THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TÍNH VÀ HẠCH TOÁN THUẾ GTGT VÀ MỘT VÀI ĐỀ XUẤT - Pdf 69

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TÍNH VÀ HẠCH TOÁN THUẾ GTGT
VÀ MỘT VÀI ĐỀ XUẤT
Bước vào thập kỷ 90, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước
đầu rất quan trọng được nhân dân cũng như bạn bè quốc tế thừa nhận và đánh giá
cao. Tuy nhiên, trong sự phát triển cuộc sống không dừng lại mà luôn vận động và
phát triển theo một lộ trình đã chọn: Đến năm 2000 sẽ phấn đấu đưa nước ta thành
một quốc gia có nền kinh tế công nông nghiệp phát triển, đã CNH -HĐH để sánh
ngang với các nước trong khu vực.
Phải khẳng định rằng, việc phát huy, khơi dậy mọi nội lực, nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam trên bước đường hội nhập trong bối
cảnh hiện nay là hết sức cần thiết và quan trọng. Kinh nghiệm thu được từ hơn 10
năm thực hiện cải cách mở cửa, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN nước ta cũng như bài học rút ra từ "cơn lốc" tài chính - tiền tệ Đông
Nam Á cho thấy rõ điều đó. Điều này nằm trong chân lý đơn giản là: Muốn làm gì
cũng phải có thực lực. Muốn hội nhập, phát triển trong một bối cảnh sự phụ thuộc
lẫn nhau ngày càng tăng và xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá là tất yếu thì đòi hỏi
nền kinh tế nước ta như bất kỳ một nước nào khác phải có thực lực, có sức cạnh
tranh cao.
Sẽ có rất nhiều vấn đề để nói, trao đổi, bàn bạc tranh luận. Trong khuôn khổ
bản bài viết này, em chỉ xin đề cập đến một vấn đề là phát huy tối đa nội lực nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà, mà giới hạn ở góc độ
hẹp hơn nữa là vấn đề thực hiện luật thuế GTGT trong gần một năm qua.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, so sánh với các loại thuế gián thu nói chung và
thuế doanh thu nói riêng, thì thuế GTGT có nhiều ưu điểm.
- Trước hết, thuế GTGT không thu trùng lặp, cho nên góp phần khuyến khích
chuyên môn hoá, hợp tác hoá để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm, phù hợp với công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính vào phần giá trị tăng thêm, nên khuyến khích
các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp với
định hướng phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian tới. Hàng hoá khi đem
xuất khẩu, chẳng những không phải chịu thuế GTGT mà còn được thoái trả lại

- Thứ hai, chuyển từ thuế doanh thu có 11 thuế suất (từ 0% đến 30%) sang áp
dụng thuế GTGT có 4 thuế suất (0% - 5% -10% - 20%) là một bước giảm bớt đáng
kể sự phức tạp và kém hiệu quả của cơ chế đa thuế suất. Nhưng thời gian đầu, sẽ
gặp phải khó khăn khó tránh khỏi là bị dồn thuế suất dẫn đến dễ bị hụt hẫng trong
thu ngân sách nhà nước và bị sốc trong một số doanh nghiệp những hàng hoá đang
chịu thuế suất cao nay xuống thuế suất thấp sẽ làm giảm thu ngân sách. Những
hàng hoá đang chịu thuế suất thấp nay lên thuế suất cao sẽ gặp khó khăn lúng túng
trong thời gian đầu và có thể kinh doanh không có lãi. Do đó, cần có biện pháp
điều tiết một phần từ những doanh nghiệp có thu nhập cao do được giảm thuế suất,
đồng thời giảm bớt khó khăn cho những doanh nghiệp gặp khó khăn do phải tăng
thuế suất cao hơn trước.
- Thứ ba, do mới chuyển đổi sang cơ chế thị trường lại vừa trải qua một thời
kỳ suy thoái kinh tế nên ngân sách nhà nước còn rất eo hẹp, các doanh nghiệp còn
nhiều mặt yếu kém (thiếu vốn, trang thiết bị lạc hậu, sức cạnh tranh kém) cũng làm
tăng thêm mức độ khó khăn trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT.
Những khó khăn nói trên là những trở ngại thực sự. Cần phải có sự dự báo
những tình huống có thể xảy ra và nhất là phải có những giải pháp sát hợp cho
từng tình huống để chủ động phòng chống, Nhà nước sẽ có những giải pháp về cơ
chế chính sách để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp
cũng phải phấn đấu vươn lên để thích ứng dần với cơ chế chính sách mới, nghĩa là
cả hai bên đều nỗ lực thực sự thì áp dụng thuế GTGT mới đạt được kết quả.
* Một vài đề xuất:
• Đối với vấn đề doanh thu nhận trước cần phải xem xét lại cách hạch toán để
đảm bảo được nguyên tắc dồn tích của kế toán quốc tế. Như đã trình bày thì doanh
thu nhận trước của doanh nghiệp khi cung cấp hàng hoá, dịch vụ, kế toán ghi như
sau:
Nợ TK 111, 112: Tổng giá thanh toán
Có TK 511: Doanh thu
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
Như vậy doanh thu trong kỳ và thuế GTGT trong kỳ không phản ánh đúng

cực vào sự nghiệp thành công của một luật kinh tế mới - luật thuế GTGT.
KẾT LUẬN
Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế và xu thế hội nhập vào thị trường thế
giới, việc sớm nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật thuế GTGT ở Việt Nam là
vô cùng cần thiết và cấp bách. Sự thay đổi này tác động đến cả hệ thống kế toán từ
việc lập chứng từ, hoá đơn đến việc tính và hạch toán thuế GTGT.
Áp dụng thành công luật thuế này sẽ tạo thành xương sống cho hệ thống thuế
nước ta. Để tạo cơ sở tái cấu trúc hệ thống thuế nước ta hoàn thiện hơn, hiện đại,
phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế của đất nước, với thông lệ quốc tế, phải nỗ
lực thực hiện, áp dụng thành công luật thuế này.
Bài viết không đề cập đến tình hình thực tiễn công tác kế toán thuế GTGT,
những bất cập, khó khăn đối với từng loại hình kinh doanh do đó còn rất nhiều nội
dung thiếu sót. Mặt khác, trong phạm vi kiến thức hạn chế, không tránh khỏi
những sai phạm. Em mong thầy thông cảm cho em.
Xin chân thành cảm ơn thầy!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status