C¬ së lý luËn vµ thùc tiÔCơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường” - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH HU

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với
các tội phạm về môi trờng

LUN VN THC S LUT HC


HÀ NỘI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH HU

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với
các tội phạm về môi trờng
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Thỏi Phỳc



Cấu thành tội phạm

PLHS:

Pháp luật hình sự

TNDS:

Trách nhiệm dân sự

TNHC:

Trách nhiệm hành chính

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

TPMT:

Tội phạm môi trường

TTHS:

Tố tụng hình sự


MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cuộc sống của con người gắn liền với môi trường, môi trường có ảnh

Khoáng sản, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng…, và các
văn bản hướng dẫn thi hành đã tiếp tục quy định cụ thể về hoạt động bảo vệ
môi trường. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009) đã giành một Chương (Chương XVII) quy định các tội phạm về môi
trường. Có thể nói với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) là chế tài nghiêm khắc nhất hiện nay để xử lý vi phạm về môi
trường, góp phần tích cực trong công cuộc bảo vệ môi trường, bảo đảm quyền
được sống trong môi trường trong lành của con người.
Mặc dù, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
về bảo vệ môi trường luôn được khẳng định, song, trong những năm gần đây,
ý thức coi thường pháp luật của một bộ phận không nhỏ các tổ chức, cá nhân
vì lợi ích kinh tế dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ngày
càng diễn ra với tần suất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, diễn biến
phức tạp, khó lường, với thủ đoạn tinh vi nhằm che dấu và đối phó với các cơ
quan chức năng, gây bất bình trong dư luận và xã hội, trong đó nổi bật là vi
phạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Vedan xả nước thải trực tiếp xuống
sông Thị Vải (Đồng Nai), Công ty sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin xả
chất thải rắn (hạt nic) độc hại không qua xử lý ra môi trường ở Khánh Hòa,
nhà máy Miwon (Việt Trì - Phú Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông
Hồng, hành vi xả nước thải độc hại ra sông Đông Điền (huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh) của công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công
ty nhập chất thải phế liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng,…
Riêng trong 06 tháng đầu năm 2013, lực lượng Cảnh sát phòng chống
tội phạm về môi trường đã phát hiện 6.347 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê tình hình xét xử tội phạm về môi

8


trường trên toàn quốc trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2012 (số liệu do
Vụ Thống kế tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao cung cấp) thì trong 12 năm từ

hình sự.
Sau năm 1956 cho đến nay, pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử ở
nước ta vẫn chưa thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân, tổ chức,
đơn vị. Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân được các thành viên Ban
Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1985 nghiên cứu và chế
định này đã được đưa vào Điều 2 của Bản Dự thảo lần thứ X (tháng 3 năm
1998), tuy nhiên đến Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi lần thứ XI (tháng
10/1998), vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân được tạm gác lại vì Quốc
hội cho rằng hiện nay, vấn đề này đối với nước ta vẫn còn mới, còn có nhiều ý
kiến khác nhau, cần được nghiên cứu kỹ và chỉ đặt ra khi có đủ điều kiện.
Trong khoảng thời gian sau 1986 đến nay, nhất là hai thập niên gần đây,
đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp (pháp nhân)
vì chạy theo lợi nhuận đã bất chấp sự an toàn, tính mạng, sức khỏe của cộng
đồng thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng đặc biệt là
trong các lĩnh vực môi trường, ngân hàng, chứng khoán,… mà chưa có cơ sở
để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, các nhà lập pháp đã có nhiều
công trình nghiên cứu, bài viết, bình luận về vấn đề trách nhiệm hình sự của
pháp nhân, trong đó phải kể đến là các công trình, nghiên cứu của các nhà
khoa học luật hình sự hàng đầu của nước ta như: GS. TSKH Lê Cảm “Trách
nhiệm hình sự của pháp nhân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, PGS. TS
Trịnh Quốc Toản “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình
sự”, PGS.TS. Trần Văn Độ - Tòa án Quân sự Trung ương: “Cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức, pháp
nhân trong Luật hình sự Việt Nam”, PGS. TS. Phạm Hồng Hải: “Pháp nhân
có thể là chủ thể của tội phạm hay không”,… Các công trình nghiên cứu nêu

10



Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát nội dung các công trình nghiên
cứu, sách chuyên khảo, các bài báo khoa học,... đã được công bố ở Việt Nam
trong thời gian qua, đặc biệt là kể từ khi Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các
Bộ, ngành khác, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước
thực hiện tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành cho thấy sự
cần thiết phải có sự nhìn nhận một cách thấu đáo vấn đề trách nhiệm hình sự
của pháp nhân.
Tuy nhiên, những năm gần đây chưa có luận văn, luận án nào đi sâu
nghiên cứu chi tiết, cụ thể toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy
định vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi
trường. Hơn nữa, trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm nói
chung và tội phạm về môi trường nói riêng thì những kết quả nghiên cứu đã
đạt được vẫn cần phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện. Do vậy, để góp phần
khẳng định sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân,
học viên lựa chọn “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm
hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường” để làm luận
văn thạc sĩ luật học là phù hợp với thực tế yêu cầu về xây dựng và hoàn
thiện pháp luật hình sự hiện nay.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm
hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam dưới góc nhìn so sánh với
pháp luật hình sự một số nước; những hạn chế, bất cập trong việc xử lý vi
phạm pháp luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường ở Việt Nam, từ đó
đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả
xử lý hình sự đối với các tội phạm về môi trường.
1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

12




cơ quan bảo vệ pháp luật. Số liệu thống kê phục vụ cho việc nghiên cứu, so
sánh, đối chiếu trong đề tài được viện dẫn từ các báo cáo tổng kết của Bộ Tài
nguyên và Môi trường; Bộ Tư pháp; báo cáo công tác của Cục Cảnh sát
phòng chống tội phạm môi trường, Bộ Công an; báo cáo của Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao; báo cáo của Toà án nhân dân tối cao và một số báo cáo
chuyên đề về môi trường.
Phạm vi về thời gian: trong khoảng thời gian 15 năm (từ năm 2000 đến
năm 2015).
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, học viên dựa trên cơ sở
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu
tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác, học viên sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, cụ thể là: phương pháp tổng hợp,
phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích,
phương pháp so sánh, phương pháp kế thừa…
Trong các phương pháp nêu trên, học viên lựa chọn phương pháp phân
tích, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh là những phương pháp chủ
đạo nhằm làm rõ lý luận và thực tiễn của việc quy định vấn đề trách nhiệm
hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường.
1.7. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Những điểm mới của luận văn có thể được khái quát như sau:
- Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm hình
sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường.
- Thứ hai, đánh giá tổng quan thực tiễn thi hành Chương XVII. Các tội
phạm về môi trường của Bộ luật Hình sự hiện hành, những tồn tại, bất cập

14



Chương 2: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự
một số nước.
Chương 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật
hình sự Việt Nam với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

16


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN
1.1. Lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong khoa học luật hình sự, các nhà hình sự học vẫn còn có nhiều ý
kiến khác nhau về khái niệm TNHS.Trong khoa học luật hình sự của Liên xô
cũ và Liên bang Nga hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về TNHS, trong
đó nổi bật là các quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: TNHS là nghĩa vụ của người phạm tội: phải chịu
hình phạt và được thể hiện trong việc tước bỏ có tính chất cá nhân hoặc tính
chất tài sản đối với người đó vì tội phạm đã được thực hiện; phải chịu biện
pháp tác động về mặt pháp lý hình sự bao gồm những việc tước bỏ, đau đớn
mà pháp luật quy định đối với người đó; phải chịu các hạn chế về quyền lợi
theo trình tự đã được pháp luật quy định, đồng thời bị kết án và chịu hình phạt
xuất phát từ trình tự tố tụng; phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước
[13-tr.26]. Theo quan điểm này nhấn mạnh về hậu quả của TNHS, theo đó
người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với
hành vi phạm tội của người đó.
Quan điểm thứ hai: TNHS là sự thực hiện có tính chất cưỡng chế
những sự tước bỏ nhất định được các cơ quan đấu tranh chống tội phạm
nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội

nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [13-tr30].
Quan điểm thứ ba: TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao
gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động tuy cứu TNHS, chịu bị kết

18


tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và
chịu mang án tích [13-tr30].
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau về TNHS như quan điểm của PGS.TSKH Lê Cảm khẳng định:
“TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng
việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước do Luật hình sự quy định” [12]. Theo quan điểm này thì TNHS là
hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, nếu không có sự việc phạm tội
thì không đặt ra TNHS. TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng một hoặc
nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối với
người phạm tội; PGS.TS Lê Thị Sơn cho rằng: “TNHS là trách nhiệm của
người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của
mình. TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự
tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng
chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [77].
Theo quan điểm này thì TNHS là trách nhiệm mà người thực hiện hành vi
phạm tôi phải chịu những hậu quả bất lợi bị truy cứu TNHS, chịu bị kết tội,
chịu biện pháp cưỡng chế và chịu mang án tích.
Theo quan điểm có tính truyền thống, phổ biến, có tính chung nhất
trong khoa học luật hình sự Việt Nam thì khái niệm TNHS được hiểu là hậu
quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự

Thứ ba, TNHS được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi cơ quan tư
pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự
quy định, cụ thể:
- Không phải bất kỳ cơ quan Nhà nước nào cũng được phép quy TNHS
cho một công dân, mà chỉ có cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền gồm cơ

20


quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án mới có thẩm quyền quy định TNHS
cho một công dân.
- Thẩm quyền quy định TNHS phải theo một trình tự đặc biệt do pháp
luật TTHS quy định. Tùy từng giai đoạn cụ thể của quá trình TTHS mà cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền theo luật định xác định TNHS của công dân bị
coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm.
Thứ tư, TNHS chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Các quyết định
của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình TTHS chỉ là các văn
bản áp dụng các biện pháp cưỡng chế về mặt TNHS nhằm bảo đảm cho việc
thực hiện TNHS sau này mà chưa phải là các văn bản mà trong đó TNHS
được thực hiện. Một người chỉ bị coi là tội phạm khi có bản án kết tội của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng đối với
người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật
hình sự quy định.
Thứ năm, TNHS chỉ mang tính chất cá nhân, hiện nay, pháp luật hình
sự nước ta mới chỉ quy định TNHS đối với cá nhân mà chưa quy định TNHS
đối với pháp nhân.
Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan điểm cho rằng các đặc điểm của
TNHS gồm các đặc điểm sau đây:

Mặc dù vẫn còn tồn tại quan điểm khác nhau về các đặc điểm của
TNHS nhưng có một đặc điểm chung quan trọng mà cả hai luồng quan điểm
đều thừa nhận đó là TNHS chỉ được áp dụng đối với cá nhân, bởi lẽ hiện nay,
pháp luật hình sự Việt Nam mới chỉ quy định TNHS của cá nhân mà chưa
thừa nhận TNHS của pháp nhân.
1.1.2. Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự
1.1.2.1. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

22


Việc nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở của TNHS là rất quan trọng, phải
dựa trên ba phương diện: khách quan, hình thức và pháp lý của TNHS.
Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 thì cơ sở của TNHS
là: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải
chịu trách nhiệm hình sự” [5].Việc quy định cơ sở của TNHS của Bộ luật
hình sự năm 1999 dựa trên các yếu tố chính sau đây: lỗi, mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội,… Lỗi là một trong những
điều kiện của TNHS và là mặt chủ quan của tội phạm. Người phạm tội thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã bị luật hình sự cấm với lỗi cố ý hoặc vô ý; cơ
sở của TNHS là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy
định, dựa vào đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra vấn đề TNHS
đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm; cơ
sở pháp lý của TNHS là hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ các dấu hiệu
của CTTP cụ thể tương ứng được ghi trong pháp luật hình sự.
1.1.2.2. Điều kiện của trách nhiệm hình sự
Điều kiện của TNHS là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và
do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng thì một
người mới phải chịu TNHS. Chỉ người nào có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu
TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật

về môi trường diễn ra trong những năm gần đây đã hủy hoại nhiều công
trình và giết chết hàng vạn người. Do vậy, việc quy định TNHS đối với các
tội phạm về môi trường là công cụ bảo vệ của xã hội để bảo đảm sự sống
của con người.
Thứ hai: Các cơ sở truy cứu TNHS và thực hiện TNHS phải được
pháp luật hình sự quy định. Các tội phạm về môi trường chỉ là một loại,
một nhóm các tội phạm được Bộ luật hình sự nước ta quy định. Do vậy,
khái niệm mô tả nhóm tội phạm đó phải được hình thành và xây dựng trên

24


cơ sở cân nhắc các điểm đặc thù của các hành vi có hại về mặt xã hội và
môi trường và đặc điểm chung của tội phạm với tư cách là hành vi bị
trừng trị bằng biện pháp hình sự.
Từ những điểm vừa phân tích trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa về
TNHS đối với các tội phạm về môi trường như sau: TNHS đối với các tội
phạm về môi trường là hậu quả pháp lý bất lợi do luật định mà một người
phải gánh chịu vì đã thực hiện hành vi tội phạm xâm phạm đến các quan hệ
xã hội có liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên
thiên nhiên và việc bảo đảm an ninh môi trường thể hiện trong các biện pháp
mang tính cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng theo trình tự do luật định [1].
Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "chỉ người nào phạm một
tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS" [5].
Sở dĩ người phạm tội phải chịu TNHS trước Nhà nước, vì họ đã có điều
kiện tự do lựa chọn khi hành động phạm tội. Nói cách khác, họ đã có lỗi khi
chọn hành động đi ngược lại với lợi ích xã hội. Để kết luận hành vi đã được
thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm không và tội đó là tội gì, hình
phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó đã thỏa mãn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status