Thụ thể insulin và sự điều hòa lượng đường trong máu - Pdf 69


26
Chương 8
Thụ thể insulin và sự điều hòa lượng đường trong
máu
8.1 Khái niệm về thụ thể insulin
Receptor dành cho insulin chính là một protein kinase chuyển nhóm phosphat từ ATP
đến cho nhóm hydroxyl của gốc tyrosine (không phải cho Ser hoặc Thr). Thụ thể insulin gồm
có hai chuỗi α giống nhau nhô ra phía mặt ngoài của màng sinh chất và hai tiểu đơn vị β
xuyên màng có tận cùng C nằm ở phía nội bào. Các chuỗi α chứa các vùng liên kết với
insulin và các chuỗi β có vùng hoạt tính tyrosine kinase.
Insulin liên kết với các chuỗi α, hoạt hoá hoạt động tyrosine kinase của các chuỗi β.
Trước tiên enzym phosphoryl hoá các gốc tyrosine của chính bản thân chuỗi β và sự tự
phosphoryl hoá này tạo cho enzym tiếp tục phosphoryl hoá các protein khác của màng hoặc
của tế bào chất (cytosol). Mặc dù trình tự chi tiết của các sự kiện cho phép hiểu biết sâu sắc sự
kích thích của insulin đối với quá trình hoạt hoá chưa được đầy đủ nhưng dường như sự liên
kết của insulin với thụ thể của nó sẽ khởi đầu một dòng thác (cascade) phosphoryl hoá, trong
đó thụ thể hoạt hoá protein kinase thứ hai, tiếp theo protein lại hoạt hoá protein thứ ba hoặc
serine kinase hoặc threonine kinase. Cuối cùng sự phosphoryl hoá các gốc Ser hoặc Thr làm
biến đổi hoạt tính của một hoặc nhiều enzym quan trọng đối với chức năng của tế bào. Như
vậy, insulin đã tác động trúng đích của nó.
Các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường typ II đối kháng insulin vẫn tiết insulin bình thường
nhưng các mô của chúng không trả lời đối với insulin của bản thân hoặc đối với insulin được
tiêm vào cơ thể. Ở những người mắc bệnh này vùng hoạt tính tyrosine kinase của thụ thể
insulin đã bị đột biến. Insulin vẫn liên kết bình thường với thụ thể đã đột biến nhưng vùng
tyrosine kinase của thụ thể bị bất hoạt và hậu quả liên kết của insulin không xảy ra theo
hướng bình thường. 27
Thụ thể insulin có dạng cấu trúc phân tử giống với hàng loạt thụ thể hormon khác và

một phần trong thận và ruột. Glycogen ở cơ gấp 2 lần ở thận. Glycogen ở cơ không thể có sẵn

28
để cung cấp cho các mô vì cơ thiếu enzyme glucose-6-phosphatase. Glycogen tích luỹ ở gan
được xem là chất dự trữ chính của đường trong máu.
Khi cơ thể mệt mỏi, dấu hiệu của sự thiếu glucose, thì glycogen sẽ bị phân giải. Sự điều
hoà lượng đường trong máu được thực hiện thông qua 2 con đường chính là phân giải và tổng
hợp glycogen.
8.2.1 Điều hoà phân giải glycogen
Quá trình phân giải glycogen được thực hiện nhờ enzyme glycogen phosphorylase. Nó là
một enzyme đồng nhị chuỗi, có 2 dạng đồng phân là mạch thẳng T và dạng hoạt động R. Khi
ở dạng R, chúng có thể liên kết với glycogen. Cấu trúc R này được tăng cường nhờ sự liên
kết của ATP và bị ức chế bởi việc liên kết với ATP hoặc glucose-6-phosphate. Nhờ quá trình
phosphoryl hoá mà enzyme này thực hiện quá trình biến đổi hoá trị như một cách để điều hoà
hoạt tính của nó. Hoạt tính tương đối của enzyme phosphorylase không bị cải biến tạo ra
glucose-1-phosphate, xâm nhập vào quá trình phân giải glycogen, cung cấp ATP để duy trì sự
sống. Khi lượng đường trong máu thấp, tuyến tuỵ tiết ra glucagon, một polypeptit dài 29 acid
amin, liên kết với các thụ thể bề mặt tế bào gan và một vài tế bào khác, làm hoạt hoá
adenylate cyclase. Việc hoạt hoá này đã dẫn tới việc tăng cường sự hình thành cAMP. Khi
cAMP liên kết với các tiểu đơn vị điều hoà của PKA sẽ dẫn tới việc giải phóng và hoạt hoá
tiếp của các tiểu đơn vị có chức năng xúc tác. Các tiểu đơn vị sau đó sẽ bị phosphoryl hoá một
số protein chứa gốc Serine và Threonine. Sự phosphoryl hoá của enzyme PKA sẽ hoạt hoá
enzyme này rồi bản thân nó sẽ phosphoryl hoá enzyme phosphorylase-a bất hoạt thành dạng
phosphorylase -b. Ezyme phosphorylase b sau đó tăng hoạt tính và tiến hành phân huỷ
glycogen. Cùng lúc đó, quá trình phosphoryl hóa glycogen synthase lại kìm hãm hoạt động
của enzym này. Dạng bất hoạt của glycogensynthase chính là dạng đã bị phosphoryl hoá.

Kinase phô
thuéc
Calmodulin

Adrenalin
Thô thÓ α -
adrenergic
l−íi néi chÊt
Hình 8.3. Điều hoà phân giải glycogen bằng kinase của phosphorylase
Nhờ sự hoạt hoá epinephrine đối với các thụ thể α-adrenergic, các thành viên tham gia
vào quá trình phân giải glycogen như sau:
− PLC-γ: phospholipase C-γ.
− PIP2: phosphatidyl inositol - 4,5- bisphosphate, cơ chất của PLC-γ.
− IP3: inositol triphosphate.
− DAG: diacyl glycerol.
− PK: Phosphorylase kinase (kinase của phosphorylase)

30
Thụ thể α-adrenergic ghép cặp thông qua protein G để hoạt hoá PLC-γ, qua đó làm tăng
sự thuỷ phân của PIP2 màng tế bào, tạo ra sản phẩm là IP3 và DAG. DAG liên kết và hoạt
hoá PKC (Protein kinase C), một enzyme phosphoryl hoá nhiều cơ chất. Một trong những
enzyme được phosphoryl hoá nhờ PKC là glycogen synthase. Khi IP3 liên kết với thụ thể trên
bề mặt của lưới nội chất, sẽ giải phóng ra Ca ++. Ca++ sau đó sẽ tương tác với các tiểu đơn vị
calmodulin của PK (kinase của phosphorylase) rồi hoạt hoá PK. Ca++ cũng hoạt hoá PKC
khi liên kết với DAG. Để kết thúc hoạt động của enzyme hoạt hoá glycogen phosphorylase
cần phải có quá trình loại bỏ nhóm phosphate để cho enzyme đã hoạt hoá trở về dạng enzyme
bất hoạt. Trong trường hợp Ca++ cảm ứng sự hoạt hoá thì nồng độ Ca+ giải phóng ra từ tế
bào cơ phải được kết thúc khi các tín hiệu thần kinh ngừng lại. Sự loại bỏ nhóm phosphate
của PK đối với phosphorylase b được thực hiện nhờ enzym phosphoprotein phosphatase (PP-
1). Đây là enzym phân giải tách gốc phosphate của các phospho – protein. Hoạt tính của PP1
cần phải được điều hoà khi các gốc phosphate định vị trên các enzyme đó được loại bỏ ngay.
Điều này sẽ được hoàn thành khi PP1 liên kết với chất ức chế PPI-1. PPI chỉ liên kết được với
PP1 khi nó bị phosphoryl hoá bởi PKA. Đồng thời, nó cũng bị khử phosphoryl hoá nhờ PP1
(hình 8.3).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status