Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Nhận thức chung đốI với Tội pham về môi trường và một số vấn đề liên quan" potx - Pdf 20

Nhận thức chung đốI với Tội pham về môi trường
và một số vấn đề liên quan

TRẦN LÊ HỒNG
Tiến sĩ, Giảng viên khoa Luật Trường ĐH An Ninh
1. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG
Bảo vệ môi trường được nhận thức từ rất lâu trên thế
giới, song vấn đề này được tập trung giải quyết cả ở
tầm quốc gia và quốc tế chủ yếu trong nửa sau thế kỷ
XX. Những hậu quả của việc tàn phá môi trường ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tự nhiên, xã hội và con
người, đặc biệt phải kể đến nạn sa mạc hóa; ô nhiễm
đất, nước và không khí; hiệu ứng nhà kính v.vẹấu
tranh với những hành vi tàn phá môi trường chưa thu
được hiệu quả cao, cùng với tính chất đặc biệt nguy
hiểm cho xã hội, đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế
bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn. Trong giới hạn
của quốc gia, một trong những mắt xích chủ yếu của
cơ chế này là chính sách hình sự đối với những hành
vi xâm hại môi trường.
Phần lớn các nước trên thế giới đều có những quy
định cụ thể đối với tội phạm về môi trường. Nhiều
nước thể hiện quyết tâm đấu tranh với loại tội phạm
này thông qua những hình phạt hết sức nghiêm khắc.
Cộng hòa các tiểu Vương quốc Ả Rập, khi coi bảo vệ
môi trường là yếu tố chung của quốc gia cho sự phát
triển thịnh vượng của đất nước, mới thông qua Bộ
luật về bảo vệ môi trường với hơn 100 điều quy định
cụ thể các hình phạt đối với hành vi làm ô nhiễm
nguồn nước, đất, gây thiệt hại cho khu bảo tồn. Đặc
biệt, hình phạt cao nhất đối với tội phạm về môi

Nền tảng của chính sách hình sự về bảo vệ môi
trường của Việt Nam đã được ghi nhận cụ thể trong
Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp đã khẳng định việc
bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng của mọi
người và toàn xã hội: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ
trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân
phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên
và huỷ hoại môi trường” (Đ.29).
Chính sách hình sự về bảo vệ môi trường của Việt
Nam được cụ thể hóa thông qua việc xây dựng những
tội phạm về môi trường cụ thể. Chương XVII BLHS
1999 quy định đối với 10 tội phạm về môi trường: tội
gây ô nhiễm không khí (Đ.182), tội gây ô nhiễm
nguồn nước (Đ.183), tội gây ô nhiễm đất (Đ.184), tội
nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải
hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi
trường (Đ.185), tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm
cho người (Đ.186), tội làm lây lan dịch bệnh nguy
hiểm cho động vật, thực vật (Đ.187), tội huỷ hoại
nguồn lợi thuỷ sản (Đ.188), tội huỷ hoại rừng
(Đ.189), tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật
hoang dã quý hiếm (Đ.190), tội vi phạm chế độ bảo
vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Đ.191).
Những hành vi cấu thành tội phạm quy định trong
Chương XVII BLHS là những hành vi xâm hại đến
môi trường có tính nguy hiểm xã hội cao. Điều này
có nghĩa là, không phải tất cả những hành vi xâm hại
đến môi trường đều được quy định trong BLHS.

hết sức quan trọng của tội phạm nói chung, tội phạm
về môi trường nói riêng, mà được tất cả các nhà luật
học công nhận: “tội phạm là hành vi vi phạm pháp
luật hình sự”. Cũng chính vì lý do này nên khái niệm
sẽ chưa hoàn toàn chính xác. Không có ai nghi ngờ
“Hành vi nguy hiểm cho xã hội” là đặc trưng chung
của các hành vi vi phạm pháp luật như: vi phạm hành
chính, tội phạm, vi phạm kỷ luật .v.v., vậy khái niệm
nêu trên có thể bao gồm cả những hành vi vi phạm
pháp luật hành chính trong lĩnh vực môi trường.
- Thứ hai, khái niệm trên có thể gây sự hiểu nhầm
giữa đối tượng và khách thể của tội phạm. Khách thể
của tội phạm là những quan hệ xã hội và lợi ích xã
hội bị xâm hại và được chỉ ra rất rõ ràng trong Đ.1
BLHS 1999: “Chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm
chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào
các dân tộc, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, tổ chức, trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa”. Đối tượng của tội phạm là những vật của
thế giới khách quan mà hành vi phạm tội trực tiếp tác
động đến. Trên cơ sở phân tích này, có thể khẳng
định “sự bền vững và ổn định của môi trường” là đối
tượng chung của các tội phạm về môi trường và việc
đưa đối tượng này vào khái niệm là chưa hoàn toàn
xác đáng vì có thể dẫn tới đồng nhất với khách thể
“các quan hệ xã hội về quản lý và bảo vệ môi
trường”.
Khái niệm tội phạm về môi trường cũng đã được đưa
vào giáo trình giảng dạy. Giáo trình của trường ĐH
Luật Hà Nội cho rằng: “Các tội phạm về môi trường

- Ngoài ra, khái niệm kể trên chưa chỉ rõ khách thể bị
xâm hại. Có thể nói rằng, một trong những đặc trưng
cơ bản nhất của tội phạm cụ thể chính là khách thể
giúp phân biệt với các tội phạm khác. Ngay khái
niệm chung về tội phạm tại Đ.8 BLHS Việt Nam
cũng liệt kê những khách thể mà tội phạm theo Luật
Hình sự Việt Nam xâm hại đến. Trong quá trình xây
dựng khái niệm một loại tội phạm cụ thể, để đặc
trưng loại tội phạm này, đồng thời xác định giới hạn,
cần chỉ rõ khách thể chính.
Việc xây dựng khái niệm tội phạm về môi trường
phức tạp còn do cấu trúc của chế định pháp luật hình
sự về bảo vệ môi trường không trùng khớp với hình
thức biểu hiện trong BLHS. Hệ thống các tội phạm
về môi trường theo nghĩa thuần tuý trong BLHS
không hề tồn tại. Nhận định này được minh chứng
bằng việc những tội phạm khác, tuy không nằm trong
chương tội phạm về môi trường, nhưng một phần
cũng hướng tới việc sử dụng hợp lý và bảo vệ môi
trường. Ví dụ như: Tội vi phạm các quy định về
nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Đ.172),
Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Đ.173),
Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Đ.174),
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
(Đ.175), Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng
(Đ.176), được đưa vào Chương XVI “Các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế”. Tuy nhiên, việc sắp xếp
như nêu trên trong BLHS về cơ bản cũng hợp lý vì
khách thể chính của các tội phạm (từ Đ.172 đến
Đ.176) là các quan hệ trong lĩnh vực quản lý kinh tế

còn khái niệm tương ứng theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm
những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Chương XVII “Các tội phạm về môi trường”.
Trong các phần tiếp theo sẽ chỉ đề cập đến các tội
phạm về môi trường theo nghĩa hẹp, tức các tội phạm
trong chương XVII BLHS Việt Nam.
2. CẤU THÀNH CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI
TRƯỜNG
Khái niệm chung của tội phạm về môi trường nêu
trong phần 1 giúp chúng ta xác định phạm vi của loại
tội phạm này, cũng như là cơ sở cho việc xây dựng
các tội phạm cụ thể. Để hiểu các tội phạm về môi
trường rõ ràng và cụ thể hơn, đặc biệt nhằm áp dụng
chính xác các quy định tương ứng của BLHS trong
cuộc sống, đòi hỏi phải nghiên cứu cấu thành tội
phạm thể hiện qua: khách thể, mặt khách quan, chủ
thể và mặt chủ quan.
a. Khách thể của tội phạm về môi trường
Khách thể của loại tội phạm về môi trường là những
quan hệ xã hội về giữ gìn môi trường trong sạch, sử
dụng hợp lý những tài nguyên của nó và đảm bảo an
toàn môi trường cho dân cư.
Để hiểu khách thể của tội phạm về môi trường cần
làm rõ khái niệm “môi trường”. Khái niệm này được
đưa ra trong Luật Bảo vệ môi trường, theo đó “Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất
nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (K.1
Đ.1). Đặc biệt, Luật không chỉ xây dựng khái niệm

nhiên để thực hiện chức năng sinh vật và những chức
năng tự nhiên khác. Chính bởi bản chất gắn với tự
nhiên nên những thành phần cấu thành môi trường có
thể phân biệt được với những đối tượng tội phạm
khác mà thường được biết dưới dạng “hàng hoá” hay
“tài sản”.
b. Mặt khách quan của tội phạm về môi trường
* Các tội phạm về môi trường có thể được thực hiện
bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các
quy định của pháp luật về sử dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ môi trường. Các hành
vi tội phạm về môi trường rất đa dạng: gây ô nhiễm
môi trường, huỷ hoại tài nguyên môi trường, không
thực hiện quy tắc bảo vệ môi trường, gây dịch bệnh
v.v. Những hành vi trong mặt khách quan của tội
phạm về môi trường là sự thể chế hoá trong lĩnh vực
hình sự những hành vi bị nghiêm cấm quy định trong
Luật Bảo vệ môi trường:
1- Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa
bãi gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh
thái;
2- Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào
không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho
phép vào môi trường xung quanh;
3- Thải dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá
giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực
vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh
vào nguồn nước;
4- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới
hạn cho phép;

Quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý
hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ (17-2-1992);
- Nghị định số 175-CP của Chính phủ về hướng dẫn
thi hành Luật Bảo vệ môi trường (18-10-1994);
- Quyết định số 2920-QĐ/MTg của Bộ trưởng Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc áp dụng
tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường (21-12-1996);
- Quyết định số 2019/1997/QĐ-BKHCNMT của Bộ
trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban
hành quy định những yêu cầu chung về kỹ thuật đối
với việc nhập khẩu các thiết bị đã qua sử dụng (1-12-
1997);
- Quyết định số 10/2001/QĐ-BKHCNMT của Bộ
trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về
việc ban hành tạm thời Danh mục các loại phế liệu đã
được xử lý thành nguyên liệu được phép nhập khẩu
(11-5-2001);
* Tuyệt đại bộ phận tội phạm về môi trường có cấu
thành vật chất (9 trong số 10 tội: Đ.182, Đ.183,
Đ.184, Đ.185, Đ.186, Đ.187, Đ.188, Đ.189, Đ.191).
Để khẳng định tội phạm hoàn thành cần chứng minh
được những hành vi vi phạm gây hậu quả cụ thể.
Trong diễn biến xâm hại môi trường phức tạp và phổ
biến hiện nay, việc xây dựng các tội phạm về môi
trường với cấu thành vật chất chưa phát huy hết được
vai trò của mình đối với việc gìn giữ và bảo vệ môi
trường. Những hành vi tàn phá, huỷ hoại môi trường
sống cần được ngăn chặn ngay từ đầu và có những
biện pháp chế tài kiên quyết. Đây là một trong số
những điều kiện cơ bản để giữ vững sự tăng trưởng

trường, đối với các loại “hậu quả” quy định trong
chương này.
Xác định các hành vi phạm tội về môi trường cũng
cần chỉ rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hành vi vi
phạm với những hậu quả xảy ra. Những thiệt hại về
môi trường phải phát sinh trực tiếp và chủ yếu từ
chính các hành vi vi phạm.
Trên cơ sở xác định hậu quả của các hành vi vi phạm,
có thể xác định tính chất hoàn thành của tội phạm.
Những tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất
được coi là hoàn thành kể từ khi có những hậu quả
tương ứng xảy ra.
* Tội phạm về môi trường với cấu thành hình thức.
Đó là tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật
hoang dã quý hiếm (Đ.190). Để xác định tội phạm đã
hoàn thành, không cần thiết phải có hậu quả xảy ra.
Thời điểm hoàn thành tội phạm được tính từ thời
điểm thực hiện hành vi liệt kê tại Đ.190 như: đưa ra
khỏi vùng dịch bệnh động vật có khả năng truyền
dịch bệnh cho người; săn bắn động vật hoang dã v.v.
* Cấu thành của phần lớn các tội phạm về môi trường
đòi hỏi phải có dấu hiệu bắt buộc về việc đã bị xử
phạt hành chính (Đ.182, Đ.183, Đ.184, Đ.185, Đ.187,
Đ.188, Đ.189, Đ.191). Việc quy định dấu hiệu đã bị
xử phạt vi phạm hành chính trong các tội phạm về
môi trường có một số vấn đề và nội dung cần lưu ý
sau:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status