ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
.
CHU BÍCH THỦY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU BÍCH THỦY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban
Chữ viết đầy đủ
Công nghệ thông tin
Giáo viên
Học sinh
Trung học phổ thông
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Nhận thức về vai trò ứng dụng CNTT trong dạy học………
23
Bảng 1.2. Các tiết dạy GV thường sử dụng CNTT…………………...
23
Bảng 1.3. Mức độ sử dụng phần mềm ứng dụng của GV……………..
24
Bảng 1.4. Phạm vi ứng dụng của GV trong dạy học…………………..
25
Bảng 1.5. Đánh giá của HS về thuận lợi khi GV sử dụng CNTT……..
25
64
Bảng 3.8. Kết quả kiểm tra định kì các lớp đối chứng………………..
64
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kiểm tra thường xuyên…………………. 63
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả kiểm tra định kì………………………… 64
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bảng tĩnh và bảng động trên màn hình trình chiếu…………
39
Hình 2.2. Trang bố cục của bài giảng “Chữ người tử tù”……………..
40
Hình 2.3. Slide cho hoạt động tạo tâm thế……………………………. 45
Hình 2.4. Học sinh lớp thực nghiệm thuyết trình về tác giả…………..
46
MỞ ĐẦU………………………………………………………………
1
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………….
1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu……………………………………………
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………….
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………..
9
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………
9
6. Cấu trúc của đề tài…………………………………………………..
10
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…….
17
1.3.1. Công nghệ thông tin…………………………………………….
17
1.3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn………...
18
1.4. Dạy học đọc hiểu văn bản văn học và ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học…………………………...
vi
20
1.4.1. Dạy học đọc hiểu văn bản văn học……………………………...
20
1.4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản
văn học………………………………………………………………...
21
1.5. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu
truyện ở lớp 11………………………………………………………..
21
37
2.3.1. Trong khâu tổ chức chuẩn bị dạy học.……………………….....
37
2.3.2. Trong khâu tổ chức hoạt động dạy học……………….………...
44
2.3.3. Trong khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh……
50
2.4. Những lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc
hiểu truyện nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh …………
53
Tiểu kết chương 2……………………………………………………..
55
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………...
57
3.1. Mục đích thực nghiệm…………………………………………….
67
2. Khuyến nghị….……………………………………………………..
68
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………..
69
viii
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, nền giáo dục
Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang thực hiện bước chuyển đổi
từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người
học. Trong đó, môn Ngữ văn được coi là môn học mang tính công cụ, có vai
trò rất quan trọng trong việc hình thành, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, bồi
đắp những cảm xúc nhân văn, lòng yêu nước và phát triển nhân cách cho học
sinh, góp phần định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Để thực hiện đổi
mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực của người học cần thực hiện
đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin là một trong
những giải pháp quan trọng hàng đầu.
1.2. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa
học kĩ thuật, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã thu được
những kết quả tích cực và đã trở thành vấn đề cốt lõi góp phần đổi mới
Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, vào đầu những năm 70
của Thế kỉ XX xuất hiện những giao thức kết nối máy tính đầu tiên - tiền
thân của internet như Arpanet, Merit Network… và đến những năm 80 giao
thức kết nối mạng internet World Wide Web ra đời, cho phép liên kết các tài
liệu siêu văn bản vào một hệ thống thông tin, có thể truy cập từ bất kì vị trí
nào trên mạng. Từ giữa những năm 1990, internet phát triển rất nhanh kéo
theo sự phát triển của truyền thông đa phương tiện và có tác động mang tính
cách mạng đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có khoa học giáo
dục. Ngay từ cuối thập niên 80, nhiều nhà khoa học giáo dục Mỹ như Steven
Cohen, Irwin Unger Timothy, J. Newby, H. Judith, Sandholtz... đã đề cập
đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng phát huy
2
tính tích cực của người học, trong đó các tác giả trên đã đề cập công nghệ
thông tin có tầm quan trọng như những công cụ hỗ trợ các hoạt động dạy
học, có tác động bổ trợ tích cực đến nhiều giác quan của học sinh; đồng thời,
đề xuất các ý tưởng sư phạm trong hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của
phương tiện kĩ thuật theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực của người
học; xác định các yêu cầu, thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học. Cuối Thế kỉ XX đầu Thế kỉ XXI, các tác giả
Davis Gardner và Deidre Mc Cann đã đề cập một số yêu cầu, ý tưởng trong
việc khai thác thông tin đa phương tiện từ các CD-Rom, internet... nhằm
giúp học sinh có cơ hội tiếp cận, trao đổi thông tin một cách đa dạng, tích
cực giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh.
Thực tiễn giáo dục những năm qua đã chứng minh vai trò, tầm quan
trọng và hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho thấy
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là xu thế tất yếu của giáo
dục. Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin là một chủ đề
và phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả.
Ban đầu, một số nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục dựa trên năng lực
là dành cho giáo dục dạy nghề và giảng dạy công nghệ thông tin, nhưng thực
tế cho thấy giáo dục theo năng lực phù hợp với nhiều lĩnh vực. Trong thời
gian gần đây với sự phát triển mạnh của khoa học kĩ thuật và tri thức, giáo
dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức là không đủ bởi kiến thức
của nhân loại luôn phát triển, hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thành lạc
hậu. Do đó, những hệ thống giáo dục tiên tiến đã hướng tới việc giáo dục để
người học có đủ khả năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức để giải
quyết các vấn đề trong khoa học cũng như trong thực tế. Nền giáo dục của
các nước tiên tiến đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo năng lực thay vì
giảng dạy tập trung vào nội dung. Như vậy, giảng dạy theo năng lực là
hướng tiếp cận coi trọng đầu ra của quá trình dạy học trong đó nhấn mạnh
người học cần đạt được các mức năng lực nhất định sau khi hoàn thành một
chương trình giáo dục.
4
2.2. Ở Việt Nam
Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới và Nhà nước thực hiện
chính sách "mở cửa", nước ta nhanh chóng phát triển và hội nhập với thế
giới về nhiều mặt. Nhận thức đúng đắn vai trò to lớn của công nghệ thông
tin, Đảng ta đã có chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng chỉ thị số 58-CT/TW ngày
17/10/2000 của Ban Chấp hành Trung ương, trong đó đối với ngành giáo dục
và đào tạo, chỉ thị nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học…”; Nghị
quyết số 36-NQ/BCT của Bộ Chính trị ngày 1/7/2017 về "Đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
nghệ thông tin vào giảng dạy tác phẩm văn chương lớp 11. Trong đó, tập
trung vào sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để biên soạn bài
giảng điện tử dưới dạng các slide trình chiếu, kết hợp với các phương tiện
nghe nhìn khác nhằm nâng cao tính trực quan, sinh động của bài giảng [18].
- Luận văn thạc sĩ “Các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác
phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình
Ngữ văn 11)” của tác giả Nghiêm Thu Trang - Trường Đại học Giáo dục.
Thông qua việc làm rõ những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập, các
điều kiện để tạo hứng thú học tập, biểu hiện và vai trò của hứng thú học tập,
tác giả đã đề xuất một số biện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh đối
với một tác phẩm cụ thể trong chương trình lớp 11. Trong đó, tác giả đã luận
giải kĩ các biện pháp như: vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, tổ
chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin…;
đồng thời xác định ứng dụng công nghệ thông tin là một trong những giải pháp
cơ bản, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong tạo hứng thú cho học sinh [30].
- Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục “Dạy học tác phẩm tự sự ở trung
học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” của TS Lê Thị Ngọc
Anh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Phân tích cơ sở khoa học của vấn
7
đề nghiên cứu, tác giả đã xác định yêu cầu và đề xuất một số biện pháp dạy
học tác phẩm tự sự ở trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông
tin như: Đọc diễn cảm với sự hỗ trợ của video và hình ảnh trực quan; thuyết
trình với sự hỗ trợ của kho tài nguyên điện tử; vấn đáp tích cực với sự hỗ trợ
của kho tài nguyên điện tử và những yếu tố trực quan; tự làm việc với kho tài
nguyên điện tử và phương pháp đọc tài liệu khoa học, hiệu quả từ sự hỗ trợ
của công nghệ thông tin [1].
Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố cho
đến thời điểm hiện tại đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu của luận văn ở những
gắn với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức: Phần đọc hiểu truyện ngắn hiện đại lớp 11 (Văn
học Việt Nam từ đầu Thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945);
- Về hình thức tổ chức dạy học: Tập trung vào giờ học chính khóa;
- Về phạm vi điều tra, khảo sát: Một số trường trung học phổ thông ở
miền Bắc.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những vấn đề lí luận
liên quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích cơ sở khoa học, các quan điểm về
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, vấn đề phát triển năng lực sáng
tạo cho học sinh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu
để tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở
lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát bằng phiếu kết hợp phỏng
vấn trực tiếp đối với giáo viên và học sinh về thực trạng ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học Ngữ văn, về mức độ hứng thú của học sinh đối với
bài dạy đọc hiểu truyện ở lớp 11 có sử dụng công nghệ thông tin.
- Phương pháp so sánh tổng hợp: So sánh những nội dung liên quan đến
đề tài trong các tài liệu; so sánh giờ giảng của các giáo viên khác nhau về cùng
9
một văn bản truyện để rút kinh nghiệm, thiết kế giáo án thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm trên phạm
vi nhỏ để kiểm chứng những nội dung cơ bản đề xuất trong luận văn.
6. Cấu trúc của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, ba chương, kết luận, tài liệu tham khảo
và phụ lục, trong đó:
khuynh hướng học tập trở nên xác định và thể hiện rõ ràng hơn. Với đặc
điểm này, giáo viên (GV) có thể sử dụng các phương tiện công nghệ thông
tin (CNTT) để trình bày lồng ghép những vấn đề được xã hội quan tâm có
liên quan đến bài học nhằm tạo hứng thú, làm cơ sở để phát huy năng lực
sáng tạo cho HS trong quá trình dạy học.
HS ở độ tuổi THPT cũng là giai đoạn có vị trí quan trọng trong việc
phát triển trí tuệ. Cảm giác, tri giác ở lứa tuổi này đã đạt ở mức độ của người
lớn, khiến năng lực cảm thụ được nâng cao. Trí nhớ phát triển tốt, HS đã biết
sử dụng nhiều phương pháp ghi nhớ chứ chứ không phải chỉ là một cách máy
móc thụ động học thuộc nữa. Sự chú ý, sự tập trung cũng phát triển hơn;
hoạt động tư duy phát triển mạnh. Ở thời kì này, HS đã có khả năng tư duy lí
luận, trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo; hoạt động nhận thức đã phát
11
triển ở mức độ tương đối cao, đã có khả năng nhận thức vấn đề một cách
đúng đắn, sâu sắc; khả năng tư duy cũng đã phát triển và sẽ được hoàn thiện
dần trong quá trình học tập và rèn luyện [22]. Bên cạnh đó, ở lứa tuổi này
hầu hết HS đã biết sử dụng máy tính, khai thác các công cụ tìm kiếm và xử lí
thông tin trên internet; sử dụng thành thạo điện thoại thông minh, mạng xã
hội, tham gia vào các nhóm và diễn đàn trên internet với mức độ khác nhau.
Đây là đặc điểm quan trọng tạo cơ hội cho GV khai thác, sử dụng kết hợp
các phương tiện dạy học, nhất là phương tiện CNTT nhằm cung cấp nhiều tư
liệu trực quan, tác động vào nhận thức của HS theo nhiều kênh khác nhau
nhằm phát triển tư duy cho HS. Khả năng sử dụng phương tiện công nghệ,
mạng internet… để tìm kiếm, khai thác và xử lí thông tin của HS vừa là điều
kiện thuận lợi, vừa là tiềm năng lớn để phát triển năng lực sáng tạo cho HS.
Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của HS là cơ sở quan trọng để GV lựa
chọn phương pháp dạy phù hợp, tập trung phát triển tư duy trừu tượng; rèn
luyện kĩ năng phân tích để phát triển tư duy độc lập, khắc phục tình trạng có
bản để dẫn đến sáng tạo và tài năng.
Học sinh THPT phần lớn đã nhận thức được tầm quan trọng của học
tập; tuy vậy, giữa nhận thức và hành động cũng còn nhiều mâu thuẫn.
Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó cơ bản là chưa có động cơ học tập đúng
đắn, chưa có hứng thú thực sự với môn học. Thưc tế cho thấy HS chỉ có kết
quả học tập cao khi thực sự có hứng thú với môn học. Vấn đề đặt ra cho hoạt
động giáo dục hiện nay là tổ chức dạy và học như thế nào để hình thành và
nâng cao hứng thú học tập cho HS. Việc GV tạo được những bài giảng sinh
động, hấp dẫn, kích thích sự hứng thú, khiến HS say mê hơn trong học tập
chính là một trong số những câu trả lời. Đồng thời, qua đó GV sẽ giúp HS
phát triển được năng lực học tập của mình và rút ngắn hơn khoảng cách đến
với chân trời của tri thức.
Trong thời đại “bùng nổ” CNTT hiện nay, hầu hết giới trẻ nói chung
và HS trung học phổ thông nói riêng đều sử dụng các phương tiện CNTT với
13
những mục đích khác nhau và có xu hướng sử dụng chúng vào mọi công
việc có thể. Hứng thú của HS trong sử dụng các phương tiện CNTT cũng
như khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện CNTT vừa là đặc điểm
vừa là điều kiện thuận lợi không nhỏ cho GV nếu GV biết khéo léo khai thác
lợi thế này vào mục đích học tập, phục vụ giải quyết các nội dung của bài
học nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
1.2. Năng lực sáng tạo và việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
trong dạy học Ngữ văn
1.2.1. Năng lực sáng tạo
Năng lực là khái niệm được nói đến rất nhiều trong lĩnh vực nghiên
cứu giáo dục trong thời gian gần đây. Tùy thuộc vào vấn đề nghiên cứu,
năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, mỗi cách hiểu đều có những
thuật ngữ tương ứng.
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và
tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, vận dụng thành công những hiểu
biết đã có vào hoàn cảnh mới. Năng lực sáng tạo được cấu thành từ các yếu
tố: tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, ý chí sáng tạo, phương tiện điều kiện
sáng tạo, môi trường sáng tạo; trong đó tư duy sáng tạo là yếu tố cơ bản nhất,
quyết định hiệu quả hoạt động sáng tạo. Năng lực sáng tạo của HS trong đọc
hiểu truyện ở lớp 11 được thể hiện thông qua các mặt sau:
- Phát hiện ra những vấn đề mới đối với bản thân trong cảm thụ tác
phẩm văn học;
- Khả năng thu thập, chọn lọc và xử lý những thông tin phù hợp liên
quan đến tác giả, tác phẩm;
- Khả năng thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về tác giả, tác
phẩm, tình huống truyện, nhân vật trong truyện một cách có biện luận, không
theo khuôn mẫu có sẵn;
- Khả năng vận dụng kỹ năng sống và trải nghiệm thực tế, sử dụng các
công cụ, phương tiện, để giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao phù hợp
15