Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong 5 năm qua kể từ khi Bộ Chính Trị ra chỉ thị 58/CT-TW về đẩy
mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, và Chính Phủ ra Nghị Quyết số
07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm (CNPM)
trong đó xác định “CNPM là ngành công nghệ được khuyến khích đầu tư, Nhà
nước áp dụng mức ưu đãi cao nhất cho doanh nghiệp là CNPM” cho đến nay
có thể nói CNPM đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ. Tuy nhiên,
ngành công nghiệp non trẻ này cũng đang đối mặt với không ít những khó
khăn.
Nhờ những cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, cùng với sự
nỗ lực của các doanh nghiệp, hiệp hội, trong 5 năm qua ngành CNPM của
chúng ta đã có nhiều khởi sắc.
Đi sâu vào tình hình phát triển của các DNPM, có thể thấy vài năm gần
đây CNPM Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô
của nhiều DNPM, điển hình trong đó có các công ty lớn như FPT và TMA với
mức tăng trưởng nhân lực 75-100%/năm. Số lao động phần mềm của các công
ty này sắp đạt tới ngưỡng 1000 người. Cả nước cũng đã có khoảng 10 DNPM
có số lập trình viên từ 300-500 người, và khoảng hơn 10 DNPM có số lập
trình viên từ 100-300 người. Hiện nay, Việt Nam đã có 2 DNPM cao nhất về
quy trình quản lý chất lượng sản xuất phần mềm quốc tế CMMI-S, 5 DNPM
đạt CMM mức 3 hoặc 4, và trên 30 doanh nghiệp đạt ISO 9001. Ngoài ra có
rất nhiều doanh nghiệp khác cũng đang cố gắng phấn đấu để lấy chứng chỉ
CMM,CMMI hoặc ISO vào năm tới. Đây là những dấu hiệu rất đáng mừng về
năng lực phát triển của các DNPM Việt Nam.
Nhu cầu từ thị trường ngoài nước hiện đang tăng trưởng mạnh, và
1
DNPM quy mô lớn càng có cơ hội kiếm được nhiều khách hàng. Với các cơ
sở kinh doanh được 5 năm qua, cộng thêm sự hỗ trợ của Nhà nước, chắc chắn
giai đoạn tới sẽ có sự bùng nổ phát triển của các DNPM hàng đầu.
công nghệ cao.
Nhận thức về phần mềm và giá trị của chúng ngày càng trở nên phổ biến
trong đời sống xã hội nước ta. Tuy nhiên chỉ từ đầu năm 2000, khái niệm
phần mềm mới được Luật hoá trong Nghị định 76/CP về hướng dẫn thi hành
Bộ luật Dân sự và Quyết định 128/QĐ-TTg về phát triển CNPM.
Theo Khoản 1, Điều 2 c Quyết định 128, khái niệm phần mềm được
hiểu là:
Chương trình, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông
3
tin số hoá:
a) Chương trình là một tập hợp của các lệnh, câu lệnh được mô tả bằng
bất kỳ ngôn ngữ, mã hay hệ thống ký hiệu nào và được thể hiện hoặc lưu trữ
trong các vật mang tin (có hoặc không kèm theo các thông tin liên quan), được
dùng trực tiếp hoặc dùng gián tiếp sau khi qua một hoặc cả hai khâu sau:
- Chuyển đổi sang một ngôn ngữ, mã, hệ thống ký hiệu khác;
- Tái tạo sang một vật mang tin khác; làm cho một dụng cụ có khả
năng xử lý thông tin thực hiện một số chức năng nào đó
b) Tài liệu mô tả chương trình và tài liệu hỗ trợ là tài liệu được thể hiện
dưới bất kỳ dạng nào có nội dung mô tả chương trình, giới thiệu, hướng dẫn
cách cài đặt, sử dụng, nâng cấp, sửa lỗi hoặc các hướng dẫn khác liên quan
đến sử dụng và khai thác chương trình.
c) Nội dung thông tin số hoá bao gồm:
- Cơ sở dữ liệu là tập hợp dữ liệu được sắp xếp và lưu trữ dưới
dạng điện tử số hoá;
-Sưu tập tác phẩm số hoá là sưu tập tác phẩm được lưu trữ dưới
dạng điện tử số hoá.
CNPM là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực dịch vụ công nghệ cao. Phát
triển CNPM là một bộ phận quan trọng trong phát triển Công nghiệp CNTT,
là một lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu trong xây dựng chính sách, quy hoạch,
kế hoạch phát triển CNTT-TT ở quy mô quốc gia cũng tại nhiều địa phương,
Mỗi một quốc gia, một địa phương hay một DNPM khi phát triển đều
phải dựa trên 4 yếu tố mang tính chất nội lực nêu trên, tuy nhiên để có thể
phát huy được, 4 yếu tố trên cần được đặt trong môi trường thuận lợi (về kinh
tế, văn hoá, xã hội, pháp lý, cơ sở hạ tầng) mang tính chất nền tảng.
Các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển CNPM gọi đây Mô hình 4/1
5
3. Chính sách và các yếu tố liên quan đến chính sách phát triển
CNPM
Các chính sách quan trọng nhất của Việt Nam nhằm phát triển CNPM đã
được ban hành khá chi tiết và cụ thể từ đầu năm 2000, bắt đầu bằng Nghị
quyết 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000 về xây dựng và phát triển CNPM giai
đoạn 2000-2005, và sau đó là hàng loạt các văn kiện quan trọng khác của
Đảng, Chính phủ, thông tư của các bộ ngành có liên quan: Chỉ Thị 58-CT/TW
ngày 17/10/2000 của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT
trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005, Quyết
định 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 về một số chính sách và biện pháp
khuyến khích đầu tư và phát triển CNPM, Quyết định 81/2001/QĐ-TTg ngày
24/05/2001 phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ Thị 58-CT/TW
của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005, Quyết định
95/2002/QĐ-TTg ngày 17/07/2002 phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng
và phát triển CNTT ở Việt Nam đến năm 2005…
Trên góc độ Mô hình 4/1, nhiều công việc đã được thực hiện để mỗi một
trong 4 yếu tố và môi trường nền tảng đều có những cải thiện đáng kể-tuy
nhiên dường như ngành CNPM vẫn không tăng trưởng nhanh như mong
Thị trường
Nhân lực
xuất nhập khẩu phần mềm đặc biệt là chương trình, tài liệu mô tả chương trình
và tài liệu hỗ trợ được thực hiện nhanh chóng không gây phiền hà, ách tắc,
thiệt hại cho tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan”.QĐ 81 nhấn mạnh
lại một lần nữa : “Bộ Văn Hoá – Thông tin hướng dẫn, cải tiến những quy định
7
có liên quan đến xuất bản, xuất, nhập khẩu phần mềm”.
Thực tế thì đến nay các DNPM vẫn không được tự phát hành các sản
phẩm phần mềm dưới dạng đĩa CD do chính mình sản xuất ra. Các đĩa CD
phần mềm Made in Vietnam đều phải xin giấy phép thông qua một nhà xuất
bản nào đó. Có lẽ có rất ít ngành kinh tế mà sản phẩm của doanh nghiệp làm
ra khi đưa ra thị trường phải qua thủ tục nhiêu khê như vây. Phần nhập khẩu
cũng vậy, nhập một đĩa CD phần mềm trị giá 1000 USD từ nước ngoài (ở thời
điểm tháng 6/2003) vẫn có thề phải nộp thuế nhập khẩu 450 USD (45%) theo
mã thuế nhập khẩu số 85243190 liên quan đến “CD để tái tạo hình tượng
không phải âm thanh hoặc hình ảnh”.
Sở hữu trí tuệ
Nghị quyết 07 nêu rõ “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục trong toàn xã hội nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng và
bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm. Thực thi bảo vệ quyền tác
giả trong lĩnh vực này”.Việc bảo vệ quyền tác giả là một cuộc chiến lâu dài
nhằm từng bước giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam đang ở mức cao
nhất thế giới. Việc thực thi không nghiêm luật bản quyền đối với sản phẩm
phần mềm thực chất thể hiện việc không tôn trọng lao động chất xám đúng
mức và tạo tâm lý thiết lập một định mức tính giá làm phần mềm dưới ngưỡng
hoà vốn.
Chúng ta vẫn biết không thể để tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm ở
mức cao như vậy được, vẫn biết nếu tỷ lệ này cao thì không thể có ngành
CNPM đúng nghĩa, tuy nhiên các năm qua Nhà nước chưa có biện pháp mạnh
nào để cải thiện tình hình này.
8
một mảng thị trường khá lớn cho các DNPM. Thực ra thì Chỉ thị 58 cũng đã
lường trước việc này và quy định “Hình thành quỹ hỗ trợ, quỹ đầu tư khắc
phục rủi ro cho ứng dụng và phát triển CNTT”. Tuy vậy điều này vẫn chưa
được thực hiện cho đến thời điểm cuối năm 2005.
Đối với hai mảng thị trường lớn khác cho CNPM là doanh nghiệp và
người tiêu dùng cá nhân, thì ngoài quy định khuyến khích chi tiêu cho phần
mềm bằng cơ chế “sản phẩm và dịch vụ phần mềm được sản xuất và cung cấp
trong nước không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng” (QĐ 128), nhà
nước vẫn chưa đưa ra quy định gì cụ thể hơn, và thị trường phần mềm cho
doanh nghiệp và người dùng cá nhân vẫn đang phát triển một cách “tự giác”
và “tự phát” thiếu các định hướng và đòn bẩy lớn từ phía nhà nước.
3.3 Yếu tố nhân lực
Ngoài việc tăng cường tập trung đầu tư cho các Khoa CNTT tại các
trường đại học, chính phủ cũng đã thầy rằng không thể chỉ dựa vào hệ thống
đại học là có thể yên tâm về nguồn nhân lực cho ngành CNTT nói chung và
ngành CNPM nói riêng. Trong các nghị quyết, chỉ thị ban hành hàng năm,
điều này thường xuyên được nhấn mạnh:
- “Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo
nguồn nhân lực cho CNTT nói chung và CNPM nói riêng” (NQ 07, năm 2000);
- “Các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các cơ
sở đào tạo về CNTT. Các cơ sở này được hưởng các ưu đãi đối với các hoạt
động đào tạo về CNTT như đối với DNPM” (QĐ 128, năm 2000);
- “Xã hội hoá mạnh mẽ việc đào tạo CNTT” (CT 58, năm 2000);
- “Xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia
đào tạo nhân lực về CNTT” (QĐ 81, năm 2001);
- “Xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo về CNTT, khuyến khích các tổ chức
10
xã hội, các thành phần kinh tế và các cá nhân tham gia đầu tư phát triển nguồn
nhân lực CNTT” (QĐ 95, năm 2000).
dụng thuế thu nhập cá nhân ưu đãi cho người làm phần mềm. Đây chính là
chính sách mang tính khen thưởng “không thu cái đáng lẽ phải thu”, cho phép
các DNPM và nhân viên “giữ lại cái đáng lẽ phải nộp”. Chính sách này sẽ
phát huy tác dụng rất tốt nếu các DNPM ăn nên làm ra, tuy nhiên khi đa số
các DNPM đều lỗ hoặc lãi rất ít, thì chính sách trên không thể phát huy tác
dụng.
Chỉ dựa vào chính sách mang tính “khen thưởng” thì không thể giải
quyết được vấn đề tài chính cho ngành CNPM. Với tính chất là một ngành
công nghệ cao, nhiều rủi ro, đồng thời lại có tiềm năng sinh lợi lớn, việc tạo
cơ chế để huy động các nguồn vốn xã hội cho DNPM dưới dạng các quỹ đầu
tư mạo hiểm là rất cần thiết. Nghị quyết 07 năm 2000 cũng đã chỉ rõ điều này:
“Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và
các Bộ, ngành có liên quan thành lập và ban hành quy chế tổ chức, quản lý và
hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt là
CNPM”. Tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện.
3.5 Yếu tố công nghệ
Vai trò của công nghệ như biện pháp nâng cao năng suất lao động và tạo
ưu thế cạnh tranh của các DNPM chưa được quan tâm đúng mức trong các
văn bản, nghị quyết. Trong QĐ95 có nhắc đến các hoạt động khoa học - công
nghệ nhưng chưa đủ mạnh : “Nắm bắt được những tiến bộ công nghệ của thế
giới để thực hiện có hiệu quả việc thích nghi hoá và chuyển giao công nghệ
vào Việt Nam; từng bước giải quyết những vấn đề CNTT đặc thù của Việt Nam.
Khuyến khích thành lập các vườn ươm công nghệ có tiềm năng thương mại nảy
sinh từ các cơ sở nghiên cứu triển khai của các khu công viên phần mềm, các
viện, trường đại học và khu vực sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh
12
tế. Khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu - triển khai về CNTT trong
các doanh nghiệp CNTT thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng cường một số cơ
sở nghiên cứu chủ chốt về CNTT tại các viện và trường đại học thành lực
lượng nòng cốt về nghiên cứu và triển khai”.
khẩu của Ấn độ sẽ đạt con số 60 tỷ USD vào năm 2008.
CNTT Ấn độ chiếm 4,1%GDP, trong đó phần mềm dịch vụ chiếm 3,2%
GDP. Dự kiến đến năm 2008, CNTT Ấn độ sẽ chiếm 7% GDP. Trong ngành
công nghiệp CNTT của Ấn độ, phần cứng chỉ chiếm 21,3%, còn lại là phần
mềm/dịch vụ (58,6%) và ITES-BPO (20,1%).
7.1
9.2
12
15.2
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
2002-03 2003-04 2004-05 2005-06
Phần mềm và dịch vụ xuất khẩu phần mềm của Ấn độ
Tốc độ tăng trưởng phần mềm-dịch vụ của Ấn độ từ năm 1999 đến nay đều
khoảng 35-40%/năm, đóng góp cho GDP ngày càng cao (năm 1997: 1.2%,
năm 2005: 4.1%).
Quá trình hình thành
Giai đoạn 1: 10 năm 1985-1995, dựa vào giá rẻ, với sự ra đời của hàng
loại các DNPM nhỏ, tập trung vào các nội dung phát triển sản phẩm/ bảo trì.
Doanh số giai đoạn này không đáng kể, ở mức dưới 100 triệu USD/năm, giá
Service Lines
Delivery Model
Industry Structure
Peak Contract Size
Customer Profile
Industry value to
customers
Negligible
App dev &
Maintenance
Staff Aug.,
Onsite
Large no. of
Startups
<US$ 5,00,000
Large Fortune 100
Lower costs
US$ 1 billion
+ E-biz, ERP,
Y2K
Staff Aug.,
Onsite
Big 5 increase
Share and SME
growth
=US$ 5 million
Large Fortune
500
+ quality,
Productivity
Theo NASSCOM, hiện nay có khoảng 3000 công ty CNTT đang hoạt
động tại Ấn Độ. Năm 2005, Ấn Độ có 3 DNPM đạt doanh số xuất khẩu trên 1
tỷ USD/năm: TCS, Infosys và Wipro trong số đó TCS và Infosys đạt doanh
số xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD/năm. Top 20 doanh nghiệp xuất khẩu phẩn mềm
chiếm 69.4% tổng giá trị xuất khẩu phần mềm cả nước. Tỷ lệ này tăng dần từ
62% năm 2003 lên 68.7% năm 2004 và 69.4% năm 2005. Top 5 công ty hàng
đầu chiếm 45% , 5 công ty tiếp theo chiếm 13%, 10 công ty tiếp theo chiếm
11%, và các công ty còn lại chiếm 31%. Trong top 20, doanh số của từng
DNPM đạt mức gần 100 triệu USD/năm trở lên.16
Tỷ lệ doanh số xuất khẩu phần mềm của các DNPM Ấn Độ
* Càng lớn tăng trưởng càng mạnh
Các DNPM lớn khi vượt ngưỡng cũng tăng trưởng rất nhanh, với tốc độ
trung bình 30%/năm. Infosys chỉ cần 5 năm để nâng doanh số xuất khẩu phần
mềm của mình từ 100 triệu USD lên 1 tỷ USD
* Xu hướng phát triển của các DNPM Ấn Độ
Toàn cầu hoá : Thị trường xuất khẩu phần mềm chính của các DNPM Ấn
Độ là Mỹ (63%), sau đó là Châu Âu (24%). Hai thị trường này chiếm 87%.
Thị trường Nhật Bản đang ở con số khiêm tốn 3%. Trong các công việc gia
công, 45% khối lượng công việc được thực hiện tại Ấn Độ, 55% thực hiện tại
địa chỉ khách hàng. Các DNPM lớn của Ấn Độ có văn phòng đại diện hoặc
công ty chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới.
* Nhân lực của DNPM Ấn Độ
Nhân lực trong các DNPM của Ấn Độ tăng trưởng khoảng 30%/năm,
242 ngàn năm 2001-2002 lên 697 ngàn năm 2003-2004, và 813 ngàn năm
2005-2006. Một điều dễ nhận thấy DNPM lớn nhân sự lớn, năng suất cao :
các công ty lớn có vài chục ngàn nhân viên và tuyển thêm hàng chục ngàn
nào, và với các quốc gia, dựa vào các đánh giá có thể hình dung được tiềm
năng, điểm mạnh yếu của mình trong việc thu hút nguồn việc từ các nước
18
khác.
Thứ
hạng Nước
Tài
chính
Môi trường
kinh doanh
Nhân
lực Tổng
1 Ấn Độ 3.72 1.31 2.09 7.12
2 Trung Quốc 3.32 0.93 1.36 5.61
3 Malaysia 3.09 1.77 0.73 5.59
4 Czech 2.69 2.02 0.92 5.58
5 Singapore 1.47 2.63 1.36 5.46
6 Philippines 3.59 0.92 0.94 5.45
7 Brazil 3.17 1.41 0.86 5.44
8 Canada 1 2.48 1.94 5.42
9 Chi lê 2.99 1.68 0.7 5.37
10 Ba lan 2.88 1.57 0.88 5.33
11 Hungary 2.71 1.68 0.9 5.29
12 New Zealand 1.59 2.24 1.38 5.21
13 Thái lan 3.44 1.19 0.57 5.2
14 Mexico 3.12 1.26 0.74 5.12
15 Argentina 3.25 1.08 0.74 5.07
16 Costa Rica 3.06 1.33 0.67 5.06
17 Nam Phi 2.83 1.21 0.94 4.98
18 Australia 1.11 2.13 1.58 4.82
5. Thị trường phần mềm trong nước
5.1 Đánh giá chung
* Dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong 5 năm tới
Việc Việt Nam sẽ tham gia vào WTO đầu năm 2006 tuy là thách thức,
song cũng là cơ hội để nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển. Nếu những gì
diễn ra đối với Trung Quốc sau khi gia nhập WTO được coi là dự đoán của
nền kinh tế Việt Nam, thì Việt Nam có thể vẫn đạt được tốc độ phát triển kinh
tế 7– 8%/năm. Ngoài ra, việc Việt Nam không ngừng mở rộng hợp tác kinh tế
quốc tế, trong đó có Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy cơ hội kinh doanh
của các ngành sản xuất, dịch vụ, trong đó có CNTT sẽ ngày một cải thiện.
Trong một nền kinh tế năng động như vậy, cơ hội dành cho CNTT nói chung
và CNPM nói riêng là đã rõ. Vấn đề ở chỗ ngành CNPM trong nước có tận
dụng và phát huy được các cơ hội đó hay không ?
20
* Tiền đề để xây dựng ngành CNPM trong nước
Theo lý thuyết phát triển của Michael Porter, để một ngành công nghiệp có
thể phát triển cần có 4 yếu tố (còn gọi là mô hình kin cương) – đó là nội lực
của ngành công nghiệp, xuất phát điểm, các ngành công nghiệp có liên quan
và nhu cầu của thị trường. Đối với CNPM, xuất phát điểm chính là con người
Việt Nam. Nội lực được thể hiện chính ở nguồn nhân lực dồi dào để sản xuất
và làm dịch vụ phần mềm. Nhu cầu thị trường được thể hiện ở các ngành công
nghiệp dịch vụ, tạo cơ hội phát triển mới cho CNPM.
21
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP
PHẦN MỀM VIỆT NAM
1. Tổng quan về doanh nghiệp phần mềm
1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp CNTT là các doanh nghiệp được xem là chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực CNTT, nếu có trên một nửa số hạng mục đăng ký kinh
35% (70 đơn vị) sẽ bổ xung vào số đơn vị phần mềm “sống được” (Nguồn:
Báo Cáo Toàn Cảnh CNTT 2003 – HCA).
Tỷ lệ này không thực sự phán ánh tình trạng khó khăn của DNPM. Con
số 40% đơn vị đăng ký nhưng không hoạt động trong lĩnh vực phần mềm là số
doanh nghiệp không chủ yếu làm phần mềm.
Tỷ lệ tình trạng “sống được” là 35% này trong trường hợp các địa
phương chưa có số liệu thống kê đầy đủ hoặc chưa tổ chức khảo sát hoặc chưa
tổ chức khảo sát số doanh nghiệp thực sự hoạt động trong lĩnh vực phần mềm.
Như vậy, trong 200 doanh nghiệp đăng ký hoạt động phần mềm trên đây,
số doanh nghiệp thực sự hoạt động phần mềm là 120 đơn vị, trong số này có
50 đơn vị (40%) hoạt động sau một thời gian rồi ngưng và có 70 đơn vị (60%)
tồn tại được. Dù sao, số doanh nghiệp tồn tại được cũng không phải là khả
quan đối với một ngành có triển vọng như ngành CNPM. Cần phải nâng tỷ lệ
sống được từ 60% như hiện nay lên 70% - 80%.
1.4 Môi trường hoạt động của DNPM.
Trong kinh doanh, DNPM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Tuy nhiên, có thể nói rằng DNPM chịu tác động mạnh mẽ của
môi trương kinh doanh và môi trường xã hội. Các chính sách ưu đãi trong
CNPM và việc hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước là 2 yếu tố tích cực đến
23
sự phát triển CNTT tác động khá tiêu cực đến DNPM. Có thể nói các doanh
nghiệp CNTT nói chung và DNPM nói riêng đã chịu tác động mạnh mẽ của
môi trường kinh doanh và môi trường xã hội, trong đó có yếu tố quan trọng là
chính sách của Nhà nước và hoạt động của bộ máy quản lý từ cấp trung ương
đến các địa phương.
Trong các năm từ 2000 đến 2004, các chính sách của Đảng và Chính phủ
liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam đã được triển khai từng
bước, bắt đầu từ việc ban hành chiến lược, xây dựng kế hoạch tổng thể ứng
dụng và phát triển CNTT đến năm 2005, xây dựng các bộ máy cấp vĩ mô là
Bộ Bưu chính, Viễn thông; đổi mới Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT, kiện toàn
1.5 Đánh giá nhu cầu của các DNPM để hình thành và phát triển
Vốn
Vấn đề thiếu vốn để có thể thành lập, sản xuất và phát triển của DNPM
hiện nay chưa có giải pháp hỗ trợ nào được thực thi. Quy đầu tư mạo hiểm
hay còn được gọi là đầu tư triển vọng là một hoạt động kinh doanh không
nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng tìm nguồn vốn là vấn
đề của doanh nghiệp và của ngân hàng. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
thì phải vay vốn ở ngân hàng theo quy định cần thiết như thế chấp tài sản.
Điều này đúng trong trường hợp bình thường, phát triển ngành CNPM thì cần
tìm ra giải pháp có tính đột phá. Nhà nước cần chấp nhận một tỷ lệ tổn thất
trong việc hỗ trợ DNPM vay vốn. Đây cũng là yêu cầu để nâng cao tỷ lệ
“sống được” của DNPM. Sự tổn thất từ 60% đến 70% doanh nghiệp hoặc nếu
chỉ là 50% cũng là một tổn thất rất lớn không những về chi phí xã hội mà còn
làm chậm việc đạt được mục tiêu phát triển CNPM.
Nhân sự
DNPM không nêu vấn đề thiếu nhân sự, không nêu vấn đề nhân sự thiếu
trình độ mà nêu khó khăn vì nhân sự không ổn định. Như vậy, nhu cầu về
25