THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CÁC SẢN PHẨM VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG. - Pdf 69

thực trạng về khả năng cạnh tranh các sản phẩm việt
nam trên thị trờng.
I. Đặc đIểm kinh tế kỹ thuật về các sản phẩm
Việt Nam trên thị trờng.
1. Vai trò quản trị trong việc xây dựng lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm dựa trên công nghệ.
Ngày nay công nghệ đợc xem nh là một tổng hợp của bốn thành phần:
Thiết bị, con ngời, tổ chức và thông tin. Trong đó, thiết bị là phần cốt lõivà con
ngời giữ vai trò quyết định. Bốn thành phần trên liên hệ mật thiết với nhau và tạo
thành phơng tiện chuyển đổi trong quá trình sản xuất vật chất nh sau:
Công nghệ
Các yếu tố đầu vào Sản phẩm và dịch vụ
Trong sản xuất, công nghệ là nhân tố sống động mang tính chất quyết định
nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lợng sản phẩm. Trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt ở thị trờng trong nớc cũng nh ngoàI nớc, công nghệ đang là mối
quan tâm sâu sắc của mọi quốc gia. Riêng đối với từng doanh nghiệp, công nghệ
là vũ khí sắc bén để tạo lợi thế cạnh tranh trong cơ chế thị trờng. Tuy nhiên thực
tiễn cho thấy một vàI công ty của Mỹ với tiềm lực công nghệ dồi dào, hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp có hàm lợng côngnghệ cao nh chế tạo xe hơI, dụng cụ
cơ khí, hàng đIện tử dân dụng, tự động hoálạI không thể tạo đợc lợi thế trớc các
đối thủ cạnh tranh mà lợi thế cạnh tranh chỉ đến với các doanh nghiệp có một
chiến lợc thích hợp trong sử dụng công nghệ; đIển hình nh công ty Merek (Đức)
tạo đợc lợi thế cạnh tranh trong ngành dợc, Union Carbide và DowChemical (Mỹ)
tạo đợc lợi thế cạnh tranh trong ngành hoá chấtđều là các công ty đã có chiến l-
ợc sử dụng công nghệ hợp lý.
Có nhiều yếu tố tác động đến sự hình thành lợi thế cạnh tranh dựa trên công
nghệ của doanh nghiệp nh yếu tố bên ngoàI gồm môI trờng tàI chính- tiền tệ, cơ
cấu công nghiệp chính sách của Nhà nớc về kinh doanh và công nghệ; yếu tố bên
trong nh chu kỳ sống của sản phẩm, mức độ thực hiện quản lý chất lợng sản
phẩmTuy nhiên, yếu tố tác động cơ bản theo các nhà kinh tế đó là vai trò quản
trị. Thực vậy, quản trị và công nghệ đã hình thành lợi thé cạnh tranh của doanh

áp dụng các công nghệ phù
hợp, công nghệ tiên tiến
để sử dụng có hiệu quả các
yếu tố đầu vào.
Quản trị
Phối hợp quản trị sản xuất
với chiến lợc sử dụng công
nghệ nhằm giảm chi phí
của quá trình sản xuất.
Công nghệ
Đổi mới công nghệ
Đổi mới cơ bản
Đổi mới từng
phần
Đổi mới hệ
thống
Lợi
thế
cạnh
tranh.
Nâng
cao
chất l-
ợng
sản
phẩm.
Quản trị
Quản trị chất l-
ợng
Quản trị theo

phẩm
mới
Quản trị
Huy động
nguồn lực.
Đánh giá
chiến lợc
sản phẩm
mới.
Trong giai đoạn khám phá, nhà quản trị cần có đủ thời gian, tiền bạc, nhân
sự, để tiến hành tìm hiểu các đầu vào của khách hàng làm cơ sở cho hoạch
định phơng án sản phẩm mới. Cụ thể gồm các công việc:
- Liệt kê các nguồn lực cần sử dụng.
- Thực hiện các cuộc tiếp xúc khách hàng của nhân viên tiếp thị.
- Thực hiện các cuộc tiếp xúc khách hàng của các nhà chế tạo.
- Thực hiện tốt các công tác quản trị tiếp thị.
- Xác lập mục tiêu.
- Dự thảo phơng án sản phẩm mới.
Trên cơ sở phân tích dự thảo phơng án sản xuất mới, nhà quản trị ra quyết
định và cấp kinh phí cho giai đoạn triển khai. Trong giai đoạn này nhà quản trị
thực hiện các phần việc:
- Gia tăng các hoạt động tiếp xúc khách hàng đẻ thuthập ý kiến.
- Hoàn thiện thiết kế chi tiết kỹ thuật cho sản phẩm mới để sản xuất.
- Lựa chọn công nghệ thích hợp và cung cấp các nguồn lực phù hợp để
triển khai dự án.
Sau khi sản phẩm đợc tung ra thị trờng, nhà quản trị phảI tiếp tục thực hiện
tốt công tác nghiên cứu tiếp thị gồm:
- Đánh giá tiềm năng thị trờng.
- Các vấn đề về cảI tiến quy trình sản xuất mà trớc đây cha dự báo đ-
ợc.

- Về hình thức đổi mới công nghệ
+ Nhập một số thiết bị mới ở các khâu trọng đIểm trong toàn bộ dây
chuyền sản xuất, hoặc nhập thiết bị đã qua sử dụng.
+ Từ nghiên cứu cảI tiến thiết bị hiện có, hoặc tự chế thiết bị mới, hoặc ứng
dụng công nghệ tiên tiến của các doanh nghiệp cùng ngành ở trong nớc.
+ Liên kết với các cơ quan nghiên cứu triển khai trong nớc nh các trờng đạI
học, các viện và trung tâm nghiên cứu để tiếp nhận công nghệ mới.
+ Bớc đầu vay vốn để nhập thiết bị sản xuất mặt hàng mới, khi đã có chỗ
đứng và có lực thì tiến hành liên doanh với nớc ngoàI để có công nghệ hiện đạI và
mở rộng quy mô sản xuất.
- Về tăng nguồn vốn đầu t đổi mới công nghệ: Doanh nghiệp phảI đa dạng hoá và
đổi mới các cơ cáu nguồn vốn cho đổi mới công nghệ. Cụ thể là kết hợp các
nguồn vốn hiện có nh vốn đầu t từ ngân sách, vốn vay ngân hàng, vốn viện trợ,
vốn tự có, vốn liên doanh- liên kết cùng các nguồn vốn khác. Vốn từ phát hành cổ
phiếu, tráI phiếu, hoặc kiến nghị Nhà nớc thành lập quỹ hỗ trợ cho đổi mới công
nghệ.
- Về nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp. Năng lực công nghệ của
doanh nghiệp đợc đo bằng khả năng của đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật
của doanh nghiệp có thể nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ và sản
xuất và khả năng tiếp nhận, sử dụng và phát triển có hiệu quả công nghệ đợc
chuyển giao từ nớc ngoài. Do đó cần nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ và công
nhân kỹ thuật, đặc biệt coi trọng công tác đào tạo và đào tạo lạI để từ chỗ phụ
thuộc công nghệ, làm thích nghi công nghệ nhập, cảI tiến công nghệ nhập, phát
triển công nghệ có liên quan và sau cùng phát triển công nghệ mới.
Các phân tích trên cho thấy quản trị đã đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng lợi thế cạnh tranh cuả doanh nghiệp dựa trên cơ sở công nghệ; đặc biệt
đối với các doanh nghiệp các nớc đang phát triển khi mà trình độ công nghệ còn
thấp. Để xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở công nghệ, các doanh nghiệp
cần xây dựng một chiến lợc sử dụng công nghệ thích hợp; đó là việc kết hợp chặt
chẽ ba chiến lợc: chiến lợc nghiên cứu thị trờng, chiến lợc và phơng án sản phẩm

toàn ngành.
1.2 Thứ đến công nghiệp và xây dựng vợt qua những khó khăn, thách thức, đạt đ-
ợc nhiều tiến bộ.
Nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 13.5%;
trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 9.5%, công nghiệp ngoàI quốc doanh tăng
11.5%, khu vực vốn đầu t nớc ngoàI tăng 21.8%.
Một số ngành công nghiệp tiếp tục tổ chức và sắp xếp lạI sản xuất, lựa chọn
các sản phẩm u tiên và có lợi thế, có nhu cầu của thị trờng để đầu t chiều sâu, đổi
mới công nghệ, đạt chất lợng cao hơn, đáp ứng nhu cầu trong nớc và xuất khẩu.
Năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá: năm 2000
so với năm 1995, công suất đIện gấp 1.5 lần (tăng 2.715 MW); xi măng gấp 2.1
lần (tăng 8.7 triệu tấn); phân bón gấp trên 3 lần (tăng 1.5 triệu tấn); thép gấp 1.7
lần (tăng 1.0 triệu tấn); mía đờng gấp hơn 5 lần (tăng hơn 60000tấn mía/ ngày).
Sản lợng một số sản phẩm quan trọng tăng nhanh. Năm 2000 so với năm
1995 sản lợng dầu thô gấp 2.1 lần, đIện gấp 1.8 lần, than sạch vợt ngỡng 10 triệu
tấn, trong đó xuất khẩu trên 3.0 triệu tấn, thép cán gấp 1.5 lần, giấy các loạI gấp
1.7 lần.
Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp (kể cả tiểu thủ công nghiệp) tăng nhanh.
Năm 2000 đạt 10 tỷ USD, gấp hơn 3.4 lần năm 1995, chiếm khoảng 70% tổng
kim ngạch xuấtkhẩu cả nớc.
Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể, hình thành một
số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ sở sản
xuất dịch vụ khai thác dầu khí chiếm khoảng 11.2% tổng giá trị sản xuất toàn
ngành, công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm khoảng 20.0%, công
nghiệp sản xuất và phân phối đIện, khí đốt, hơI nớc chiếm khoảng 5.4%.
Ngành xây dựng đã tiếp nhận công nghệ xây dựng mới, trang thiết bị thêm
nhiều thiết bị hiện đạI, đáp ứng đợc nhu cầu phát triển trong lĩnh vực xây dựng
dân dụng và công nghiệp, có thể đảm đơng việc thi công những công trình xây
dựng cả trong và ngoàI nớc đợc tăng cờng.
Đáp ứng đủ nhu cầu xi măng, tấm lợp, cơ bản đáp ứng nhu cầu về thép xây

Trong 5 năm 1996- 2000, tổng số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoàI đa vào thực
hiện (không kể phần góp vốn trong nớc) đạt khoảng 10 tỷ USD (theo giá năm
1995), gấp 1.5 lần so với 5 năm trớc. Tổng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoàI cấp mới
và bổ sung đạt 24.6 tỷ USD, tăng so với thời kỳ trớc 34%.
Cơ cấu thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoàI ngày càng phù hợp với yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nớc ta; tỷ lệ vốn FDI thu hút vào lĩnh vực sản xuất
vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế tăng từ 62% năm 1995 lên 85% năm 2000.
Đầu t trực tiếp nớc ngoàI từ các nớc thuộc Liên minh Châu Âu (EU),
ASEAN có chiều hớng tăng mức 5 năm trớc (tỷ lệ vốn đăngký của các dự án từ
EU bình quân chiếm 23.2% thời kỳ 1991- 1995 tăng lên 25.8% thời kỳ 1996-
2000; tỷ lệ vốn đăng ký các dự án từ các nớc ASEAN đã tăng tơng ứng từ 17.3%
lên 29.8%). Riêng các nớc thuộc EU, Mỹ, Nhật bản chiếm 44% tổng vốn đăng ký
tạI Việt Nam.
Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoàI đã tạo ra 34% giá trị sản xuất
toàn ngành công nghiệp, khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu (cha kể dầu khí) và
đóng góp trên 12% GDP của cả nớc. Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoàI đã
thu hút trên 35 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp làm
việc trong các ngành xây dựng, thơng mạI, dịch vụ liên quan; góp phần quan
trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản
lý và mở rộng thị trờng.
Tuy quy mô còn nhỏ, nhng qua hoạt động đầu t ra nớc ngoàI, các doanh
nghiệp Việt Nam có đIều kiện nâng cao hiệu quả, đẩy mạnh đợc xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ và lao động ra nớc ngoài.
2. Thực trạng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm.
Trong 10 năm qua, Việt Nam đã đạt đợc nhiều tiến bộ trong hoạt động
ngoạI thơng. Năm 1999 là năm phát triển mạnh mẽ và toàn diện các nghị định của
chính phủ hớng dẫn thi hành luật thơng mạI, luật thuế giá trị gia tăng (VAT) và
luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong bối cảnh vẫn chịu tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế ở Châu á và một số nớc khác, dự báo tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam năm 1999 đạt 10 tỷ USD, tăng 7% so với năm 1998 cơ cấu

vảI lụa thành phẩm, tức là bình quân
tiêu dùng mỗi ngời chỉ đạt cha đầy 5m
2
/ năm.
Thực ra, mức sử dụng hàng dệt may theo bình quân ngời của nớc ta là lớn
hơn thế nhiều. Bù lạI sự thiếu hụt của sản xuất trong nớc, một số lợng lớn vảI đợc
nhập khẩu bằng nhiều con đờng khác nhau, trong đó có nhiều loạI trong nớc cha
sản xuất đợc.
Thực tế là sản lợng vảI do ta sản xuất còn ít- mới đạt bình quân 5m
2
/ ng-
ời/năm và 50% công suất thiết kế, song vảI của ta bán vẫn chậm, hàng tồn kho
vẫn nhiều và kinh doanh thua lỗ. Năm 1999, trong số 6 doanh nghiệp lỗ của công
ty Dệt- May Việt Nam thì có 4 doanh nghiệp dệt- chiếm 20% trong tổng số các
doanh nghiệp dệt của công ty- với tổng số lỗ là 10 tỷ đồng.
Khả năng cạnh tranh kém của hàng dệt may Việt Nam tạI thị trờng nội địa
còn đợc thể hiện ở chỗ, nếu so sánh với một số mặt hàng nhập khẩu đặc biệt là
của Trung Quốc, thì hàng của họ rẻ hơn và mẫu mã phong phú hơn hàng của ta
nhiều. Hàng của các nớc nhập vào ta với giá rẻ là do họ có chính sách khuyến
khích mậu dịch biên giới. Song đIều cốt lõi là họ đã biết sản xuất và đa vào thị tr-
ờng Việt Nam các loạI hàng hoá phù hợp với mức sống còn cha cao của đạI đa số
ngời dân ở nông thôn (giá rẻ và chất lợng trung bình)Còn hàng dệt may của ta,
một số khá lớn không bán đợc ở thị trờng thành phố vì lỗi mốt hoặc chất lợng
không cao, nhng cũng không tiêu thụ đợc ở thị trờng nông thôn vì giá đắt
Nguyên nhân dẫn tới hiện tợng trên là hầu hết các chi phí cho đơn vị sản phẩm
của ta đều cao hơn so vơí các nớc trong khu vực. Năng suất lao động của ngành
dệt may Việt Nam nhìn chung chỉ bằng 2/3 so với mức bình quân của các nớc
Asean. Ngay trong các doanh nghiệp quố doanh, các cuộc thi thợ giỏi không phản
ánh đúng thực chất trình độ của lao động ngành dệt may bởi lẽ, những ngời có
năng suất cao, chất lợng tốt nh thế không nhiều và chỉ tập trung ở khu vực quốc

Nam so với các nớc khác ở thị trờng này. Cụ thể là:
+ Số lợng hạn ngạch Việt Nam đợc hởng còn thấp so với nhiều nớc: chỉ
bằng 5% của Trung Quốc và 10- 20% của các nớc asean.
+ Số mặt hàng bị hạn chế bằng hạn ngạch lớn hơn so với nhiều nớc khác:
của Việt Nam là 29 nhóm, trong khi đó của TháI lan là 20 nhóm, của Singapo là 8
nhóm.
NgoàI ra, khả năng kém cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn đợc
thể hiện ở những khía cạnh sau:
+ Do mới xâm nhập vào thị trờng này nên ta ít có khách hàng. Mặc dầu có
hạn ngạch nhng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam phảI xuất khẩu qua nớc thứ
ba để vào thị trờng EU. Những lô hàng này, theo quy định của EU thì không đợc
hởng các thuế quan. Do đó nhiều doanh nghiệp không ký đợc hợp đồng đã bỏ khe
hạn ngạch.
+ Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vào EU chủ yếu tập trung ở một số
sản phẩm truyền thống, dễ làm nh áo jacket, áo sơ mi, quần âuCác sản phẩm kỹ
thuật cao thì còn ít doanh nghiệp VIệt Nam thực hiện đợc. Vì vậy mặc dầu số lợng
hạn ngạch bị hạn chế, nhng vẫn còn nhiều mặt hàng bị bỏ trống vì không có
doanh nghiệp tham gia.
Còn ở thị trờng không hạn ngạch nh thị trờng Mỹ, khó khăn lớn nhất của ta
khi xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ là chịu thuế suất cao, do cha đợc hởng quy
chế tối huệ quốc (MFN) cha đợc hởng u đãI thuế quan phổ cập (GSP) do hầu hết
nguyên, phụ liệu cho sản xuất, Việt Nam đều phảI nhập khẩu và hiệp định thơng
mạI song phơng cha đợc quốc hội hai nớc phê chuẩn. Thị trờng Mỹ thờng a nhập
khẩu hàng dệt may theo hình thức FOB (bán thẳng) trong khi các doanh nghiệp
Việt Nam lạI thiên phơng thức gia công, nên khả năng xâm nhập thị trờng Mỹ còn
khó khăn.
+ ở thị trờng Nhật Bản, hàng dệt may Việt Nam tuy đang có tín nhiệm, kim
ngạch xuất khẩu vào Nhật bản có xu hớng tăng nhanh trong những năm vừa qua.
Song gần đây để hạn chế mức gia tăng này, các doanh nghiệp Nhật bản cũng đang
đề nghị Chính phủ Nhật bản áp dụng chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may của

cácdoanh nghiệp may không muốn dùng vảI nội địa mà thực tế, đã có nhiều hợp
đồng với khách hàng nớc ngoàI, vảI do ngành dệt sản xuất thử đem chào hàng đã
có kết quả, song khi đI vào sản xuất đạI chà thì chất lợng không ổn định buộc
khách hàng phảI huỷ hợp đồng.
Liên kết dệt- may nếu không thực hiện đợc sẽ mất đI một nguồn lực to lớn
trong nớc phục vụ cho xuất khẩu. Nh khi thị trờng Mỹ đợc khai thông thì vấn đề
liên kết dệt- may càng trở nên cấp bách hơn và nếu không sớm đợc giảI quyết,
chúng ta sẽ không đủ đIều kiện để xâm nhập thị trờng này.
+ ở mối quan hệ liện kết ngang, trong khi mối liên kết này đợc thực hiện
khá tốt ở lĩnh vực may qua hình thức liên kết vệ tinh thì trong ngành dệt, hình
thức liên kết này ít đợc áp dụng. Hiện tợng đầu t khép kín theo kiểu tự cấp tự túc
vẫn phổ biến, gây ra hậu quả là năng lực sợi d thừa quá lớn và mất cân đối nghiêm
trọng giữa sợi và dệt. Vẫn thờng xảy ra tình trạng cạnh tranh quyết liệt giữa các
công ty dệt may Việt Nam với nhau và thiếu sót một sự hợp tác, liên kết. Thậm
chí có trờng hợp, sợi sản xuất trong nớc thừa nhng một số doanh nghiệp lạI vẫn
nhập khẩu dệt. Đó chính là nguyên nhân cản trở việc tập trung nguồn lực làm
giảm khả năng cạnh tranh của toàn ngành.
+ ở mối quan hệ liên kết ngoàI ngành, chủ yếu đợc thực hiện giữa các
doanh nghiệp dệt- may với các cơ quan đào tạo, nghiên cứu khoa học và cung cấp
thông tin.
Hiện nay, việc gắn kết giữa nội dung các đề tàI nghiên cứu khoa học và các
yêu cầu cụ thể của sản xuất- kinh doanh còn hạn chế, đặc biệt là khâu tạo mẫu
bao gồm cả thiết kế mẫu vảI và tạo dáng sản phẩm. Công việc này nếu đợc tiến
hành đơn lẻ ở từng doanh nghiệp sẽ không hiệu quả.
Việc cung cấp các thông tin cần thiết về thị trờng, sản phẩm cho các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam từ các cơ quan chức năng, nhu đã nói trên là cha hiệu
quả, cần thiết một sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ cấp Nhà nớc. Tình trạng này
dẫn đến hiện tợng là thông tin thị trờng mà các doanh nghiệp có đợc thờng chậm
và thiếu chính xác, không đồng bộ, việc sử dụng các thông tin của nhau cũng rất
khó khăn. Đây cũng là một trở ngạI lớn, làm giảm sức cạnh tranh của các doanh

Trung Quốc cso kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may mỗi năm khoảng trên 40 tỷ
USD, các nớc Inđônêxia, Pakixtan, Tháilan đạt kim ngạch từ 5.2 đến 6.8 tỷ
USD/năm, các nớc Bănglađét, Philipin, Singapo, Malaixia xuất khẩu hàng dệt đạt
từ 3 tỷ đến 4 tỷ USD/năm. Việt Nam năm 2000 vừa qua xuất khẩu hàng dệt may
cha vợt qua 2 tỷ USD. Trong đó hơn 70% là hàng gia công, khối lợng cha lớn,
chủng loạI mẫu mã hàng hoá cha thật phong phú, đa dạng, năng suất lao động còn
thấp, giá thành còn cao hơn một số nớc trong khu vực và nhiều nớc trên thế giới.
Trong xu thế hội nhập và tự do hoá thơng mạI toàn cầu, ngành Dệt may
Việt Nam còn phảI đối mặt với nhiều thách thức gay gắt với các đối thủ xuất khẩu
hàng dệt may lớn nh Trung Quốc, ĐàI loan. Và từ ngày 1/1/2006 thuế xuất nhập
khẩu hàng dệt may từ các nớc ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm từ 40- 50% hiện nay
xuống còn tối đa 5% nên hàng dệt may Việt Nam phảI cạnh tranh quyết liêt với
hàng nhập khẩu từ các nớc trong khu vực có công suất, sản lợng rất lớn với chủng
loạI rất phong phú.
E/L Hàng dệt may xuất khẩu sang EU đã cấp đến ngày 1/6/2001.
TT Mặt hàng Đơn vị
Hạn
ngạch
SS Số lợng %
Hạn
ngạch còn
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Quần áo vảI thô, đũi (cat 161)
Tấn
ĐôI
ĐôI
Chiếc
Chiếc
Tấn
Tấn
Chiếc
Chiếc
Chiếc
Bộ
Tấn
Tấn
Tấn
Bộ
Tấn
Tấn
Tấn
Tấn
935
5586000
2977000
458000
8723000
884
241
18900000
1185000
3658000

4.1
6.3
26.9
51.5
17.0
24.7
36.3
54.3
9.0
37.4
83.2
27.5
9.5
32.6
26.9
10.0
32.1
755
4772488
2856300
429237
6373020
429
200
14230777
755377
1672739
338688
144
124

Mỗi cụm công nghiệp dệt này, Vinatex xác định đầu t xây dựng tập trung nhà máy
kéo sợi có công suất 3200 tấn sợi/ năm; nhà máy dệt vảI mộc cho áo sơ mi khổ
rộng 1.6m với công suất 10 triệu mét/năm; nhà máy dệt vảI mộc cho quần âu khổ
rộng 1.6m với công suất 10 triệu mét/năm; nhà máy dệt hoàn tất vảI bông, khổ
rộng 1.5m có công suất 25 triệu mét/năm; nhà máy dệt hoàn tất vảI tổng hợp khổ
rộng 1.5m với công suất 20 triệu mét/năm; nhà máy dệt kim, nhuộm, hoàn tất,
máy có công suất 6 triệu sản phẩm/năm và nhà máy xử lý nớc thảI nhằm đảm bảo
vệ sinh môI trờng công suất 8000m
3
/ ngày đêm để sản xuất ổn định.
ĐIểm yếu nhất của ngành dệt nớc ta hiện nay là cha đủ khả năng đáp ứng
các loạI vảI cho các doanh nghiệp may hàng xuất khẩu cả về số lợng và chất lợng,
chủng loại. Do đó phảI u tiên vào công đoạn dệt, hoàn tất để tăng sản lợng để đáp
ứng nhu cầu may xuất khẩu. Trong lúc đó hầu hết nguyên liệu dệt hiện nay phảI
nhập của nớc ngoài. Vì vậy phảI đầu t phát triển cây bông và các nhà máy sản
xuất tơ nhân taoj nhằm tự túc một phần đáng kể nguyên liệu, phụ liệu cho ngành
dệt may, để tăng sức cạnh tranh trên thị trờng. Vinatex dự kiến phát triển mạnh
cây bông để đến năm 2010 so với hiện nay sẽ tăng gấp 7 lần. Về diện tích, năng
suất tăng hơn 60% và sản lợng bông tăng hơn 13 lần, đáp ứng khoảng 70% nhu
cầu nguyên liệu cho ngành dệt. Để đạt đợc mục tiêu này, các địa phơng sẽ trồng
thêm 137000 ha bông trên những vùng có diện tích đất và khí hậu thích hợp. Dự
kiến vốn đầu t cho khâu này vào khoảng 1505 tỷ đồng. Trong đó hơn 60 tỷ sẽ đợc
dành cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khuyến nông và xây dựng cơ sở hạ tầng,
khoảng 900 tỷ đầu t cho công nghệ chế biến, sản xuất.
2.1.3 Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào Mỹ.
Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đã
tăng trởng không ngừng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch
xuất khẩu (đứng thứ 2 sau dầu thô). Mặc dù bị ảnh hởng của cuộc khủng hoảng
tàI chính khu vực songkim ngạch xuất khẩu hàng dệt mayViệt Nam vẫn tăng tr-
ởng đều, đạt 1.45 tỷ USD trong năm 1998, tới năm 1999 đã tăng lên 1.76 tỷ USD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status