Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
HIỆN TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP PHẦN MỀM
VIỆT NAM
1. Tổng quan về doanh nghiệp phần mềm
1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp CNTT là các doanh nghiệp được xem là chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực CNTT, nếu có trên một nửa số hạng mục đăng ký kinh
doanh (từ 50% trở lên) thuộc lĩnh vực CNTT
DNPM là doanh nghiệp có từ 50% doanh số CNTT là doanh số phần
mềm
1.2 Phân loại DNPM Việt Nam
Theo sự phân loại của Hội Tin Học Thành Phố Hồ Chí Minh, DNPM
trong nước được tạm xếp vào 4 nhóm: rất nhỏ (micro), nhỏ (small), vừa
(middle), một số ít có quy mô lớn (large) và hàng đầu (top).
Doanh nghiệp rất nhỏ (micro) : dưới 10 nhân lực và /hoặc doanh số tối
đa đến 30.000 USD/ năm; tương đương khoảng 2.500 USD/ tháng. (năng suất
tối đa 3.000 USD/ năm/ người).
Doanh nghiệp nhỏ (small): từ 10 đến dưới 30 nhân lực và /hoặc doanh
số từ 100.000 USD/ năm đến tối đa là 150.000 USD/ năm; tương đương từ
8.500 USD/ tháng đến tối đa là 12.500 USD/ tháng. (năng suất tối đa 5.000
USD/ năm/ người).
Doanh nghiệp vừa (middle): từ 30 đến dưới 100 nhân lực và /hoặc
doanh số từ 250.000 USD/ năm đến tối đa là 800.000 USD/ năm; tương
đương từ 20.000 USD/ tháng đến tối đa 60.000 USD/ tháng (năng suất tối đa
8.000 USD/ năm/ người).
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc1
1
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
1.4 Môi trường hoạt động của DNPM.
Trong kinh doanh, DNPM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Tuy nhiên, có thể nói rằng DNPM chịu tác động mạnh mẽ của
môi trương kinh doanh và môi trường xã hội. Các chính sách ưu đãi trong
CNPM và việc hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước là 2 yếu tố tích cực đến
sự phát triển CNTT tác động khá tiêu cực đến DNPM. Có thể nói các doanh
nghiệp CNTT nói chung và DNPM nói riêng đã chịu tác động mạnh mẽ của
môi trường kinh doanh và môi trường xã hội, trong đó có yếu tố quan trọng là
chính sách của Nhà nước và hoạt động của bộ máy quản lý từ cấp trung ương
đến các địa phương.
Trong các năm từ 2000 đến 2004, các chính sách của Đảng và Chính phủ
liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam đã được triển khai từng
bước, bắt đầu từ việc ban hành chiến lược, xây dựng kế hoạch tổng thể ứng
dụng và phát triển CNTT đến năm 2005, xây dựng các bộ máy cấp vĩ mô là
Bộ Bưu chính, Viễn thông; đổi mới Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT, kiện toàn
bộ máy Nhà nước về CNTT tại địa phương, thành lập các Sở Bưu chính, Viễn
thông tại TP. HCM, Hà Nội và các tỉnh thành.
Năm 2004, Chính phủ cũng thể hiện việc đặc biệt khuyến khích đầu tư
vào ngành CNPM bằng các chính sách thuế ưu đãi ở mức cao nhất. Ngày 22
tháng 12 năm 2004, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 123/2004/TT-BTC
hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
và làm dịch vụ phần mềm. Những ưu đãi này tập trung vào thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu và thuế thu nhập cá nhân.
Trong 2 năm 2004 và 2005, Quốc Hội và các bộ ngành cũng đã soạn thảo
các dự thảo Luật Giao dịch điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật CNTT. Năm
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc3
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc4
4
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
đề của doanh nghiệp và của ngân hàng. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
thì phải vay vốn ở ngân hàng theo quy định cần thiết như thế chấp tài sản.
Điều này đúng trong trường hợp bình thường, phát triển ngành CNPM thì cần
tìm ra giải pháp có tính đột phá. Nhà nước cần chấp nhận một tỷ lệ tổn thất
trong việc hỗ trợ DNPM vay vốn. Đây cũng là yêu cầu để nâng cao tỷ lệ
“sống được” của DNPM. Sự tổn thất từ 60% đến 70% doanh nghiệp hoặc nếu
chỉ là 50% cũng là một tổn thất rất lớn không những về chi phí xã hội mà còn
làm chậm việc đạt được mục tiêu phát triển CNPM.
Nhân sự
DNPM không nêu vấn đề thiếu nhân sự, không nêu vấn đề nhân sự thiếu
trình độ mà nêu khó khăn vì nhân sự không ổn định. Như vậy, nhu cầu về
nhân sự mà một trong số công ty nêu ra có thể là vấn đề bức bách nhưng
không hẳn là vấn đề cơ bản. Cần bảo đảm để giải quyết một khủng hoảng
thiếu nhưng không đem đến một khủng hoảng thừa. Khủng hoảng thừa có thể
không chỉ vi chưa xác định địa chỉ cung cấp mà còn có thể vì chưa tạo đủ điều
kiện môi trường để các địa chỉ đó xuất hiện trên thực tế. Có trường hợp doanh
nghiệp một năm trước còn xem nhân lực là vấn đề bức xúc nhưng ngay trong
năm sau đã giải quyết ổn thoả nhu cầu phát triển nhân sự của mình.
Trở lại vấn đề nhân sự không ổn định của các DNPM vừa và nhỏ, chúng
ta thấy không chỉ là nhân sự không ổn định mà bản thân các doanh nghiệp khó
giữ được sự ổn định. Như vậy vấn đề chính là việc xây dựng và định hình
được môi trường kinh doanh ổn định cho DNPM. Đây chính là vấn đề khó
khăn cho các DNPM, đặc biệt trong buổi đầu thành lập.
cấp phần mềm trong nước. Nguy cơ tranh chấp sản phẩm có chiều hướng gia
tăng trong những năm tới, cũng như sự cạnh tranh của các phần mềm và giải
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc6
6
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
pháp từ nước ngoài là thách thức lớn đối với DNPM trong nước hiện nay.
1.6 Ứơc tính số lượng DNPM thực sự hoạt động trong cả nước
Tổng hợp số liệu điều tra DNPM đang hoạt động ở Hà Nội, TP. HCM và
các tỉnh thành khác, ta có số DNPM cả nước ước khoảng 722 đơn vị, theo
bảng sau:
Số lượng DNPM hiện đang hoạt động trong cả nước (Nguồn: HCA)
Ước tính doanh nghiệp phần
mềm
Số lượng Tỷ lệ
Hà Nội 290 40%
TP. Hồ Chí Minh 372 52%
Các tỉnh thành khác 60 8%
Cả nước 722 100%
2. Vai trò của các khu CNPM tập trung đối với sự phát triển
DNPM Việt Nam
2.1 Tình hình hoạt động của các khu CNPM tập trung
a) Trung tâm Công nghệ Phần mềm Sài Gòn (SSP)
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc7
7
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
CNPM tập trung tại các địa phương, trong đó tại TP. HCM có Công viên Phần
mềm Quang Trung (2001), toà nhà E-Town của Công ty REE (2002), Khu
CNPM Đại học Quốc gia TP. HCM (2003).
b) Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC)
Mục đích
QTSC được thành lập từ năm 2001, với quy mô diện tích đến 43 ha, có
mục tiêu hình thành một cơ sở hạ tầng hoàn hảo để tiếp nhận các nhà đầu tư
trong và ngoài nước tới phát triển CNPM, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh
của ngành CNPM, mà SSP không thể thoả mãn được do có quy mô quá nhỏ.
QTSC còn là nơi thực thi các chính sách hỗ trợ, ưu đãi, thu hút đầu tư đối với
các DNPM và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thực hiện chức năng ươm
tạo DNPM.
Quá trình hoạt động
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đảm bảo các điều kiện kinh doanh
cho các DNPM về cơ bản đã hoàn thành trong năm 2005. QTSC có hệ thống
viễn thông hiện đại vào bậc nhất, kết nối trực tiếp với 2 cổng ra quốc tế, tổng
băng thông 68Mbps. Các dịch vụ được cung cấp trong QTSC ngày càng hoàn
hảo như nhà hàng ăn uống, khu nhà ở và biệt thự, phương tiện đưa rước vận
chuyển. Các chính sách ưu đãi nhà đầu tư và hỗ trợ DNPM được triển khai có
hiệu quả tại QTSC.Tại đây đã thu hút được các nhà đầu tư đăng ký thuê đất,
lấp đầy toàn bộ diện tích và hiện các nhà đầu tư đang tiến hành xây dựng các
toà nhà cao ốc văn phòng hiện đại, phục vụ các DNPM với tổng vốn đầu tư
đăng ký trên toà nhà cao ốc văn phòng hiện đại, phục vụ các DNPM với tổng
vốn đầu tư đăng ký trên 1000 tỷ đồng. Trong thời gian từ năm 2001 đến nay,
QTSC đã tiếp nhận và hỗ trợ ra đời 65 DNPM mới. Thương hiệu và khả năng
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc9
dựng toà nhà E-Town 2 để tiếp tục làm văn phòng cho các DNPM thuê và mở
rộng sản xuất.
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc10
10
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
d) Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia TP. HCM
Dự án Khu CNPM Đại học Quốc gia TP. HCM (VNU-ITP) được khởi
động từ năm 2001, đến cuối năm 2005, VNU-ITP đã quy hoạch được 23,8 ha
đất để phát triển, xây dựng xong Giai đoạn I khuôn viên gần 8 ha, với trên
17.000 m
2
văn phòng làm việc.
Hiện nay tại VNU-ITP có 4 trung tâm đào tạo nhân lực và phát triển phần
mềm trực thuộc Đại học Quốc gia (CITD, Unisoft, Pronet, DATAGis, …)
cùng một số doanh nghiệp thuê văn phòng để hoạt động, với tổng số trên 100
người. Hoạt động ươm tạo công nghệ dành cho đối tượng là các sinh viên và
giáo viên chuyên ngành CNTT đã được khởi động tại đây từ năm 2002, hiện
nay vẫn đang được tiếp tục với một số dự án quy mô nhỏ.
2.2 Vai trò hỗ trợ phát triển DNPM của các khu CNPM tập trung
a) Ưu thế của các khu CNPM tập trung
Khu CNPM tập trung là các khu sản xuất phần mềm quy mô lớn, tập trung
nhiều DNPM. Đây còn là nơi các nhà khoa học, các lập trình viên được tạo
mọi điều kiện thuận lợi nhất để nghiên cứu – phát triển sản phẩm mới, tạo ra
các sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám cao. Bên cạnh chức
năng sản xuất và dịch vụ của các DNPM, ba lĩnh vực được đặc biệt ưu tiên và
hỗ trợ trong các khu CNPM tập trung là nghiên cứu và phát triển trong công
nghệ phần mềm, đào tạo nhân lực chất lượng và trình độ cao, ươm tạo DNPM
quốc gia mới phát triển CNPM như Việt Nam, như thực tế khảo sát cho thấy.
Vai trò của Nhà nước là phải tìm giảm bớt tỷ lệ thất bại của DNPM, khắc
phục những khiếm khuyết của thị trường bằng cách cung cấp những dịch vụ
hỗ trợ kinh doanh và tài chính cho các DNPM mới thành lập, quy mô nhỏ để
giúp họ cải thiện tính cạnh tranh, tiếp cận được các thị trường mới hoặc phát
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc12
12
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
triển những sản phẩm và dịch vụ mới. Vườn ươm DNPM sẽ cung cấp một môi
trường hỗ trợ thuận lợi cho chủ nhân của các DNPM mới tồn tại và phát triển.
Việc cung cấp những dịch vụ cần thiết cho DNPM trên cơ sở “một cửa” cho
phép giảm tổng chi phí hoạt động của DNPM. Vườn ươm nuôi dưỡng những
DNPM trẻ, giúp đỡ họ sống sót và tăng trưởng trong thời gian khởi nghiệp -
thời kỳ dễ bị thất bại và tổn thương nhất. Một cách cụ thể hơn, Vườn ươm
DNPM sẽ đem đến:
Dịch vụ phát triển doanh nghiệp: giúp đỡ DNPM mới thành lập các kinh
nghiệm về một lĩnh vực xác định, có thể liên quan đến việc lập kế hoạch kinh
doanh, đào tạo kỹ năng quản lý, tiếp cận với trình độ cao về kế toán, pháp
luật, tiếp thị và tài chính, và những hình thức tư vấn đặc thù khác. Vườn ươm
có thể tạo ra hay điều hành Quỹ đầu tư mạo hiểm để đầu tư vào các doanh
nghiệp được ươm tạo.
Mạng tư vấn doanh nghiệp: Vườn ươm DNPM tự bản thân nó không thể
cung cấp tất cả các phương tiện và những dịch vụ cần thiết, vì những tài
nguyên chỉ có hạn. Thành mạng lưới với những nhà cung cấp bên ngoài là
việc cần phải làm. Một mạng tư vấn hoạt động chung quanh Vườn ươm, hoặc
một mạng lưới hỗ trợ phát triển DNPM gồm các chuyên gia tư vấn, nhà cung
cấp dịch vụ chuyên nghiệp, nhà giáo và doanh nhân thành đạt giàu kinh
tân và dịch vụ chuyển thư, truy nhập máy tính và các thiết bị văn phòng khác,
phòng học và (trong vài trường hợp) căng-tin. Vườn ươm cần cung cấp cho tất
cả các doanh nghiệp thuê được phép truy nhập tới một “cơ sở hạ tầng CNTT-
TT” chung, nơi mà các doanh nghiệp truy cập Internet và được cung cấp
những dịch vụ hỗ trợ khác.
Dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng: một Vườn ươm doanh nghiệp
sẽ tìm cách cung cấp sự giúp đỡ liên tục cho những doanh nghiệp thuê sau khi
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc14
14
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
họ rời Vườn ươm, và có thể cung cấp những dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp
nhỏ trong vùng nói chung. sự sẵn có những giải pháp đầy đủ và thích hợp là
rất quan trọng, ngoài việc có đủ không gian làm việc.
c) Các loại hình Vườn ươm doanh nghiệp
Mô hình Vườn ươm có thể phân loại thành 2 loại: (1) Các vườn ươm phi
lợi nhuận và (2) các vườn ươm vì lợi nhuận.
Nhóm thứ nhất là các vườn ươm được các tổ chức, cơ quan của Chính phủ,
các Trường đại học và các tổ chức không vụ lợi tài trợ, mục đích hướng đến là
để phát triển kinh tế qua việc tăng công ăn việc làm, đa dạng hoá cơ sở kinh
tế, tăng nguồn thu về thuế cũng như thương mại hoá các công nghệ mới. Các
Vườn ươm này thường kết hợp với các chương trình nghiên cứu tại các trường
đại học.
Nhóm thứ hai là các Vườn ươm mang tính chất phi Chính phủ và thường là
do các nhóm đầu tư, các nhà đầu tư thiện chí hay các công ty tư nhân vận
hành. Hình thức đầu tư này được phổ biến khá rộng rãi tại EU và cũng đã đem
lại nhiều kết quả khả quan trong những năm qua.
Theo kinh nghiệm các nước, việc theo đuổi một chiến lược Vườn ươm phi
Như vậy, có thể khẳng định Vườn ươm là một doanh nghiệp. Theo pháp
luật Việt Nam, Vườn ươm có thể hoạt động dưới các hình thức cụ thể như
doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã,
công ty cổ phần…
d) Thực tiễn và kinh nghiệm triển khai mô hình “Vườn ươm DNPM”
Đầu tư phát triển các Vườn ươm DNPM tại Việt Nam là hết sức cần thiết,
vì đa số các DNPM mới thành lập còn rất yếu trong kinh nghiệm quản lý và
khả năng thâm nhập thị trường. Sự liên kết giữa các DNPM trong tổ hợp
Vườn ươm sẽ giúp họ có được một nền tảng vững vàng hơn trong thời gian
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc16
16
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
đầu mới thành lập và nhanh chóng trưởng thành.
Vườn ươm DNPM không phải là một khái niệm hoàn toàn mới đối với
CNPM Việt Nam. Ở TP. HCM từ năm 2000 cho đến nay đã có một số dự án
nghiên cứu và áp dụng mô hình này. Hoạt động “ươm tạo” các DNPM tại TP.
HCM có thể kể trước tiên là tại QTSC. Xây dựng theo mô hình một khu
CNPM tập trung, mục đích hoạt động của QTSC khong chỉ là tạo môi trường
thu hút các DNPM đang tồn tại tập trung lại thành một khối, một cộng đồng,
để chia sẻ các nguồn tài nguyên và hỗ trợ, hợp tác với nhau, mà còn là một
môi trường “nâng đỡ” cho các DNPM mới thành lập hoặc đang chuẩn bị
thành lập.
Tuy nhiên những hỗ trợ ưu ái các DNPM hoạt động tại QTSC được hưởng
còn nặng về cơ sở hạ tầng. QTSC vẫn chưa thể hiện được kinh nghiệm, sự
hiểu biết trong việc nhanh chóng nắm bắt những nhu cầu của DNPM mới,
trong các dự án kinh doanh mới và giúp cho các dự án đó nhanh chóng được
thức hiện.
3.1. Công ty cổ phần phần mềm kế toán Bravo
a) Sự hình thành
Công ty cổ phần phần mềm kế toán Bravo được thành lập theo giấy phép
số 4467/GP-UB ngày 07 tháng 10 năm 1999 của Uỷ Ban Nhân Dân Thành
Phố Hà Nội. Được Sở Kế Hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 056682 ngày 18 tháng 10 năm 1999
Bravo là công ty chuyên sâu trong việc phát triển phần mềm kế toán và
phần mềm quản trị tài chính. Với những kinh nghiệm thực tế giúp Bravo đã
đáp ứng được những yêu cầu quản lý của các đơn vị và đây cũng chính là nền
tảng để công ty phát triển phần mềm kế toán Bravo với những đặc điểm và
chức năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về kế toán và chức năng
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc18
18
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
quản trị.
Phần mềm kế toán Bravo được thiết kế theo tư tưởng “hệ thống mở”, cho
phép dễ dàng bổ xung và hiệu chỉnh chương trình theo yêu cầu của người sử
dụng. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài với những phiên bản phần mềm
kế toán đầu tiên Bravo 3.0,4.0,5.0,6.0 và hiện là Bravo 6.3, nó được xem là
phần mềm dễ sử dụng nhất, đáp ứng các đòi hỏi khắt khe của thực tế và mang
tính quản trị cao. Điều này cũng xuất phát từ chính mục tiêu phát triển của
công ty là : “ trở thành nhà cung cấp phần mềm số 1 trong lĩnh vực phần
mềm kế toán quản trị”
Nhân lực của công ty : hiện tại công ty có hơn 70 nhân viên (gồm 60 lập
trình viên), làm việc tại 03 văn phòng gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố
Hồ Chí Minh. Họ là những nhân viên chuyên nghiệp, trẻ, năng động, sáng tạo
đã được đào tạo có bài bản, hiểu biết sâu sắc về kế toán tài chính và có khả
Nên kế toán không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng vấn đề nghiệp vụ với những con
số đơn thuần mà còn là công cụ để điều hành doanh nghiệp. Chỉ riêng điều đó
thôi cũng cho thấy nhiều cơ hội rộng mở cho những DNPM có cái nhìn nghiêm
túc với thị trường và có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nhà quản
lý”
b) Sự phát triển của công ty
Ý thức được tàm quan trọng của chất lượng dịch vụ nhất là trong lĩnh
vực công nghệ thông tin, do vậy công ty đã triển khai hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và đã áp dụng thành công hệ thống
chuẩn hoá tất cả các quy trình làm việc trong các phòng ban của công ty.
Thành công của buổi ban đầu thành lập : công ty đã tạo được dấu ấn với
thị trường gần 200 công ty làm phần mềm kế toán ở Việt Nam không phải là
điều dễ! Nhưng những người trẻ tuổi ở công ty phần mềm kế toán Bravo đã
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc20
20
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
làm được điều đó và làm một cách tự tin như chính cái tên của họ “ Hay
lắm!”.
Bravo là một ví dụ điển hình về mô hình của các công ty phần mềm Việt
Nam nói chung : tuổi đời trung bình chỉ 26. Trong khi giới làm chính sách và
các nhà quản lý đang đau đầu với vấn đề làm thế nào để phát triển thị trường
phần mềm trong nước thì một công ty phần mềm trẻ như Bravo vẫn hết sức
lạc quan với tốc độ tăng trưởng của Bravo luôn đạt năm sau hơn năm trước
vài chục phần trăm.
Năm 1999: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 30 khách
hàng đầu tiên, trong đó có những khách hàng lớn như Công ty nhựa thiếu niên
tiền phong, Cấp nước Hải Phòng, gạch ngói Đồng Nai, Việc Vacxin Nha
Việt Nam.
Đồng thời năm 2004 công ty cũng đã chính thức áp dụng thành công hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000.
Năm 2005: doanh thu đạt trên 07 tỷ đồng và được các giới CNTT đánh
giá rất cao. Công ty cũng đã hợp tác với các bộ, ngành triển khai thành công
một số dự án ODA, các dự án của WB, SIDA…của các Chính Phủ và tổ chức
quốc tế tại Việt Nam.Mục tiêu trong năm 2006 là
“Đạt mốc khách hàng thứ 1000, doanh thu toàn công ty đạt 10 tỷ đồng”
3.2. Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tin học HPT.
Sự hình thành của công ty
Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tin học HPT là công ty được thành lập
vào ngày 13 tháng 01 năm 1995. Trụ sở chính 60 Nguyễn Văn Trỗi, Quận Phú
Nhuận, TP.HCM. Công ty HPT ngày nay đã trở thành một trong những công
ty tin học hàng đầu tại Việt Nam. Công ty cung cấp các dịch vụ CNTT cho
nhiều khách hàng trong và ngoài nước, trong đó có các cơ quan Chính phủ,
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc22
22
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp Nhà nước, công ty đa quốc gia và các nhà máy xí nghiệp - họ là
những đơn vị đang giữ vai trò trọng yếu trong nền kinh tế.
Ra đời ngay khi các hãng công ty hàng đầu thế giới như IBM, HP, Microsoft,
Oracle…đang ồ ạt tiến vào Việt Nam, Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tin học
HPT chủ động nắm bắt thời cơ và từng bước hoà nhập được với cuộc cạnh tranh
mang tầm cỡ toàn cầu này. HPT trở thành công ty tin học Việt Nam đầu tiên tại
TP.HCM được cấp chứng nhận về Hệ thống Quản lý Chất lượng phù hợp với
tiêu chuẩn ISO 9000. Đầu năm 2006, họ đã chính thức được tập đoàn Microsoft
cấp chứng nhận đối tác vàng (Microsoft Gold Cerified Partner), trở thành một
với liên doanh Canametal-box, Samsung Vina…; tạo được niềm tin với đối tác
Hewlett-Packard, được hãng uỷ quyền rất lớn cho HPT trở thành nhà cung cấp
các giải pháp ứng dụng phục vụ doanh nghiệp, những giải pháp rất hiện đại
lúc bấy giờ chạy trên các hệ máy tính mini HP9000 với hệ điều hành Unix-
UX, triển khai thành công Hệ thống máy tính HP9000 lớn đầu tiên tại Việt
Nam.
Tổng giám đốc HPT Ngô Vi Đồng chia sẻ : “điều mà chúng tôi tâm đắc
hơn cả là chúng tôi được truy cập vào kho dữ liệu trí thức khổng lồ của HP,
kho dữ liệu chỉ rành riêng cho nội bộ và các đối tác hàng đầu của HP. Chúng
tôi được thoải mái nghiên cứu những công nghệ mới, những ứng dụng hiện
đại. Chúng tôi còn học được nhiều từ nguồn tri thức này, đó là cách thức tổ
chức xây dựng công ty, kinh nghiệm quản lý điều hành, kinh nghiệm kinh
doanh phát triển thị trường. Những bài học quản lý được học từ một công ty
nổi tiếng về quản trị tuyệt hảo như HP, một công ty có bề dày hơn 60 năm
phát triển và thành công, đó là những giá trị rất hữu ích giúp cho HPT xây
dựng một chiến lược phát triển của riêng mình sau này”.
HPT hôm nay
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ánh Ngọc24
24
Đề án sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam
____________________________________________________________
We
bsite: Email : Tel (: 0918.775.368
Hoạt động của HPT ngày nay mở rộng trên khắp cả nước, có trụ sở chính,
4 chi nhánh tại TP. HCM và một chi nhánh tại Hà Nội. Các lĩnh vực dịch vụ
của HPT cũng được phát triển, mở rộng theo thời gian và đi liền với sự phát
triển, tăng trưởng của công ty với 5 mảng dịch vụ chính là : Phát triển phần
mềm và dịch vụ phần mềm; Cung cấp các giải pháp, sản phẩm CNTT; Dịch
vụ hỗ trợ kỹ thuật và bảo hành; Dịch vụ tư vấn và đào tạo - dịch vụ kế toán;
Xuất nhập khẩu và giao nhận hàng hoá. Trong đó, việc cung cấp giải pháp, sản