hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp phần mềm việt nam - Pdf 24

Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế
Phần 1: Lời mở đầu
Cuộc cách mạng Công nghệ thông tin cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã
đem lại những thành tựu vô cùng to lớn mở ra cho loài người một thời kỳ lịch
sử mới, xã hội mới chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri
thức. Những ứng dông Công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực cuộc sống của
con người ngày càng đa dạng và phát triển theo nhiều hình thức cấp độ khác
nhau. Liên tục có những phát minh những sáng chế được áp dụng ngay sau đó
nó trở nên lạc hậu và ra đời những phát minh sáng chế mới.Trong tình hình
thế giới diễn ra vô cùng sôi động đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin,
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật của tiến trình phát triển.Việc ứng
dụng thành tựu của Công nghệ thông tin vào nước ta đang ngày càng nhận
thức được tầm quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực sản phẩm phần mềm dịch
vô ưu thế của thế giới đang thuộc về mảng này . Chóng ta ứng dụng thành tựu
của Công nghệ thông tin xong một mặt cũng phải phát triển sáng tạo ra những
sáng chế mới áp dụng phù hợp với thực trạng đất nước mặt khác làm giảm chi
phí cho việc nhập khẩu các sản phẩm dịch vụ Êy.
Đối với các doanh nghiệp phần mềm hiện nay đó là bài toán nhức nhối
nhất làm thế nào để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và tạo
ra sản phẩm dịch vụ xuất khẩu ra thị trường thế giới khi mà tình trạng cạnh
tranh trong nước và trên thế giới diễn ra quyết liệt .
Nhà nước ta víi những chính sách phát triển Công nghệ thông tin nói
chung và Công Nghiệp Phần Mềm nói riêng đã đưa ra nhiều chương trình đề
án trong những năm qua. Bên cạnh những thành tích đạt được các doanh
nghiệp phần mềm Việt Nam còn tồn tại nhiều yếu điểm với những khó khăn
cản trở nh thị trường, các điều kiện nh nhân lực, công nghệ…
Bài viết của em với mục đích làm sáng tỏ tình hình hoạt động của các
doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, phân tích thấy được nguyên nhân của
những thực trạng và trình bàymột số giải pháp cho việc phát triển các doanh
nghiệp phần mềm Việt Nam. Do thời gian ngiên cứu không cho phép nên em

sách, nghị quyết tạo điều kiện cho Công nghệ thông tin phát triển. Ngày nay
việc phát triển kinh tế đất nước gắn liền với phát triển một ngành Công nghệ
thông tin tiên tiến kỹ thuật cao. Đó là xu hướng phát triển của nền khoa học
thế giới là điều kiện để Việt Nam mở cửa giao lưu học hỏi với nhiều nền kinh
tế trên thế giới.Đã có nhiều văn bản hướng dẫn, nhiều chương trình phát triển
Công nghệ thông tin gắn với từng giai đoạn cụ thể của đất nước :NQ07/CP
của chính phủ về xây dựng và phát triển Công Nghiệp Phần Mềm Việt Nam
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế
trong giai đoạn 2000-2005, nhiều chương trình đề án được thực hiện đặc biệt
là đề án 112 của Chính phủ về việc hướng dẫn ứng dông Công nghệ thông tin
toàn quốc. Đây là đề án tin học quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-
2005(gọi tắt là đề án 112). Đề án này được đặt ra với nhiều kỳ vọng ở cả hai
mục tiêu cơ bản: Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý cho các cơ
quan nhà nước và thúc đẩy mạnh mẽ hiện đại hóa công nghệ hành chính nhà
nước. Cho đến nay đề án này chưa thực sự hoàn thiện chưa đạt được mục tiêu
đề ra nhưng nó thể hiện sự quyết tâm của Đảng nhà nước ta quyết tâm phát
triển Công nghệ thông tin đưa Công nghệ thông tin ứng dụng vào mọi ngành
của nền kinh tế .
Trong Công nghệ thông tin mảng Công Nghiệp Phần Mềm đóng vai trò
quan trọng, nhiều cơ chế chính sách được ban hành vÓ phát triển Công
Nghiệp Phần Mềm từ NQ07/CP của chính phủ về phát triển Công Nghiệp
Phần Mềm, chỉ thị 58 của Bộ chính trị về phát triển Công nghệ thông tin cho
CNH-HĐH và NQ331/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế
hoạch phát triển nguồn nhân lực Công nghệ thông tin từ năm 2000-2010.
Ngoài ra còn nhiều chính sách ưu đãi khác như giảm thuế cho các doanh
nghiệp phần mềm.
Mục tiêu đặt ra của Việt Nam đến năm 2010 là đưa CN-Công nghệ thông
tin thành một ngành kinh tế quan trọng có chỗ đứng vững chắc trên thị trường
nội địa và bước đầu xuất khẩu ra thị trường Quốc tế.Vào năm 2010,Việt Nam

nhằm cải thiện thị trường trong nước tạo điều kiện để các doanh nghiệp phần
mềm Việt Nam hoạt động được ngày càng nâng cao tính hiệu quả của mình.
B.Tình hình hoạt động các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
I. Thực trạng các doanh nghiệp phần mềm
Trong tiến trình xu thế thế giới, Công Nghiệp Phần Mềm được đánh giá
là ngành kinh tế mang hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, có tiềm năng xuất
khẩu và là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển biết nắm đúng thời cơ tạo
động lực đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước. Bên cạnh đó ngành Công
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế
Nghiệp Phần Mềm cũng được đánh giá là ngành siêu lợi nhuận với tốc độ rất
nhanh.Từ năm 1965-1995 trong vòng 30 năm doanh thu phần mềm thế giới
tăng 900 lần (từ 0.3 tỷ USD lên 257.3 tỷ USD ).Từ năm 1996 đến nay tốc độ
tăng trưởng trung bình 10-25% gấp 3 đến 5 lần tỷ lệ tăng trưởng GDP của thế
giới .
Trên thực tế các nước càng phát triển thì nhu cầu phần mềm và dịch vụ
càng lớn vượt quá khả năng cung cấp cũng như nguồn nhân lực của chính họ
đã dẫn đến sự thiếu hụt về nhân lực phần mềm ngày càng nhiều và giá nhân
công ở nước đó ngày càng cao.Theo nghiên cứu của các chuyên gia nếu như
những năm 80 của thế kỷ trước ưu thế doanh nghiệp phần mềm thuộc về các
nước công nghiệp như Mỹ (57%), Nhật, Pháp, Đức, Anh, Canada (37%) thì
nay lại đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển như Ên
Đé, Trung Quốc.
Việt Nam cũng nằm trong khu vực được đánh giá có tốc độ phát triển
phần mềm cao là điều kiện thuận lợi tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta đẩy
mạnh phát triển ngành Công Nghiệp Phần Mềm nước nhà đưa nền kinh tế
phát triển.Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Chính phủ đã đề ra mục tiêu
đưa ngành Công Nghiệp Phần Mềm trở thành một ngành kinh tế mòi nhọn và
để thực hiện mục tiêu đó, Chính phủ đã có nhiều chính sách khuyến khích
phát triển ngành này. Song thực tế cho đến nay kết quả đạt được so với mục

doanh nghiệp trên 15 năm. Xét theo quy mô đơn vị có nhân lực Ýt hơn 50
người chiếm đến 82 %. Doanh nghiệp có nhân lực trên 50 người là 17% và từ
500-1000 chỉ chiếm con số rất hạn chế là 1%. Đi đôi với doanh thu bình
quân/năm của các doanh nghiệp còng ở mức rất khiêm tốn dưới 500 triệu
đồng là 35%, 750-1.5 tỷ đồng là 19%, 7.5 -15 tỷ đồng là 7%, 15-30 tỷ đồng
là 2 %. Những con số thống kê trên phần nào phản ánh được bức tranh toàn
cảnh về doanh nghiệp phần mềm ở thành phố còng nh các doanh nghiệp phần
mềm Việt Nam hiện nay.
2. Nguồn nhân lực
Con người là nhân tố chính của lực lượng sản xuất phần mềm, điều hành
và tác động vào sự hoạt động và phát triển của ngành Công nghệ thông tin do
đó đòi hỏi những người hoạt động trong Công nghệ thông tin nói chung và
Công Nghiệp Phần Mềm nói riêng phải có trình độ am hiểu thực sự. Nhưng
đối với nước ta theo các chuyên gia cho rằng Nguồn nhân lực vẫn là bài toán
khó nan giải bởi sản xuất phần mềm có quy trình nên việc tuyển chọn lập
trình viên dùa trên chuẩn mà nội dung chương trình giảng dạy các trường đại
học nước ta chưa thể đáp ứng nhu cầu so với tốc độ phát triển thực tiễn
Theo số liệu thống kê của Bộ Bưu chính Viễn thông, năm 2002 cả nước có
khoảng 8000 nhân sự trực tiếp làm phần mềm. Năm 2003 con số này đã tăng lên
khoảng 12000 người. Năm 2004 có khoảng 15000 người trong khi đó nhu cầu
nhân lực Công nghệ-Công nghệ thông tin năm 2005 tăng từ 30-40% lín nhất
trong 39 nhóm ngành nghề. Công ty FPT mét công ty sản xuất phần mềm theo
kế hoạch kinh doanh đòi hỏi đến năm 2009 phải có 2000 lập trình viên và đến
năm 2014 là 10000-17000 nhân viên. Một số ví dụ khác như công ty Hài Hòa
chuyên viết phần mềm, hàng năm tăng trưởng của công ty là 30 %, doanh số
bình quân /người là 10 nghìn USD /năm. Hiện nay chỉ có khoảng 150 nhân viên
nhưng có nhiều hợp đồng không làm hết việc thậm chí còn nhiều dự án công ty
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế
phải từ chối vì không bố trí đủ nguồn nhân lực. Khi tuyển chọn hàng năm nép

đáp ứng tốt với công việc, các doanh nghiệp phần mềm hiện nay đang thay
đổi cách tiếp cận với vấn đề nhân sự. Bằng cách này hay cách khác, nhiều đơn
vị làm phần mềm năng động đang cố gắng thể hiện mình bằng cách tiếp thị
hình ảnh để thu hót nhân công. Bên cạnh đó doanh nghiệp tham gia trực tiếp
vào tiến trình đào tạo nguồn nhân lực như hợp tác trao học bổng tài trợ Xây
dựng thương hiệu cho công ty cũng như cho các sản phẩm của công ty.
Sù thiếu nhân lực trong ngành Công Nghiệp Phần Mềm đã gây nên sự
bất ổn về nhân lực trong ngành.Việc tuyển dụng những cán bộ đủ trình độ đã
khó nhưng làm thế nào để các doanh nghiệp phần mềm giữ chân họ lại được
trong công ty thì càng khó hơn. Hiện nay nhiều công ty có môi trường làm
việc không chuyên nghiệp và không có điều kiện để phát triển, không Ýt công
ty có môi trường làm việc mang tính gia đình, chưa có cung cách làm việc
chuyên nghiệp, chưa sử dụng người đúng nơi đúng chỗ. Sự bất ổn về nhân sự
đang là tình trạng chung của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam.TP Hồ
Chí Minh là nơi tập trung nhiều nhất các công ty tin học và cũng có sự phát
triển nhanh nhất. Hơn 90 % doanh nghiệp phần mềm trên địa bàn có quy mô
vừa và nhỏ. Người sáng lập công ty hầu hết là những kỹ sư trong lĩnh vực
Công nghệ thông tin, có kiến thức chuyên môn nhưng thiếu kinh nghiệm
trong thương trường. Khi công ty mở rộng quy mô thì họ quản lý không nổi.
Nguồn tuyển dụng ban đầu thường là các sinh viên mới tốt nghiệp. Khoảng 6
tháng trở đi khi các nhân viên này có kinh nghiệm nhất định thì họ bỏ sang
công ty khác thương là các công ty của nước ngoài có mức lương cao hơn và
môi trường làm việc hấp dẫn hơn.Vấn đề đặt ra ở đây là sự thành công của
doanh nghiệp nhưng không phải ở khâu kỹ thuật mà cốt lõi của nó là ở khâu
quản lý. Để doanh nghiệp đạt hiệu quả khả năng quản trị của nhà quản lý là
40%, chuyên môn 30%, còn lại là các khả năng khác. Người lãnh đạo phải
biết chia sẻ với nhân viên, đưa ra khảo sát tháo gỡ khó khăn về chuyên môn
khi cần thiết và cũng phải có tầm nhìn đúng đắn cho từng giai đoạn cụ thể của
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

đó có nghĩa là cơ hội lớn hơn ở khu vực quốc tế.Tuy nhiên hiện nay nhiều
công ty phân tích không có đủ điều kiện để theo đuổi những hợp đồng như
thế. Bởi khi đã bước ra thị trường quốc tế các công ty phải có quá trình kiểm
soát chất lượng, có hồ sơ thành tích đầy đủ để thu hót các khách hàng quốc tế
cũng như cơ sở hạ tầng và về tiếp thị và bán hàng để được biết tiếng với
khách hàng tiềm năng .
Thông qua nhiều hình thức khác nhau, từng bước các doanh nghiệp phần
mềm Việt Nam đã xuất khẩu được một số phần mềm sang một vài thị
trường.Tuy nhiên doanh số xuất khÈu chủ yếu là gia công phần mềm, chỉ có
mét sè Ýt là phần mềm đóng gói.Trong thực tế công nghiệp phần mềm Việt
Nam chưa có một chỗ đứng vị trí nào trên thị trường thế giới. Kim ngạch xuất
khẩu phần mềm (chủ yếu là gia công phần mềm) chiếm khoảng 10% tổng giá
trị doanh thu của ngành công nghiệp phần mềm.Trong khi đó, thị trường phần
mềm thế giới đạt khoảng 500 tỷ USD và hàng năm có tốc độ tăng trưởng
khoảng 10-15%. Phần lớn sản lượng phần mềm thế giới là do nền kinh tế Mỹ
và Tây Âu tạo ra. Một đặc điểm quan trọng của thị trường phần mềm thế giới
là các công ty tin học lớn chủ yếu là của Mỹ và Tây Âu đang chi phối khống
chế thị trường nhờ những ưu thế tuyệt đối về trình độ kỹ thuật và công nghệ,
vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lớn, đội ngò nhân viên và lập trình
viên giỏi. Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể vào các thị trường
đó. Phần lớn doanh thu xuất khẩu phần mềm của các công ty Việt Nam là từ
gia công cho các công ty lớn này hoặc phân phối sản phẩm phần mềm qua
mạng lưới tiêu thụ của họ. Như vậy có thể thấy được năng lực sản xuất của
các công ty phần mềm Việt Nam còn nhỏ bé. Các công ty phần mềm, sản
phẩm và lao động phần mềm Việt Nam đều chưa đủ sức cạnh tranh trên thị
trường thế giới .Thêm vào đó nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam cũng
đang thiếu nhân lực để sản xuất ra những phần mềm đạt tiêu chuẩn chất
lượng, cũng như không đủ nguồn lực để thuê các chuyên gia, kỹ sư giỏi. Khi
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

cạnh đó rất nhiều doanh nghiệp và tổ chức chỉ mua phần mềm có giá trị thấp
hoặc đặc biệt thấp. Đối với những khách hàng này giá cả đối với họ lại rất
quan trọng .Những khách hàng này muốn rằng số vốn đầu tư hạn chế họ có
thể có được các chương trình phần mềm giải quyết được các vấn đề của họ.
Hiện nay, số lượng khách hàng quan tâm đến giá thấp dễ sử dụng, đáp ứng
được các tiêu chuẩn quốc tế, thích nghi được các hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam vẫn đang chiếm số đông trên thị trường. Đây là một tiêu chuẩn rất khó
đáp ứng đối với các công ty phần mềm trong nước. Ngay trên thị trường
doanh nghiệp Hà Nội kết quả điều tra cho thấy : Đa số các doanh nghiệp vẫn
đang tận dụng bộ office của Microsoft vào trong kinh doanh là một trong
những giải pháp phần mềm không cao trong khi loại hình doanh nghiệp này
lại rất phù hợp với khả năng của đa số doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
.Cùng với đó mới chỉ có 23,2% doanh nghiệp áp dụng các giải pháp phần
mềm nhỏ lẻ phục vô kinh doanh như kế toán, quản lý nhân sự, quản lý kinh
doanh…
Như vậy trong nhận thức và điều kiện của doanh nghiệp (người mua
sắm giải pháp phần mềm) hiện vẫn đang còn nhiều yếu tố cản trở họ với nhà
cung cấp. Còn đối với các nhà cung cấp (các công ty phần mềm ) cũng đang
gặp khó khăn trong nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu tiêu dùng, khả
năng phát triển các giải pháp phù hợp với các doanh nghiệp ứng dông .
4. Sản phẩm
Theo nghiên cứu của hội tin học TP Hồ Chí Minh cho thâý các doanh
nghiệp phần mềm không hoàn toàn chuyên môn hóa phần mềm mà thường
kinh doanh cả phần cứng, cung cấp các giải pháp khác dẫn đến hoạt động
kinh doanh phần mềm trong nội bộ doanh nghiệp thường bị tranh chấp bởi
các nguồn lực với các hoạt động khác. Bên cạnh đó sự tập trung sản xuất và
cung ứng quá mức vào một sản phẩm đã dẫn đến tình trạng trùng lặp trong
sản xuất và cung cấp các sản phẩm phần mềm giữa các doanh nghiệp làm cho
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

lượng vốn đầu tư lớn trong khi sản phẩm này bị sao chép bất hợp pháp và
được bán trên thị trường với giá chỉ 10.000 đồng/ 1đĩa CD. Thực trạng này
cũng làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài đang có ý định đầu tư vào lĩnh
vực này ở Việt Nam .
Bảo hộ bản quyền được coi là điều kiện quan trọng để phát triển Công
Nghiệp Phần Mềm thì theo nhận định của các chuyên gia hàng đầu về Công
nghệ thông tin,Việt Nam đang là một trong các nước có tỷ lệ sử dụng phần
mềm trái phép cao nhất thế giới. Hầu hết các phần mềm được sử dụng đều do
sao chép mà có. Riêng với Microsoft tập đoàn chuyên gia về phần mềm hàng
đầu thế giới thì sử dụng phần mềm này không có giấy phép lên tới 97% tại
Việt Nam. Các dạng vi phạm bản quyền thường là người sử dụng sao chép lại,
làm đĩa lậu, hàng giả, cài trước vào máy, qua internet, đánh cắp bản quyền
phần cứng và copy sách Công nghệ thông tin
Không chỉ các phần mềm nước ngoài bị vi phạm mà các doanh nghiệp
phần mềm trong nước không Ýt lần lên tiếng kêu cứu về việc vi phạm bản
quyền mà không có cách nào giải quyết. Điển hình là công ty tin học Lạc Việt
với phần mềm từ điển LạcViệt hiện đang được cài đặt hầu như tất cả các máy
tính cá nhân đang được sử dụng tại Việt Nam. Một số công ty phần mềm khác
chọn cách thức tiếp cận Ýt nguy hiểm hơn là sản xuất phần mềm chuyên
ngành theo các hợp đồng đặt trước. Đây là bước đi khá khôn khéo trong bối
cảnh tình hình lộn xộn đang diễn ra ở nước ta mà chưa cã biện pháp nào giải
quyết nổi .
II.Nguyên nhân của những thực trạng trên
1. Thiếu nguồn vốn đầu tư
Bản thân các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đa số là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ lại mới thành lập đi vào hoạt động kinh doanh chưa lâu
nên lợi nhuận chưa cao chưa có nhiều vốn để gây tạo quỹ cho đầu tư lớn. Mặt
khác để mở rộng quy mô mua sắm công nghệ cần rất nhiều chi phí nên hiện
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

quảng bá thương hiệu tiếp thị để níu kéo nhân viên những người có trình độ
cao tiếp tục ở lại cống hiến cho công ty mình. Môi trường làm việc, chính
sách ưu đãi của công ty vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy mà nhân
lực trong công nghệ phần mềm luôn luôn bị biến động rơi vào tình trạng bị
động .
3.Thị trường
Là vấn đề bức xóc của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Hai vướng mắc lớn
của doanh nghiệp trong vấn đề thị trường là thiếu thông tin và thị trường
không ổn định. Trong đó thiÕu thông tin là trầm trọng nhất. Doanh nghiệp
ngoài việc tự bản thân phải thu thập thông tin còn cần được hỗ trợ từ phía nhà
nước những thông tin về nhu câù thị trường .
Đối với thị trường nội địa khách hàng lớn nhất là khu vực nhà nước.
Theo các chuyên gia, hàng năm doanh nghiệp cần được thông báo công khai
đầy đủ và cùng lúc về nhu cầu thực hiện các dự án phát triển Công nghệ
thông tin của các bộ ngành TW cũng như các cơ quan của tất cả các địa
phương. Cần xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan quản lý Công
nghệ thông tin các cấp.
4. Kỹ năng quản lý
Phần lớn các doanh nghiệp phần mềm đều mới thành lập, các cán bộ
lãnh đạo công ty đa số tốt nghiệp từ các trường Công nghệ thông tin còn non
trẻ nhiệt tình năng động nhưng thiếu kinh nghiệm thực tế và kỹ năng quản
lý.Trong khi đó để doanh nghiệp hoạt động thành công thì lãnh đạo công ty
không phải chỉ là người có chuyên môn tốt mà còn phải là người có kỹ năng
quản lý biết nhìn người dùng người vào vị trí tương xứng với trình độ của họ,
có tầm nhìn chiến lược những chính sách nhân lực cho công ty tạo nên môi
trường hấp dẫn và hình ảnh quảng bá về công ty thu hót lập trình viên giỏi về
cho công ty mình .
5. Sự bất cập trong chính sách và luật pháp
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

ra sự lạc quan về một ngành công nghiệp được đánh giá then chốt động lực
phát triển kinh tế đất nước.
Đặc biệt năm 2004, là năm được đánh giá ngành công nghiệp phần mềm
có tốc độ phát triển cao nhất. Tổng giá trị phần mềm Việt Nam gia công là
170 triệu USD trong đó xuất khẩu là 45 triệu USD.
Theo đánh giá của Hiệp Hội Công Nghiệp Điện Tử Châu Á-Châu Thái
Bình Dương(ASOCIO), Việt Nam là một trong 25 quốc gia hấp dẫn về gia
công phần mềm thế giới. Ở các thị trường nh Mỹ, Hunggary đặc biệt Nhật
Bản, uy tín các doanh nghiệp phần mềm nghiệp phần mềm Việt Nam ngày
càng được nâng cao, chỉ đứng sau các doanh nghiệp Trung Quốc, Ên Độ và
Hàn Quốc. Hiện nay khoảng 80%-90% doanh thu của nhiều doanh nghiệp
Việt Nam chủ yếu nhờ vào xuất khẩu.Hiện Việt Nam có hơn 600 doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gia công phần mềm với khoảng 15000 kỹ sư
và kỹ thuật viên. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ quốc tế
về phát triển phần mềm CMM, Đặc biệt có hai doanh nghiệp là FPT và PSV
đó đạt chứng chỉ CMM ở mức cao nhất–CMM5. FPT không những đã xây
dựng được hình ảnh một tổ chức phần mềm đẳng cấp quốc tế mà chất lượng
các dự án ngày càng được nâng cao đã mang lại những lợi Ých cho công ty
cũng như các khách hàng của mình. CMM mức 5 chứng nhận việc quản lý
chất lượng phần mềm và quản lý quy trình theo kỹ thuật thống kê, khẳng định
FPT có đủ năng lực quản lý thay đổi về công nghệ về quá trình và ngăn chặn
lỗi trong các dự án để đáp ứng yêu cầu của khách hàng song song với mục
tiêu kinh doanh đối với chiến lược phát triển phần mềm.
Trong 5 năm qua, FPT đã phát triển đội ngò 13 thành viên ban đầu với 0
kinh nghiệm, 0 khách hàng trở thành một công ty với 2 trung tâm phát triển
phần mềm tại HITC Hà Nội và E-Town HCM với hơn 300 lập trình viên và
mạng lưới hơn 30 khách hàng khắp Âu, Mỹ, Nhật, Óc, ASEAN…Trong đó có
những tên tuổi như IBM, NTT, Hitachi, Sanyo…
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

cũng là cơ hội để các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam học hỏi kinh nghiệm
quản lý.
Cùng với việc mở rộng quan hệ để tìm kiếm khách hàng trong những
năm qua, các doanh nghiệp phần mềm trong những năm qua đã luôn chú
trọng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đã có hàng trăm kỹ
sư phần mềm được cử đi tu nghiệp tại Nhật Bản theo chương trình học bổng
AOTS của Nhật Bản và các chương trình đào tạo quản lý chất lượng phần
mềm khác.
Với sù phát triển bùng nổ của Công nghệ thông tin các doanh nghiệp phần
mềm Việt Nam đang nỗ lực hết mình để cải tiến sản phẩm đáp nhu cầu thị
trường trong nước, có chiến lược hoạch định nâng cao trình độ công nghệ,
nhân lực, thu hót vốn để có thể vươn ra thị trường quốc tế khẳng định tên tuổi
vị thế của mình. Có thể nói những thành tựu các doanh nghiệp phần mềm Việt
Nam đã đạt được ở trên không phải là những thành tích xuất sắc nổi bật
nhưng nhìn lại hiện trạng bối cảnh Công nghệ thông tin Việt Nam hiện nay thì
đó cũng là những thành tựu đáng kể mà các doanh nghiệp phần mềm Việt
Nam đã đạt được và chúng ta có thể lạc quan về ngành công nghiệp phần
mềm nước nhà. Trong tương lai không xa nữa họ có thể khẳng định được vị
thế của mình là ngành công nghiệp mòi nhọn, là đầu tầu cho phát triển các
ngành khác và đạt được mục tiêu chiến lược phát triển Công nghệ thông tin
trong giai đoạn 2006-2010 và trong các giai đoạn tiếp theo.
C.Giải pháp cho các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
1. Phát triển nguồn nhân lực
Đây là giải pháp được đặt lên hàng đầu đánh giá vai trò trung tâm của con
người với sự phát triển của Công nghệ thông tin nói chung và ngành Công
Nghiệp Phần Mềm nói riêng. Để đưa ngành này thực sự phát triển trong thời
gian tiếp thì đào tạo nguồn nhân lực Công Nghiệp Phần Mềm là việc làm cấp
bách và lâu dài. Đó là chiến lược của nhà nước và của hầu hết các doanh
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế

dụng nhiều tại các công ty tin học hàng đầu trên thế giới, giúp cho những
người đã tốt nghiệp ngành nghề Công nghệ thông tin có thể cập nhật kiến
thức mà không phải rời bỏ nơi làm việc của mình .
Các trường đại học và trung tâm đào tạo Công nghệ thông tin cần cập nhật
nguồn thông tin về công nghệ mới, kỹ năng làm việc từ phía các doanh
nghiệp để cập nhật vào chương trình đào tạo của mình bởi Công nghệ thông
tin là một ngành có tốc đé thay đổi rất nhanh hàng tháng, tuần trong khi đó
hiện nay ở nước ta các trường đại học và cao đẳng chỉ được cập nhật theo
từng năm.
Phát triển Công nghệ thông tin là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và
cần thiết với sự phát triển của đất nước nên rất cần sự hỗ trợ với những chính
sách tích cực từ phía nhà nước. Nhà nước nên vạch ra những chương trình
đào tạo cụ thể. Ví dụ chương trình đào tạo 500 kỹ sư phần mềm theo tiêu
chuẩn đào tạo được xây dựng từ trước, định hướng đào tạo 20000 lập trình
viên cho thị trường Nhật Bản. Thành phố Hồ Chí Minh sẽ xác định danh sách
những trường đại học hoặc cao đẳng được đặt hàng đào tạo cho các dự án
cung cấp nguồn nhân lực và chương trình đào tạo đó sẽ phối hợp giữa các
trường và doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng.
Từ phía các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp nên dự báo nhu cầu
tuyển dụng từ sớm để các cơ sở đào tạo có thời gian chuẩn bị giáo trình,
phương án thực hiện. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ tiến hành
đầu tư cụ thể vào các cơ sở đào tạo để chủ động hơn trong việc tìm kiếm
nguồn nhân lực chất lượng cao. Các doanh nghiệp nên phối hợp với các
trường đại học, trung tâm đào tạo để hình thành chuẩn chung về Công nghệ
thông tin. Có như vậy chúng ta hy vọng rằng trong các năm tiếp theo nguồn
nhân lực Công nghệ thông tin sẽ tăng về mặt số lượng mà còn cả chất lượng
và không bị rơi vào tình trạng khủng hoảng như hiện nay nữa.
2.Tăng cường gia công xuất khẩu phần mềm
Đề án môn học Khoa Tin học kinh
tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status