Quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh đồng nai - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐOÀN THỊ HOÀNG ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP. HỒ CHÍ MINH-NĂM 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

………/……….

…../….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐOÀN THỊ HOÀNG ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI


Nai; các Sở, ngành của tỉnh; Ban Quản lý các khu công nghiệp, Sở Kế hoạch và
Đầu tư, các đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Luận văn được hoàn thành từ sự cố gắng, nỗ lực của bản thân trong suốt
quá trình học tập tại Học viện, quá trình nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn
công tác, tuy nhiên do khả năng còn hạn chế, kiến thức của bản thân chưa thật
đầy đủ nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp
ý của quý thầy, cô và bạn đọc để tôi được bổ sung kiến thức cho bản thân để tiếp
tục hoàn thiện luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả

Đoàn Thị Hoàng Anh


MỤC LỤC

Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn



tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp

7

FDI
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp FDI

8

1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp FDI

9


1.1.4. Các loại hình doanh nghiệp FDI

11

1.1.5. Khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

11

1.2. Quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

11

1.2.1. Khái niệm QLNN về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài



thu hút và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.5.3. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,

22

đảm bảo an toàn cho sự vận động của FDI
1.2.5.4. Xây dựng và tổ chức bộ máy QLNN về thu hút đầu tư

23

trực tiếp nước ngoài
1.2.5.5. Đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ,

25

công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ
1.2.5.6. Tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư

26

1.2.5.7. Về hỗ trợ nhà đầu tư

27

1.2.5.8. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu

28




35

động đến QLNN về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh
Đồng Nai
2.2. Thực trạng QLNN về hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước

40

ngoài tại tỉnh Đồng Nai
2.2.1. Khái quát tình hình hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước

40

ngoài tại tỉnh Đồng Nai
2.2.2. Vai trò của các doanh nghiệp FDI đối với phát triển kinh tế

41

- xã hội tỉnh Đồng Nai
2.2.3. Phân tích thực trạng QLNN đối với hoạt động thu hút đầu

44

tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai
2.2.3.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy

44

hoạch, kế hoạch, chính sách về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài


60

tư, xử lý vi phạm (nếu có)
2.2.4. Đánh giá chung QLNN về thu hút đầu tư trực tiếp

60

nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai
2.2.4.1. Kết quả đạt được trong QLNN về thu hút đầu

61

tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai
2.2.4.2. Hạn chế trong QLNN về thu hút đầu tư trực

61

tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai
2.2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN

63

về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2

68

CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN


cung ứng lao động
3.2.4. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính

78

3.2.5. Tăng cường và nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư

79

3.2.6. Tăng cường các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp

80

3.2.7. Lựa chọn ngành nghề khuyến khích đầu tư

81

3.2.8. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội

81

3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác QLNN về thu hút

83

đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai đến năm 2025
3.3.1. Đối với UBND tỉnh Đồng Nai

83




LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội quốc gia. Ở nước ta, sau hơn 30 năm đổi mới mở cửa thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài, kinh tế - xã hội đã có bước phát triển đáng kể, giúp đất
nước thoát khỏi đói nghèo, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân
chủ văn minh.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là một trong những đạo
luật kinh tế đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam là một chủ trương đúng đắn và đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong hơn
30 năm qua.
Tỉnh Đồng Nai là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trải
qua hơn 30 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tỉnh Đồng Nai
đã trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài, đồng thời cũng là địa phương dẫn đầu cả nước trong việc phát
triển các khu công nghiệp.
Nhìn lại chặng đường đã đi qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh đã không ngừng được mở rộng và phát triển, tạo
động lực lớn cho quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
phân công lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào công cuộc
đổi mới của đất nước. Tại tỉnh Đồng Nai, cùng với việc phát triển khu công

1


và đề xuất các giải pháp thu hút đầu tư vào KCN Cần Thơ trong thời gian tới
[33].
Bài viết “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài” của TS
Phạm Việt Dũng đăng trên Tạp chí Cộng sản online ngày 04/6/2013, tác giả
đã đánh giá thực trạng và vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và
một số vấn đề đặt ra đối với khu vực doanh nghiệp FDI, qua đó, đề ra một số
giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI [17].
Đề tài “QLNN sau cấp phép đầu tư đối với các doanh nghiệp FDI ở tỉnh
Đồng Nai” của tác giả Nguyễn Văn Quang (Học viện Hành chính quốc gia,
2013) đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước sau cấp
phép đầu tư đối với các doanh nghiệp FDI ở Đồng Nai, chỉ ra những nguyên
nhân hạn chế và kiến nghị các giải pháp nhằm quản lý hiệu quả các doanh
nghiệp FDI sau cấp phép trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. [21]
Đề tài “QLNN đối với hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh
Phú Thọ” của tác giả Hoàng Thị Thu Thanh (Đại học Thái Nguyên, 2019), tác
giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, những hạn chế, tồn tại và phân tích
nguyên nhân chủ yếu; đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua
và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, đảm bảo hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài đúng định hướng, hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển bền vững, toàn diện [28].
Đề tài “Giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Bến Tre” của tác giả Ngô Trung Hùng (Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Trường Đại

3


học Kinh tế Huế, 2013), tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu

4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019, phương hướng đến
năm 2025.
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lenin; Quan điểm, chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý nhà
nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cơ bản như: thu thập tài liệu; tổng hợp; phân tích; so sánh, đánh giá, dự báo.
Cụ thể là ở chương 1, tác giả đã thu thập tài liệu, nghiên cứu, tổng hợp để đưa ra
cơ sở khoa học quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ở
chương 2, tác giả thu thập tài liệu thực tiễn công tác quản lý nhà nước về thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai, qua đó tổng hợp, phân tích, đánh

5


giá làm rõ thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, những kết quả và hạn chế trong
QLNN về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai. Ở chương 3, tác
giả đã sử dụng phương pháp phân tích, dự báo nhằm đưa ra các đánh giá, nhận
định và đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thu hút

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua
ngày 29 tháng 12 năm 1987: “Đầu tư ngước ngoài” là việc các tổ chức, cá nhân
nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài
sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở
hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước
ngoài theo quy định của Luật này” [22].
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài” nguyên gốc tiếng Anh là: “Foreign Direct
Investment, viết tắt là FDI).
Tổ chức Thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước
chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà
người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp
đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty" [46].
Theo Luật Đầu tư năm 2005 (đã hết hiệu lực) phân loại: “Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành

7


lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” [23].
Luật Đầu tư năm 2014 không đề cập trực tiếp loại hình doanh nghiệp này
mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 như
sau: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư
nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông” [24].
Như vậy, theo quy định này, đối chiếu với khái niệm doanh nghiệp FDI
theo định nghĩa tiếng Anh, pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận hoạt động của

cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế. Mức đóng góp của khu vực
này ngày càng tăng từ 9,3% năm 1995 lên 19,6% năm 2017 (chiếm 23,7% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm trên 72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,
trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 17% tổng thu ngân sách nhà nước).
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 8/2018, cả nước có
hơn 26.500 dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 334 tỷ USD, vốn thực hiện
khoảng 184 tỷ USD. Đầu tư nước ngoài đã đóng góp gần 20% GDP và là nguồn
vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển với tỉ trọng khoảng 23,7% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội.
Hai là, doanh nghiệp FDI góp phần vào việc tiếp thu công nghệ và bí quyết
quản lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Trong hơn 30 năm qua, nhiều dự án
đầu tư nước ngoài đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở
một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất định tới khu vực doanh nghiệp
trong nước, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế.

9


Nhiều dự án lớn đã mang lại bước đột phá, đóng góp vào nguồn thu ngân sách
cho nhiều địa phương.
Ba là, doanh nghiệp FDI tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu trong xu thế
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đầu tư nước ngoài cũng tạo thuận lợi
cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, từng
bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần cân bằng
cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Bốn là, doanh nghiệp FDI giúp tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân lực
chất lượng cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải thiện chất lượng
nguồn nhân lực. Việc làm trực tiếp trong khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng từ
330 nghìn người vào năm 1995 lên khoảng 3,6 triệu người năm 2017, đồng thời
tạo việc làm gián tiếp cho khoảng 5 - 6 triệu lao động. Bên cạnh đó, nhiều doanh

như sau: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính
quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi
của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong
bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát
triển của xã hội” [19, tr 3]
QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là sự tác động của các chủ
thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp khác nhau tới việc thu
hút nguồn vốn FDI trên cơ sở pháp luật nhằm đạt được các mục tiêu của nhà
nước trong phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Sự cần thiết phải QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Thứ nhất, xuất phát từ chức năng của Nhà nước quản lý chung tất cả các
lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; thông qua các công cụ quản lý vi mô như

11


hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và tổ chức bộ máy… Nhà nước thực hiện
việc định hướng và quản lý việc thu hút ĐTNN nhằm mục đích phát triển kinh tế
- xã hội, kết hợp với việc đảm bảo quốc phòng – an ninh, duy trì sự phát triển
bền vững.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế
quốc tế nói riêng hiện nay, cơ hội và khả năng huy động vốn đầu tư FDI của các
quốc gia trên thế giới là như nhau. Trên thực tế việc huy động vốn phụ thuộc có
tính quyết định vào vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung,
đặc biệt với hoạt động FDI. Vai trò của quản lý nhà nước trước hết thể hiện ở
khả năng tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn. Sự hấp dẫn của môi trường đối
với các nhà đầu tư nước ngoài chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ
mô, môi trường pháp lý an toàn, các thủ tục hành chính đơn giản, cơ sở hạ tầng
kinh tế – xã hội phát triển và có những định hướng đúng đắn khuyến khích các
nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả và an toàn.

tế thị trường và việc thu hút không chọn lọc nguồn vốn FDI trong giai đoạn đầu
gây ra.
Mục tiêu của công tác quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài là thực hiện mục tiêu chung của Nhà nước trong quan hệ hợp tác với nước
ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lý, thị trường và sự phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm
năng về lao động, tài nguyên của đất nước để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất
khẩu, tăng tích lũy, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.

13


Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài còn
giúp các nhà đầu tư thực hiện một cách tốt nhất, hiệu quả nhất các quy định về
đầu tư tại Việt Nam, tạo môi trường hoạt động thông thoáng, giải quyết xử lý và
điều chỉnh những phát sinh trong quá trình đầu tư, bảo đảm phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững.
1.2.3. Cơ sở pháp luật QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Có thể thấy, Luật Đầu tư nước ngoài ra đời trong bối cảnh kinh tế xã hội
Việt Nam đang đứng trước những khó khăn lớn về kinh tế, chính trị, xã hội. Bối
cảnh quốc tế bất lợi: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các
thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam trên nhiều mặt. Thế giới có những
diễn biến phức tạp về tình hình chính trị và an ninh quốc tế. Thời điểm này, các
nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á thực hiện cải cách kinh
tế, trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới.
Bối cảnh trong nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Việt Nam là
một nước nông nghiệp lạc hậu bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế
kém phát triển, sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc, cơ chế quản lý
tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm
trọng, mức lạm phát lên tới trên 700% vào năm 1986, sản xuất đình trệ, cơ sở kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status