LUẬN VĂN
" Các vấn đề chung của quản trị "
...v.v..tất cả đều cần đến quản trị . Nội dung và mức độ phức tạp của hoạt động
quản trị phụ thuộc trước hết vào trình độ phát triển của sản xuất . Trong những qui
mô nhỏ của nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thì hoạt động quản trị tương đối
đơn giản. Trong trường hợp này người chủ thợ điều khiển những công nhân sản
xuất, trực tiếp chỉ dẫn họ và kiểm tra kết quả thực hiện. Nhiều khi người chủ vừa
phải lãnh đạo đám thợ, vừa phải tham gia trực tiếp vào làm những công việc cụ
thể. Qui mô sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật của sản xuất càng cao, thì
hoạt động quản trị càng trở nên phức tạp.
Chương I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN TRỊ trang 2
.
Sản xuất hiện đại đòi hỏi một sự điều khiển khéo léo, một sự phối hợp nhip nhàng
giữa các phần việc của tất cả các khâu trong quá trình sản xuất. Chính nhờ hoạt
động quản trị (tổ chức sản xuất, tổ chức lao động hợp lý, sự phối hợp tuyệt vời của
các phân xưởng, các bộ phận sản xuất trong xí nghiệp...) mà chỉ trong vài phút một
chiếc ô tô có thể được xuất xưởng, trong khi tổng thời gian để chế tạo một chiếc ô
tô là hàng nghìn giờ. Qua đây cũng đã minh chứng rõ ràng là hoạt động quản trị
cần thiết như thế nào trong tổ chức sản xuất kinh doanh hiện đại.
Tầm quan trọng của quản trị được thể hiện rất rõ trong sự phát triển kinh tế. Một
xí nghiệp quản trị tốt, sản xuất sẽ phát triển , kinh doanh có hiệu quả. Một Quốc
gia quản trị giỏi, nền kinh tế sẽ tăng trưởng với tốc độ cao, hàng hóa nhiều, đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ luôn luôn được cải thiện và nâng cao.
Ngược lại, một xí nghiệp quản trị kém sẽ làm ăn thua lỗ. Một Quốc gia quản trị
kém sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, không khai thác được những tiềm
năng to lớn của đất nước, để tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của nhân
dân...
Nhật Bản là một nước đất hẹp, người đông, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, có
những điều kiện về dân số, hoàn cảnh tự nhiên và một số đặc điểm xã hội gần gũi
với nước ta. Thế mà, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ trong đổ nát, bằng khả
năng quản trị giỏi của mình, đã đưa đất nước tiến lên với những bước phát triển
thần kỳ. Tốc độ phát triển kinh tế của Nhật Bản rất cao. Năm 1950 giá trị tổng sản
Quyết định đúng sẽ đưa công ty , xí nghiệp kinh doanh đến thắng lợi. Quyết định
sai sẽ dẫn sự kinh doanh của xí nghiệp đến thất bại, phá sản, cho dù các thành viên
khác trong xí nghiệp đã cố gắng nỗ lực hết mình.
3. ĐỊNH NGHĨA 3.
Quản trị là sự đạt mục tiêu thông qua và cùng với người khác.
Định nghĩa này là của trường phái quản trị theo mục tiêu, muốn nhấn mạnh đến
các mục tiêu trong quản trị và phương thức để đạt mục tiêu là thông qua và cùng
với người khác.
Chương I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN TRỊ trang 4
.
4. ĐỊNH NGHĨA 4
Quản trị là sự tác độngcó hướng đích của chủ thể quản trị đến đối tượng quản
trị , nhằm đạt được những kết quả cụ thể với mục tiêu đã định trước.
Định nghĩa này nhấn mạnh đến quá trình quản trị diễn ra như là sự tác động qua
lại giữa hai hệ thống quản trị và bị quản trị, để đạt được những kết quả mong
muốn.
5. ĐỊNH NGHĨA 5.
Quản trị là một nghệ thuật : Nghệ thuật khai thác các tiềm năng của sản xuất
kinh doanh.
Trường phái này nhấn mạnh đến tính chất nghệ thuật trong quản lý. Họ cho rằng
quản trị trong thực tế thành công hay không là do nghệ thuật vận dụng các học
thuyết quản trị vào từng tình huống cụ thể quyết định .
Ngoài các định nghĩa nêu trên, còn rất nhiều định nghĩa khác nhau nữa về quản trị.
Trên cơ sở các định nghĩa trên chúng ta tổng hợp lại và nêu ra khái niệm tổng quát
về quản trị sau đây :
6. KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT
Quản trị là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện, khi con người kết
hợp với nhau trong một tổ chức, nhằm thành đạt những mục tiêu chung.
Cụm từ “ những hoạt động cần thiết phải được thực hiện “ đại diện cho các ý về
các khía cạnh khác nhau của những định nghĩa trên. Những hoạt động cần thiết
động với tư cách là hệ thống quản trị và bị quản trị .
Hai hệ thống này tác động qua lại với nhau bằng các kênh thông tin. Kênh thông
tin xuôi là kênh thông tin từ nhà quản trị tác động tới đối tượng quản trị. Nó
được thể hiện dưới dạng như là các quyết định , các mệnh lệnh chỉ huy, điều
hành ... v.v. Kênh thông tin ngược là kênh thông tin phản hồi từ đối tượng quản
trị đến chủ thể quản trị . Đó là những
Hệ thống quản trị
Thông tin chỉ huy
Thông tin thực hiện
Hệ thống bị quản trị
Chương I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN TRỊ trang 6
.
thông tin thực hiện như là kết quả sản xuất kinh doanh , các báo cáo tình hình,
hiện trạng của đối tượng quản trị .
3. Hoạt động quản trị đều có khả năng thích nghi cao. Tức là khả năng linh
hoạt thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới, phù hợp với tình huống mới.
4. Quản trị là một khoa học và là một nghệ thuật.
Quản trị là một khoa học thể hiện ở chỗ : quản trị vận dụng và phối hợp kiến thức
của nhiều ngành khoa học cụ thể để xây dựng các học thuyết quản trị cho mình
như :
Lý luận triết học
Kinh tế học, kinh tế tổ chức sản xuất , tổ chức lao động khoa học ,
thống kê, hạch toán tài chính, phân tích hoạt động kinh tế ...v.v.
Các khoa học kỹ thuật : kỹ thuật cơ khí, chế biến Nông Lâm
nghiệp ...v.v.
tình huống cụ thể với tất cả sự đa dạng, phong phú, khéo léo, uyển chuyển và
sáng tạo.
Hai mặt khoa học và nghệ thuật quản trị không đối chọi loại trừ nhau, mà chúng
luôn gắn chặt, bổ sung cho nhau. Nghệ thuật phải dựa trên một sự hiểu biết
khoa học làm nền tảng. Nếu không có cơ sở khoa học làm nền tảng thì nhà
quản trị ắt chỉ dựa vào may rủi, chủ quan, kinh nghiệm cá nhân mà thôi. Do đó
chỉ có thể thành công ở tình huống này, mà sẽ không thành công ở tình huống
khác.
Ngược lại, nếu chỉ dựa vào khoa học mà không chú trọng tính nghệ thuật quản trị ,
thì cũng khó thành công. Bởi vì thực tiễn hoàn cảnh, tình huống muôn hình,
muôn vẻ và luôn thay đổi, do đó đòi hỏi một nghệ thuật ứng dụng đa dạng,
phong phú, khéo léo và sáng tạo.
5. Hoạt động quản trị luôn gắn liền với phạm trù hiệu quả và kết quả .
Mục đích của quản trị là nhằm gia tăng hiệu quả . Quản trị cốt là để đạt kết quả
tối đa về chất cũng như về lượng với chi phí tối thiểu. Nơi nào quan tâm đến
hiệu quả thì ở đó cần đến hoạt động quản trị.
Ở đây cần phân biệt hai khái niệm hiệu quả và kết quả quản trị.
Kết quả quản trị là thành quả đạt được ở đầu ra của quá trình quản trị . Tức là
đạt được mục tiêu, hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra.
Hiệu quả quản trị là tương quan so sánh giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào
của quá trình quản trị. Để gia tăng hiệu quả quản trị có nhiều giải pháp khác
nhau :
— Giữ nguyên giá trị đầu vào, gia tăng sản lượng đầu ra. Có nghĩa là với
chi phí quản trị không đổi, làm thế nào để tăng sản lượng, tăng kết quả sản
xuất kinh doanh (áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật , qui trình công
nghệ sản xuất , các biện pháp về tổ chức và hợp lý hóa sản xuất , tăng năng
suất lao động ...v.v.).
Chương I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN TRỊ trang 8
.
— Giảm thiểu chi phì tài nguyên ở đầu vào, giữ nguyên sản lượng đầu ra.
O
I
Chương II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ trang
9
.
88899
CHƯƠNG II
MỘT SỐ
LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ
I. MỞ ĐẦU
Vào thế kỷ thứ 16, khi các hoạt động thương mại bắt đầu phát triển khá mạnh mẽ
ở khu vực Địa Trung Hải thì những ý kiến và kỹ thuật quản trị áp dụng vào lĩnh
vực kinh doanh được quan tâm nghiên cứu.
Sang thế kỷ 18 có nhiều phát minh mới trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là việc
phát minh động cơ máy hơi nước. Với cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu,
nền sản xuất được mở rộng về phạm vi và qui mô hoạt động. Để đạt hiệu quả
trong sản xuất kinh doanh, các vấn đề quản trị càng cần phải được chú trọng nhiều
hơn. Giữa thế kỷ 18, vai trò của quản trị được đặt thành vấn đề để tập trung nghiên
cứu. Tuy nhiên, các tư tưởng quản trị chưa được sắp xếp thành hệ thống. Có thể
nói rằng chỉ từ khi con người biết quan tâm đến hiệu quả trong hoạt động tập thể
nhất là trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, thì quản trị học mới phát triển có hệ
thống. Phải đến những năm cuối của thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20, thì các tư
tưởng quản trị mới được nghiên cứu có cơ sở khoa học và sắp xếp thành hệ thống,
hình thành những học thuyết quản trị. Lý thuyết gia đầu tiên của ngành quản trị
học là FREDERICK WINSLOW TAYLOR (1856-1916)
II. HỌC THUYẾT QUẢN TRỊ THEO KHOA HỌC CỦA F.W.TAYLOR.
Taylor là một kỹ sư cơ khí, xuất thân từ công nhân trải qua việc cừa học vừa làm
tại các nhà máy Midvale Steel, Simonds Rolling Machine và Bethlehem Steel.
Taylor đã có nhiều cơ hội để quan sát thực tế quản trị trong nhà máy. Dựa vào
những năm tháng kinh nghiệm ở thực tế, ông đã cho xuất bản tác phẩm “ Những
tế để công nhân hăng hái làm việc, tăng năng suất lao động như là chế độ
thưởng, khoán công việc, khoán sản phẩm ...
Học thuyết quản trị của Taylor được áp dụng rất rộng rãi trong các xí nghiệp, nhà
máy ở các nước Châu Âu, Mỹ và đem lại nhiều thành quả.
III. HỌC THUYẾT QUẢN TRỊ HÀNH CHÁNH VÀ TỔNG QUÁT :
1. Học thuyết quản trị của Henri Fayol (1841-1925)
Chương II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ trang
11
.
8881111
Fayol quan niệm rằng năng suất lao động của con người làm việc chung trong tập
thể, tùy thuộc vào sự sắp xếp, tổ chức của nhà quản trị . Việc sắp xếp , tổ chức này
được Fayol gọi là việc quản trị tổng quát.Theo Fayol, các hoạt động quản trị tập
trung vào 14 nguyên tắc quản trị sau :
Phải đảm bảo phân công lao động
Phải xác định rõ mối quan hệ giữa quyền hành và trách nhiệm trong hệ
thống quản trị
Phải duy trì kỷ luật trong Xí nghiệp
Mỗi công nhân chỉ nhận lệnh từ một cấp chỉ huy trực tiếp duy nhất
Nguyên tắc tập trung trong lãnh đạo
Lợi ích của cá nhân được bảo đảm dựa trên cơ sở lợi ích chung
Quyền lợi kinh tế phải tương xứng với công việc (thù lao phải tương
ứng với hao phí lao động đã bỏ ra)
Nguyên tắc tập trung thẩm quyền : giữa tập trung và phân tán phải hợp
lý.
Tuân thủ nguyên tắc chuỗi xích hoặc trật tự thứ bậc (Scalar chain)
trong hệ thống tổ chức (xích lãnh đạo):
Sinh hoạt trong Xí nghiệp phải có trật tự
Đối xử trong Xí nghiệp phải công bằng
kiểm soát để hoàn thành công việc, sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm và có khả
năng sáng tạo trong công việc. Tóm lại là người có bản chất siêng năng.
Tùy theo người có bản chất X hay Y mà áp dụng các biện pháp động viên khác
nhau :
— Đối với người có bản chất X : là quản trị nên áp dụng các biện pháp giao
công việc một cách cụ thể, thường xuyên đôn đốc và kiểm tra kết quả làm việc
để có sự hướng dẫn điều chỉnh kịp thời, tăng cường áp dụng các biện pháp kích
thích bằng vật chất.
— Đối với người có bản chất Y : Nhà quản trị nên thảo luận, bàn bạc với họ về
những mục tiêu cần đạt được của công việc. Sau đó dành nhiều quyền quyết
định trong công việc, cho họ tự giải quyết một cách chủ động, sáng tạo công
việc của mình. Tạo điều kiện để họ chứng tỏ năng lực hơn là kiểm tra, đôn đốc,
tăng cường kích thích bằng tinh thần đối với họ.
Chương II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ trang
13
.
8881313
2. HỌC THUYẾT NHU CẦU:
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, hành động của con người được bắt nguồn từ
các nhu cầu. Nhu cầu sẽ quyết định hoạt động của con người . hệ thống nhu cầu
của con người gồm 5 loại, được sắp xếp từ thấp lên cao theo thang cấp như sau :
Các nhu cầu này được sắp xếp từ thấp đến cao, từ (1) đến (5). Hễ nhu
cầu này được thỏa mãn thì sẽ nảy sinh nhu cầu mới cao hơn và cứ như vậy nhu
cầu của con người phát triển không ngừng và là động lực để thúc đẩy họ hoạt
động. Muốn động viên con người làm việc, nhà quản trị phải hiểu rõ nhu cầu đang
cần thỏa mãn của con người và tạo điều kiện cho họ tự thỏa mãn nhu cầu đó.
V. HỌC THUYẾT HỆ THỐNG
phương pháp hệ thống, xem xét toàn bộ tổ chức như một chỉnh thể, nằm
trong một bối cảnh rộng lớn hơn, bao gồm các tác động ngoại vi chi phối lên tổ
VI. THUYẾT ĐỊNH LƯỢNG TRONG QUẢN TRỊ
Chủ trương của lý thuyết định lượng cho rằng, quản trị là làm quyết định. Do vậy
quan điểm của lý thuyết này khác biệt với quan điểm của các nhóm lý thuyết trên
là coi hiệu quả của quản trị tùy thuộc vào sự đúng đắn trong các quyết định của
nhà quản trị.
Từ đó các nhà lý thuyết định lượng về quản trị cho rằng các nhà quản trị phải cố
gắng để có những quyết định đúng đắn. Muốn có được những quyết định đúng,
nhà quản trị phải thu thập đầy đủ thông tin và phải xứ lý chính xác, nhanh chóng.
Để xử lý chính xác, nhanh chóng thông tin, các vấn đề quản trị nên được diễn tả
bằng mô hình toán học, để có thể sử dụng máy tính trong quản lý.
Lý thuyết này áp dụng các tiến bộ khoa học của ngành điện toán, để giải các bài
toán mô hình phức tạp với tốc độ nhanh, xác định phương tiện tốt nhất để đạt mục
tiêu.
Tác động ngoại vi
Đầu ra
(Output)
Đầu vào
(Input)
Sản phẩm
Dịch vụ
Nguyên vật liệu
Máy móc, Nhà xưởng
Sức lao động
Hệ thống
Kiểm
soát
Phản hồi (feedback)
Y
X
thì
Nếu
Còn tùy
Chương II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ trang
16
.
8881616
3. THUYẾT Z VÀ KỸ THUẬT QUẢN LÝ NHẬT BẢN.
Thuyết Z đặc biệt chú trọng đến quan hệ xã hội và yếu tố con người trong tổ chức.
Các công ty Nhật Bản có xu hướng phát triển và đào tạo nhân sự nhằm tranh thủ
sự hợp tác của nhân viên hay công nhân đối với công ty trong dài hạn, thậm chí
gắn bó suốt đời.
Kỹ thuật quản lý Kaizen chính là chìa khóa của sự thành công về quản lý
của Nhật Bản ngày nay.
Z
Chương III: Nhà quản trị và quyết định trong quản trị trang
17