tài sản bị xâm phạm có ý nghĩa quan trọng và
mang tính chất bắt buộc để xác định hành vi xâm phạm về tài sản có phải là tội
phạm hay không? Bên cạnh đó, việc định giá tài sản còn là căn cứ để xác định
khung hình phạt, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi
lượng hình và xác định mức bồi thường cho người bị thiệt hại.
Hiện nay, BLTTHS hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc định giá tài sản.
Việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự hiện nay được thực hiện chủ yếu theo quy
định tại Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ. Nghị định này quy
căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không
khởi tố vụ án hình sự (Điều 63 BLTTHS 2003).
Trong quá trình giải quyết vụ án, khi chưa xác định được dấu hiệu tội phạm thì
mọi việc tiến hành các hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn,
đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm đều có thể dẫn đến oan sai, vi phạm quyền
dân chủ của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào pháp luật. Vì vậy việc xác
định dấu hiệu tội phạm là một nhiệm vụ quan trọng của CQTHTT, đó là cơ sở để cơ
quan có thẩm quyền ra quyết định trong quá trình THTT. Theo điều 100 BLTTHS 2003
“chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”. Như vậy, dấu
hiệu tội phạm chính là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
Trong nhiều trường hợp việc xác định dấu hiệu tội phạm đòi hỏi phải có sự
đánh giá khách quan, khoa học từ những nhà chuyên môn có kiến thức nghiệp vụ và
kinh nghiệm. GĐTP là một trong những công cụ hữu hiệu được CQTHTT sử dụng
để hỗ trợ xác định có hay không có tội phạm.
KLGĐ sẽ chỉ ra nguyên nhân, nguồn gốc của sự việc, giải thích những hiện
tượng đã xảy trong thực tế như: KLGĐ về nguyên nhân chết người, nguyên nhân
cháy, thiệt hại tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân… Đây là cơ sở để CQTHTT
16
xác định vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không, từ đó đưa ra những quyết
định tố tụng chính xác, khách quan nhằm bảo đảm quyền con người, quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân.
Góp phần xác định người phạm tội: Trong hoạt động tố tụng hình sự, mục
đích cuối cùng là xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên
việc chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội là một quá trình hết sức khó
khăn, đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp trong đó có Trưng cầu giám định. Thông
qua việc giám định giúp các CQTHTT phát hiện dấu vết của tội phạm, hậu quả,
hiểm của hành vi phạm tội. Tội phạm mà chúng thực hiện càng nghiêm trọng, nguy
hiểm bao nhiêu thì công cụ, phương tiện phạm tội càng được chuẩn bị kỹ lưỡng và
thủ đoạn phạm tội càng tinh vi xảo quyệt bấy nhiêu. Phương tiện phạm tội là những
đối tượng được chủ thể của tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của
mình. Công cụ phạm tội là dạng cụ thể của phương tiện phạm tội ví dụ như dao để
đâm, kéo để cắt, súng, cuốc, chúng có thể là bất cứ vật gì, có khi được chuẩn bị
trước mà cũng có khi chúng được tận dụng tại hiện trường.
GĐTP là công cụ sắc bén giúp CQĐT xác định công cụ phạm tội là vật gì.
Đặc điểm, hình dáng, kích thước, chức năng, vật tìm được tại hiện trường có phải là
công cụ gây án hay không. Bởi mỗi loại công cụ, phương tiện phạm tội khác nhau
đều để lại dấu vết khác nhau trên vật tác động hoặc tại hiện trường.
Xác định công cụ, phương tiện phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc
định tội, định khung hình phạt bởi một số tội phạm phương tiện phạm tội bắt buộc
phải được thực hiện bằng phương tiện nhất định như điều 289 BLHS quy định
phương tiện phạm tội là những giá trị vật chất. Tính chất của phương tiện phạm tội
trong một số trường hợp có thể làm thay đổi một cách đáng kể mức độ tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ví dụ như hành vi cướp tài sản bằng cách
dùng vũ khí để đe dọa người bị tấn công, hoặc dùng chất cháy,chất nổ để hủy hoại
tài sản của người khác. Đây là những phương tiện mang tính hủy hoại hàng loạt,
nhanh chóng gây hậu quả nguy hại cho đối tượng bị tác động.
Phương pháp, thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện hành vi phạm tội,
trong đó có cách thức sử dụng phương tiện. Tính chất của thủ đoạn phạm tội luôn là
yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vì vậy nó được coi là
tình tiết cần được xem xét khi định tội danh, định khung hình phạt, xác định tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ TNHS.
Tóm lại, công cụ, phương tiện và phương thức, thủ đoạn phạm tội phản ánh tính
chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do đó, công việc tìm ra chúng có ý nghĩa rất lớn,
giúp cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết vụ án một cách thấu tình đạt lý nhất.
18