Lời nói đầu
Hớng tới một tơng lai tơi đẹp, một sự phát triển không ngừng của cả nhân loại.
Bớc vào thế kỷ 21, xu hớng chung của nền kinh tế thế giới là sự quốc tế hoá hợp
tác hoá về mọi mặt giữa các quốc gia. Kinh tế là nhịp cầu nối liền các quốc gia
ngày càng xích lại gần nhau hơn. Nền kinh tế ngày càng đợc quốc tế hoá và hợp
tác hoá bao nhiêu thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia càng trở nên mạnh mẽ bấy
nhiêu. Khi đó thị trờng cạnh tranh tự do đã thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của
các quốc gia. Vì vậy để cùng hoà nhập và cạnh tranh với nền kinh tế thế giới
chung đòi hỏi nhà nớc ta phải có một nền kinh tế phát triển toàn diện, vững chắc
và một hệ thống hạch toán kế toán hoàn thiện
Cơ chế thị trờng hiện nay đòi hỏi nhà nớc XHCN phải thực hiện, phải sử dụng
kế toán là công cụ đặc biệt quan trọng trong việc quản lý nền kinh tế. Trong đó,
Hạch toán kế toán NVL (nguyên vật liệu ) là một bộ phận cấu thành của công cụ
quản lý kinh tế tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm
soát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Vì thế việc hoàn thiện côngtác kế
toán trong đó hoàn thiện kế toán NVL là công việc hết sức quan trọng và cần
thiết đối với mỗi doanh nghiệp hiện nay.Công việc này góp phần tích cực trong
việc tính và tập hợp chi phí giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp Từ đó đặt
ra nhiệm vụ hết sức to lớn đối với công tác kế toán của doanh nghiệp là phải hoàn
thiện công tác kế toán NVL .Vì đây là xuất phát điểm quan trọng giúp cho việc
điều hành, quản lí , tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh một cách khoa học
mang tính kinh tế cao. Tạo đà phát triển cho quá trình CNH-HĐH đất nớc.Từ đây
có thể nói vấn đề này không chỉ cần đợc nghiên cứu dới góc độ doanh nghiệp mà
cần phải đợc nghiên cứu ở tầm vĩ mô của Nhà nớc.
Chính vì vậy mà chuyên đề tập trung đi sâu vào vấn đề hoàn thiện công tác kế
toán NVLở các nội dung chính sau:
Phần I : Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán NVL trong các
doanh nghiệp
Phần II : Thực trạng về công tác kế toán NVL trong các doanh nghiệp hiện
nay và một số ý kiến đề xuất.
Kết luận
kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp nhằm để ghi chép phân loại tổng hợp số
liệu về tình hình hiện có và sự biến động tâng giảm về NVL trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Và cung cấp số liệu kịp thời phục vụ cho việc tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Thực hiện việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua vào,
tình hình thanh toán với ngời cung cấp, tình hình sử dụng NVL trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
II .Phân loại NVL
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụng
nhiều loại NVL khác nhau, chúng có vai trò, công dụng, tính chất lý hoá rất khác
nhau và biến động liên tục hàng ngày trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhằm
tổ chức tốt công tác quản lý và hạch toán NVL, bảo đảm sử dụng có hiệu quả
NVL trong hoạt động sản xuất kinh doanh cần phân loại NVL. Tuỳ thuộc vào nội
dung kinh tế và chức năng của NVL trong sản xuất mà NVL trong doanh nghiệp
có sự phân chia thành các loại khác nhau. Nhìn chung trong các doanh nghiệp
NVL đợc chia thành những loại sau:
1.NVL chính:
Là đối tợng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp là cơ sở vật chất chủ yếu
hình thành nên thực thể của sản phẩm mới
Ví dụ: Sắt thép trong công nghiệp cơ khí, bông trong công nghiệp kéo sợi, hạt
giống, phân bón trong nông nghiệp.
Bán thành phẩm mua ngoài cũng phản ánh vào NVL chính nh: bàn đạp, khung
xe đạp .. trong công nghệ lắp ráp xe đạp, vật kết cấu trong xây dựng cơ bản.
2.NVL phụ:
Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ thong sản xuất, đợc sử dụng kết hợp
với vât liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo
quản, phục vụ hoạt động của các t liệu lao động hay phục vụ cho lao đông của
công nhân viên nh (dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống rỉ, h-
3
ơng liệu, xà phòng, giẻ lau, thuốc kích thích sinh trởng chăn nuôi hay trồng trọt
2.Giá NVL tự chế biến, tự sản xuất:
Là giá thực tế của NVL xuất chế biến cộng chi phí chế biến.
3.Giá NVL thuê ngoài gia công chế biến:
Là giá thực tế của NVL xuất kho chế biến cộng tiền thuê chế biến phải trả
công chi phí vân chuyển bốc dỡ
4.Giá của NVL (thực tế)các đơn vị góp vốn liên doanh:
Là giá thoả thuận do các bên tham gia liên doanh xác định.
5.Giá thực tế của NVL đợc biếu tặng:
Là giá thực tế theo giá thị trờng tại thời điểm đó.
6.Giá của NVL là phế liệu:
Là giá ớc tính thực tế mà có thể sử dụngđợc hoặc bán ra đợc thi trờng chấp
nhận.
B-Giá NVL xuất dùng trong kỳ:
Tuỳ theo các hoạt động, đặc điểm sản xuất kinh doanh yêu cầu quản lí và hạch
toán ,trình độ nghiệp vụ của kế toán trởng để vận dụng một trong các phơng pháp
tính giá NVL sau đây:
1.Phơng pháp đơn giá bình quân : (gồm 3 cách tính khác nhau)
1.1. Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ :
=
= +
5
Cách tính này đơn giản dễ làm nhng độ chính xác không cao, công việc tính
toán dồn vào tính toán do đó ảnh hởng đến thời gian lập báo cáo.
1.2. Gía đơn vị bình quân cuối kỳ trớc (giá bình quân tồn đầu kỳ)
=
= x
Cách tính này đơn giản phản ánh kịp thời tình hình biến động của NVL trong
kỳ nhng không chính xác là vì không tính đợc sự biến động giá cả trong kỳ của
giá NVL.
1.3. Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập
hoặc giá cuối kì trớc và đợc sử dụng thống nhất trong kì hạch toán. Khi dùng giá
hạch toán thì cuối kì kế toán phải điều chỉnh giá hạch toán sang giá thực tế. Th-
ờng dùng công thức:
= x
+
=
+
Hệ số giá có thể tính theo từng loại, từng nhóm, từng thứ NVL. Tuỳ thuộc vào
trình độ của kế toán. Từ đó tính ra giá thực tế của NVL xuất dùng trong kỳ:
7
= x HÖ sè gi¸ NVL
8