ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HỒNG HÂN
QU¶N Lý NHµ N¦íC VÒ KHU C¤NG
NGHIÖP - Tõ THùC TIÔN TØNH Hµ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HỒNG HÂN
QU¶N Lý NHµ N¦íC VÒ KHU C¤NG
NGHIÖP - Tõ THùC TIÔN TØNH Hµ NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TẠ QUANG NGỌC
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
1.2.
Quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp............................11
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước......................................... 11
1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp................12
1.2.3. Nội dung của quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp..................14
1.2.4. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp.......19
1.2.5. Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp.............21
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các khu
công nghiệp........................................................................................ 23
1.3.
Quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp của một số địa
phƣơng tiêu biển..............................................................................27
1.3.1. Phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương..................................27
1.3.2. Phát triền khu công nghiệp ở Hải Phòng............................................28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HÀ NAM
2.1.
34
Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam....................34
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.............................................................................. 34
3.1.2. Phương hướng tăng cường hoạt động quản lý nhà nước đối với
các khu công nghiệp...........................................................................62
3.1.3. Một số mục tiêu về phát triển các khu công nghiệp...........................64
3.2.
Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nƣớc về khu công nghiệp..........66
3.2.1. Giải pháp về cải cách bộ máy và thủ tục hành chính.........................66
3.2.2. Tăng cường hiệu quả công tác thu hút đầu tư, hỗ trợ đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp 67
3.2.3. Tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng các khu công nghiệp và hạ
tầng kết nối liên vùng
71
3.2.4. Củng cố và nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ hoạt động
của các DN trong khu công nghiệp
73
3.2.5. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực.......................................74
3.2.6. Thường xuyên kiểm tra, rà soát nhằm tháo gỡ kịp thời các khó
khăn vướng mắc cho sản xuất kinh doanh, tăng cường các giải
pháp hỗ trợ phát triển thị trường cho DN
75
3.2.7. Hoàn thiện về quản lý nhà nước về môi trường trong khu công nghiệp
76
QLNN:
Quản lý nhà nước
DANH MỤC CÁC BIỂU
Số hiệu
Biểu 2.1:
Biểu 2.2:
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới phát triển, chủ trương của Đảng
tại đại hội lần thứ IX đã xác định đường lối phát triển kinh tế đất là: “Đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,
đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp". Muốn đạt được mục tiêu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) thì cần một lượng vốn đầu tư rất lớn,
vượt ngoài khả năng tự huy động vốn trong nước của nền kinh tế Việt nam.
Không chỉ phụ thuộc vào các nguồn hỗ trợ phát triển và tài trợ của các tổ chức
quốc tế, chúng ta cần có những hình thức thích hợp thu hút vốn đầu tư nước
ngoài cũng như trong nước để phát triển công nghiệp, phát triển nền kinh tế.
Mô hình Khu công nghiệp (KCN) trên thế giới và các nước trong khu vực
đang ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình. Mô hình này chính là giải pháp cho
các vấn đề như vốn, thu hút đầu tư, công nghệ, khả năng cạnh tranh của sản
phẩm trong quá trình hội nhập… Ngoài ra nó còn thúc đẩy quá trình công nghiệp
Các kết quả nghiên cứu tại Hà Nam có thể sử dụng được cho các tỉnh lân cận
như: Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng…. Hơn nữa học viên đang làm việc tại
Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam nên việc nghiên cứu thực hiện
đề tài sẽ được thuận lợi, đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ hữu ích
đối với công việc của học viên sau này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Mục đích của luận văn nhằm luận giải cơ sở lý luận và đánh giá thực
trạng về QLNN đối với quá trình hình thành và phát triển KCN ở Việt Nam
nói chung và các KCN trên địa bàn tỉnh Hà Nam nói riêng trong dưới góc độ
của luật Hiến pháp và luật Hành chính. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất
2
phương hướng và một số giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động quản lý nhà
nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung cụ thể gồm:
-
Phân tích những vấn đề lý luận và xây dựng những khái niệm, nội
dung về QLNN đối với các khu công nghiệp.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những thành
tựu, hạn chế trong QLNN đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà
Nam hiện nay.
3
đánh giá trước đó ở trong và ngoài nước,... Dữ liệu thứ cấp dùng cho mục
đích nghiên cứu định tính nhằm xác định: Các yếu tố cấu thành nên một KCN
thành công bằng việc phân tích kinh nghiệm thu hút đầu tư vào các KCN ở
một số địa phương trong nước; các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư
vào các KCN tỉnh Hà Nam, phân tích hiệu quả đầu tư vào các KCN.
* Phương pháp so sánh
So sánh kinh nghiệm của của một số tỉnh ở nước ta trong việc thu hút
đầu tư vào các KCN.
So sánh mức độ hài lòng của các nhà đầu tư với đánh giá kỳ vọng của
các cơ quan QLNN, các công ty đầu tư, kinh doanh phát triển hạ tầng KCN.
Tác giả cũng kế thừa, sử dụng các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và
phát triển những căn cứ khoa học mới theo thực tiễn nghiên cứu của đề tài.
6.
-
Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận:Luận văn góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực
tiễn về hoạt động QLNN tại các khu công nghiệp.
+
Về thực tiễn:
Luận văn làm rõ vai trò của QLNN, nâng cao hiệu quả QLNN tới sự
phát triển các KCN.
thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa. Tùy điều kiện từng nước mà
KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi
khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN. Hiện nay
trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, từ đó hình thành các quan niệm
khác nhau về KCN.
Hiện nay, có quan niệm KCN là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới
địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công
nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh
sống trong khu. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này
còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. KCN theo quan điểm
này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như các công viên công
nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
Theo quan niệm khác thì KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất
định, ở đó tập trung các DN công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp,
5
không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao
hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nước và
vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia,…. đã hình thành nhiều KCN với qui
mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay.
Ở
nước ta, KCN đầu tiên được thành lập năm 1991 (KCX Tân Thuận –
TP Hồ Chí Minh) cùng với quá trình 20 năm hình thành và phát triển cũng đã
xuất hiện nhiều quy định, khái niệm khác nhau về KCN:
- KCN, KCX hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới,
mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần
kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã định hướng phát triển KCN, KCX bền vững
và theo chiều sâu: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu
quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp
theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy
mô lớn, hiệu quả cao”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đặt
ra mục tiêu đến năm 2020 “...tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất
có hệ thống xử lý nước thải tập trung”.
quy
Về cơ sở pháp lý, hiện nay, mô hình KCN, KCX hoạt động theo
định tại Luật đầu tư năm 2014, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày
12/11/2015, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, Nghị định số
164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày
9/11/2015 và pháp luật chuyên ngành về đất đai, thương mại, lao động, xây
dựng, thuế và một số pháp luật khác có liên quan. [3, tr.2].
Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể tại Điều 2 Quy chế khu công
nghiệp (Ban hành kèm theo Nghị định số 192/NĐ-CP ngày 28/12/1994 của
Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995), các khu công nghiệp được hiểu là:
“Khu công nghiệp quy định trong quy chế này là khu công nghiệp tập trung
do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản
xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không
có dân cư sinh sống.” Như vậy, bản thân định nghĩa đã bao hàm cả nội dung
7
các đặc điểm của khu công nghiệp. Nghị định số 36 NĐ/CP, ngày 24/4/1997
của Chính phủ nhắc lại những nội dung đặc điểm này và nhấn mạnh cụ thể
hơn về quyền cho phép thành lập là do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập.
trường; là nơi tập trung các DN hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất công
nghiệp (SXCN), dịch vụ phục vụ SXCN (dịch vụ xuất nhập khẩu, hoạt động
thương mại, tín dụng, ngân hàng, bưu chính viễn thông…); nằm trong danh
mục quy hoạch tổng thể các KCN được Chính phủ phê duyệt, được cơ quan
cấp Giấy chứng nhận đầu tư quyết định thành lập theo quy định của pháp luật
về đầu tư và quy định về KCN của Chính phủ.
1.1.2. Đặc điểm khu công nghiệp
1.1.2.1. Đặc điểm tự nhiên của khu công nghiệp
Khu công nghiệp thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận
lợi như gần các đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm
kinh tế lớn, gần cảng biển, sân bay... Ngoài ra, các khu công nghiệp còn đòi hỏi
phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng
phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nước, có
cơ sở hạ tầng thích hợp. Do các đặc điểm này, nên quỹ đất xây dựng khu công
nghiệp thường lấn chiếm quỹ đất nông nghiệp và đất đô thị. Khi các khu công
nghiệp được xây dựng nhiều sẽ gây sức ép, thậm chí xung đột với nhu cầu đất
của dân cư. Chính vì vậy, xây dựng các khu công nghiệp phải theo quy hoạch
cân đối, hài hòa, hợp lý các khu đất giành cho sinh hoạt, cho nông, lâm nghiệp,
thủy sản và cho các khu công nghiệp tập trung [4].
1.1.2.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật khu công nghiệp
Khu công nghiệp thường tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra
các sản phẩm công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn
nguyên, nhiên, vật liệu, năng lượng và thải ra lượng chất thải khổng lồ. Do
tính tập trung sản xuất công nghiệp ở mật độ cao như vậy nên các vấn đề kinh
tế - kỹ thuật của khu công nghiệp trở nên rất khác biệt.
9
người lao động, dễ gây thành các cuộc đình công, bãi công lớn do tính chất
lan truyền và do các DN ở gần nhau. Nếu các tổ chức chính trị, xã hội không
khéo léo giải quyết các xung đột này có thể gây bất ổn cho cả vùng.
Do đó, việc sắp xếp, tổ chức bộ máy các cơ quan QLNN đối với các
KCN một cách hợp lý để giải quyết các vấn đề nêu trên là rất cần thiết. Nếu
các cơ quan này không được tổ chức hợp lý, hoạt động không hiệu quả sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển các KCN.
Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế
trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn
hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết
định thành lập. Một mặt, khu công nghiệp là một thực thể độc lập cả về lãnh
thổ lẫn các điều kiện sản xuất kinh doanh gắn với cơ bản của nó là sản xuất
công nghiệp tập trung ở mật độ cao. Mặt khác, khu công nghiệp không tồn tại
độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ về mọi mặt với các phần lãnh thổ khác về
đầu vào, đầu ra và ảnh hưởng ngoại sinh. Vấn đề là làm sao để cả trong, ngoài
khu công nghiệp các quá trình kinh tế, xã hội, tự nhiên diễn ra tốt đẹp. Giải
quyết yêu cầu đó là nhiệm vụ của DN kinh doanh khu công nghiệp và cơ quan
QLNN
1.2. Quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước
QLNN là một dạng của quản lý xã hội, mang tính quyền lực nhà nước,
được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi
hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội có tính
trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trong đó,
quản lý xã hội là thực hiện các chức năng tổ chức nhằm tạo ra những điều
kiện cần thiết để đạt những mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động chung
của con người trong xã hội.
11
quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh.
13
Như vậy, QLNN đối với khu công nghiệp là hoạt động tổ chức và điều
hành cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động phát triển các khu công
nghiệp; là chức năng đặc thù của cơ quan hành chính nhà nước về kinh tế, thực
hiện quyền lực nhà nước tác động đối với quá trình hình thành và phát triển khu
công nghiệp trên một phạm vi lãnh thổ nhất định của quốc gia, thông qua công
tác quy hoạch, kế hoạch; ban hành và thực thi chính sách pháp luật có liên quan
đến khu công nghiệp; đồng thời thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết các
vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp,...
nhằm đạt được mục tiêu đã xác định cho sự phát triển khu công nghiệp, đáp
ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và mang lại lợi ích cho
phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và địa phương nói riêng.
1.2.3. Nội dung của quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp
1.2.3.1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính
sách về phát triển khu công nghiệp
-
Yêu cầu: Khi xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển khu công
nghiệp, phải nghiên cứu tổng thể các điều kiện tự nhiên và xã hội trong chiến
lược phát triển kinh tế chung, phải tạo được bước đi phù hợp với khả năng của
đất nước về tài chính, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng…, phải tính đến sự
phân bổ lực lượng sản xuất trên lãnh thổ nhằm bảo đảm sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực và bảo vệ môi trường; xem xét tính cân đối trong phát triển khu
vực, lãnh thổ và tính đến phát triển bền vững chung của cả nước; cân nhắc,
quyết định số lượng KCN cần xây dựng trong từng giai đoạn cụ thể.
tư, xây dựng, phát triển và quản lý hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế;
xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về khu công nghiệp, khu kinh tế; tổ chức
thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế
Hình thành hệ thống chính sách và pháp luật thích hợp cho hoạt động
của KCN. Các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động KCN yêu cầu phải
rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và có tính ổn định lâu dài, quyền và nghĩa vụ của
nhà đầu tư được quy định rõ, có tính ràng buộc về pháp lý, sự can thiệp của
các cơ quan Nhà nước ở mức tối thiểu, các thủ tục hành chính đơn giản,
nhanh và có hiệu quả; luật và chính sách về KCN phải tính đến thôn lệ quốc tế
và môi trường pháp lý chung của các nước trong khu vực. Tính hấp dẫn và
15
tích cực của hệ thống pháp luật không đơn thuần là ưu đãi tài chính, mà còn ở
cơ chế quản lý, chính sách chung và sự phù hợp với luật chung của thế giới.
Xây dựng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư trong nước vào khu công
nghiệp; xây dựng danh mục thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp;
xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư chuyên đề đầu tư vào khu công
nghiệp; cơ quan quản lý khu công nghiệp có thể thành lập các cơ quan đại diện ở
nước ngoài để tiếp thị, tuyên truyền vận động đầu tư nhằm rút ngắn thời gian tìm
hiểu, đi lại của các nhà đầu tư dự kiến đầu tư vào khu công nghiệp; đánh giá kết
quả và hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư vào khu công nghiệp.
1.2.3.3. Cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng
nhận đăng ký DN, các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận; tổ chức thực
hiện các thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ hỗ trợ có liên quan đến hoạt
động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong khu công
nghiệp, khu kinh tế
+ Xét duyệt cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (đối với DN có vốn
DN trong khu công nghiệp: đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp,
vì lý do nào đó không triển khai được, cơ quan QLNN khu công nghiệp yêu
cầu nhà đầu tư giải trình lý do và thời gian sẽ tiếp tục triển khai dự án. Trường
hợp nhà đầu tư cố tình không triển khai dự án đầu tư hoặc hoạt động không
đúng với giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký DN, điều
lệ công ty thì cơ quan QLNN đối với các khu công nghiệp kiên quyết thu hồi
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
+
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ủy quyền Ban quản lý khu
công nghiệp cấp tỉnh xét duyệt cấp giấy phép cho lao động là người nước
ngoài làm việc trong khu công nghiệp. Các cơ quan QLNN khác như Bộ
Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính… xét
duyệt và cấp các loại giấy phép do ngành mình quản lý.
1.2.3.4. Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan
QLNN về khu công nghiệp, khu kinh tế
Thủ tướng quyết định bổ nhiệm trưởng Ban quản lý khu công nghiệp
cấp tỉnh sau khi có ý kiến của Bộ Nội vụ theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
quyết định bổ nhiệm các phó ban, ủy viên và bộ máy giúp việc của Ban quản
lý khu công nghiệp cấp tỉnh theo quy định và hướng dẫn của Bộ Nội vụ;