Thực trạng về công tác hạch toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ phần Thiết bị điện và Chiếu sáng Hồng - Pdf 11

Trang 1
Lời nói đầu
Trên con đường đổi mới, CNH- HĐH đất nước, mục tiêu đặt ra là nhằm
đưa Việt Nam trở thành một nước có nền kinh tế phát triển cùng hội nhập với
kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó thì có thể nói
Vốn chính là nguồn lực đầu tiên và cơ bản để thực hiện mục tiêu đó, và
NHTM sẽ là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh
và cho sự phát triển nền Kinh tế quốc dân nói chung.
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào
những thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã phải
vượt qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước. Vì
mục tiêu này, không ai khác mà chính hệ thống Ngân hàng thương mại phải
trở thành bàn đạp vững chắc cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị
trường đang trong tiến trình mở cửa, hội nhập với thế giới, Ngành ngân hàng
đang phải đối mặt vối vô vàn những khó khăn thách thức cũng như những cơ
hội mới, mà để tồn tại và phát triển, các Ngân hàng thương mại không ngừng
phải nỗ lực hết mình để khắc phục những khó khăn, phát huy những điểm
mạnh, tận dụng những cơ hội. Và một trong những vấn đề được quan tâm
hiện nay của các ngân hàng là hiệu quả của công tác Quản trị Nguồn vốn.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 2
Là một bộ phận cấu thành trong guồng máy của hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội đã góp phần không nhỏ vào sự
phát triển nền kinh tế Việt Nam. Song cũng không tránh khỏi những khó khăn
chung. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị Nguồn vốn để củng cố sự
tồn tại và phát triển ngân hàng, đã đang và sẽ là vấn đề được quan tâm bởi
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội nói riêng và hệ thống ngân hàng
thương mại nói chung.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 3
Chính vì vậy trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần

xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới
hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và
các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính". Hay như ở Ấn Độ,
luật ngân hàng năm 1950 và được bổ sung năm 1959 đã nêu: "Ngân hàng là
cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư". Và theo luật
ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương
mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 5
nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm...". Để hiểu về Ngân hàng thương
mại thì có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng ta thấy rằng các Ngân hàng
thương mại không phải là các trung gian tài chính duy nhất và để hiểu được
các Ngân hàng thương mại là như thế nào và để phân biệt các Ngân hàng
thương mại với các trung gian tài chính khác như: Các Công ty bảo hiểm, các
quỹ đầu tư... gọi chung là các tổ chức phi ngân hàng thì cần phải dựa trên
tính chất cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là: Ngân hàng thương mại là
nơi nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào
các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vá các dịch vụ kinh doanh khác của chính
ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo Điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc
Hội thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp
được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật
để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền
gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán".
Luật chỉ nêu ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan. Theo tổ chức
và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng, hiện nay hệ thống Ngân
hàng Việt Nam bao gồm năm loại ngân hàng: Ngân hàng thương mại, Ngân
hàng đầu tư, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác,

điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành, những
cán bộ có năng lực và những công nhân lành nghề.
Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh (NHTM).
Các NHTM được Nhà nước sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền
tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 7
hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các
Ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng
tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các
ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các
luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một
cách có hiệu quả.
Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế
quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần
thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền
tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nèn tài chính quốc tế
thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh
doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối
và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán
ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng
thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động
thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực
hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài

rộng.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng

nhân

doanh
nghiệp
Gửi tiền
Uỷ thác đầu tư
Ngân
hàng
thương
mại
Cho vay
Đầu tư

nhân

doanh
nghiệp
Trang 9
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng
thương mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh
toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách
hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh
hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với Ngân hàng
thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua
việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân
hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này
cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương

hợp Ngân hàng gặp thua lỗ.
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng
tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các
chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Ở những nước khác nhau,
định nghĩa về vốn tự có có thể khác nhau nhưng nét chung nhất vốn tự có bao
gồm các thành phần sau:
1 - Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng ngân hàng.
2 - Các quỹ dự trữ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ
sở hữu vốn như : Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính....
3 - Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng
4 - Các khoản nợ được coi như vốn.
Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng,
song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do tính
chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ và điều
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 11
chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, thì
vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký thác của ngân hàng
khoảng trên 90%. Các Ngân hàng Trung Ương quy định mức vốn tự có của
ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản có rủi ro quy đổi, điều này
muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sở hữu
đã được xem như là tài sản bảo vệ cho những người gửi tiền. Chức năng bảo
vệ không chỉ được xem như sự bảo đảm thanh toán cho người gửi tiền khi
ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung
cấp một khoản tài sản có dự trữ để ngân hàng khỏi bị đe doạ bởi sự thua lỗ, để
có thể tiếp tục hoạt động.
Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động và để bảo vệ người gửi
tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đã được xác định cho vốn chủ sở hữu của
Ngân hàng thương mại. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ quan

nghiệp vụ khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,
ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyển sở hữu và có trách
nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi có kỳ
hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn).
Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: Nhận
tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát
hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn
của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm uỷ thác, đại lý cho các
tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như
thẻ rút tiền tự động từ máy ATM...
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 13
nhất, chiếm khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động. Nhất là đối với
loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác
động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động. Vì
vậy Ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu, phân tích nguồn hình
thành vốn này, dự đoán trước tình hình cung cầu vốn để có đối sách phù hợp.
Vai trò đầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô của
hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với các
ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa
dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng nhỏ
hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường trong nước,
ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, mà chủ
yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng
nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về chính sách, gây ảnh
hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành

Thực chất các chứng chỉ tiền gửi đó giống như tín phiếu do các Ngân hàng
trung gian ở Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành trong năm
1995. Nó là loại phiếu Nợ, phiếu vay tiền do Ngân hàng phát ra giống như
Séc chẳng hạn.
Ở Việt Nam hiện nay đã và đang huy động vốn qua các chứng chỉ tiền
gửi có mệnh giá lớn. Các khoản vay trên thị trường chủ yếu thông qua hình
thức phát hành trái phiếu. Đây là một công cụ vay Nợ dài hạn trên thị trường
vốn dưới hình thức ghi nhận giấy Nợ do các tổ chức Tín dụng ( bao gồm các
NHTM ) phát hành.
• Vay từ các tổ chức Tín dụng khác:
Đó là các khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị
trường liên Ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Đây là hình thức cho vay, nhưng
thực ra nó là hình thức tương trợ giữa các Ngân hàng để có được sự thoả
thuận và sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 15
• Vay nước ngoài:
Hiện nay các NHTM ở Việt Nam được phép vay vốn của các tổ chức nước
ngoài qua các hình thức:
+ Vay bằng tiền (vay tài chính).
+ Phát hành trái phiếu ra nước ngoài.
+ Thuê tổ chức nước ngoài.
+ Nhập khẩu hàng hoá dịch vụ trả chậm theo phương thức mở thư Tín dụng.
+ Các loại hình vay nước ngoài khác.
Để huy động được nguồn vốn vay nước ngoài, các NHTM cần có những
giải pháp sử dụng nguồn vốn Tín dụng có hiệu quả và đặc biệt nên sử dụng
vào việc triển khai các chương trình quốc gia, tham gia vào các kế hoạch cụ
thể do Thủ Tướng Chính phủ ra quyết định để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ
từ phía Nhà nước.
1.1.2.4 Vốn khác:

là lãi suất vay của các ngân hàng khác) và mức lợi nhuận có thể thu được khi
đầu tư vào tín dụng chứng khoán. Mục tiêu chính của phương thức quản lý
nàylà bảo đảm thanh khoản của ngân hàng, đảm bảo đủ vốn cho nhu cầu tín
dụng hợp lệ và duy trì lãi suất cơ bản ròng và doanh lợi.
Ngoài việc coi các khoản tiền gửi có thể phát séc là nguồn vốn tín dụng
hàng đầu, các ngân hàng còn tìm cách thu hút thêm nguồn vốn đi vay mới
bằng cách phát hành các loại phiếu ngân hàng, phát hành tài sản nợ....để tăng
thêm vốn vay.
Quản trị nguồn vốn bao gồm bốn vấn đề chính sau:
• Huy động vốn- Vấn đề then chốt.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 17
• Ước tính chi phí cho nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi.
• Rủi ro của các loại nguồn vốn - Vấn đề lựa chọn giữa chi phí và rủi ro.
• Rủi ro thanh khoản- Vấn đề quan trọng hàng đầu.
• Giải pháp đối với Vốn tự có.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 18
1.2.1 Huy động vốn- Vấn đề then chốt.
1.2.1.1 Huy động từ các tài khoản tiền gửi
Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng không
có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một mức lãi suất
thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ
hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do
đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một
số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền
gửi không kỳ hạn gồm hai loại:
- Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân
hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các

thanh toán khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trước về
thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân
hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách
hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó
vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này,
ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng.... mục đích
là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn
rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền
sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này được trả lãi suất cao
hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Lãi suất mà các NHTM trả cho tiền gửi có
kỳ hạn thường cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Bởi vì với khoản
tiền gửi ổn định này, ngân hàng có thể chủ động sử dụng nó trong thời gian
nhất định để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, ít rủi ro hơn, và do đó Ngân
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 20
hàng cũng sẽ trả lãi cao hơn để kích thích khách hàng đến gửi. Tuy nhiên để
tạo tính lỏng cho loại tiền gửi có kì hạn này - nhằm hấp dẫn khách hàng hơn-
ngân hàng có thể cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với những khoản
phạt đáng kể (chẳng hạn chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn).
Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, tiền gửi có kỳ hạn còn được biến
tướng dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi (CD), chủ yếu được phát hành cho
các công ty và các ngân hàng khác mua.CD loại lớn là loại có thể đem bán lại
ở các thị trường thứ cấp trước khi đến hạn. Vì lý do đó, loại CD này được các
công ty, các quỹ tương trợ thị trường tiền tệ và các tổ choc tài chính khác nắm
giữ như là tài sản thay thế cho các tín phiếu Kho Bạc và những trái khoán
ngắn hạn khác. Việc xuất hiện CD là một cuộc cách mạng trong hoạt ngân
hàng. Các chủ ngân hàng giờ đây có trong tay công cụ huy động vốn chủ
động theo nhu cầu sử dụng vốn mà không phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu

dịch. Chúng có đặc tính chung là được hưởng lãi và chủ những tài khoản này
không được phát hành séc. Mức lãi suất của chúng thường cao hơn tiền gửi tài
khoản séc bởi vì những người gửi tiền đó không được hưởng nhiều dịch vụ
như đối với tài khoản séc.
Vốn tiền gửi là nguồn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn
của ngân hàng thương mại, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh.
Chính vì vậy người ta gọi ngân hàng thương mại là ngân hàng ký thác hay
ngân hàng tiền gửi.
1.2.1.2 Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá mà các Ngân hàng thương mại dùng để huy động vốn
thực chất là các giấy nhận nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân
hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở một
mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 22
Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn sử dụng
có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có
tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế. Ngân hàng
thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức:
• Phát hành trái phiếu:
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) của ngân hàng
phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân hàng khi
phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn. Việc phát hành
trái phiếu, các Ngân hàng thương mại chịu sự quản lý của Ngân hàng Trung
Ương, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và có thể bị chi
phối bởi uy tín của ngân hàng.
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng. người
sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến
hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường tiền tệ.

các Ngân hàng thương mại khác thì giải quyết tiếp theo là đi vay của Ngân
hàng Trung Ương. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các
Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung Ương các loại vốn: Vốn
vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu của Ngân hàng thương mại
hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp những thiếu hụt
tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang các giấy tờ
có giá đến Ngân hàng Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp vốn).
Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng
thương mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm tiền
Trung Ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụng cho Ngân hàng
thương mại một cách thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằm
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 24
cứu nguy cho các Ngân hàng thương mại khi cần thiết, nếu sự đổ vỡ của các
Ngân hàng thương mại có thể gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống
ngân hàng.
1.2.2 Ước tính chi phí cho nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi
Để có thể gia tăng nguồn vốn bằng các dịch vụ tiền gửi và phi tiền gửi,
ngân hàng cần phải trả lời cho được 2 vấn đề chủ yếu sau đây:
- Chi phí để có thể được có được nguồn vốn là bao nhiêu?
- Mối quan hệ phụ thuộc và rủi ro của mỗi nguồn vốn.
Chúng ta sẽ lần lượt tìm lời giải đáp cho 2 vấn đề trên. Mỗi ngân hàng
thương mại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay cần phải biết mỗi
khoản mục chi phí bao gồm những gì. Điều này đặc biệt chính xác đối với
huy động vốn bởi vì đối với hầu hết các ngân hàng và tổ chức tín dụng chi phí
trả lãi cho nguồn vốn là cao nhất trên cả chi phí nhân viên, chi phí quản lý
gián tiếp và các khoản chi phí nghiệp vụ khác.
Có ba phương pháp ước tính chi phí thường được sử dụng như sau:
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 25

nhuận kỳ vọng của những người góp vốn để hình thành nên ngân hàng.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng

Trích đoạn Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển Hoạt động huy động vốn Quản lý chi phớ cho Nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi Tỡnh hỡnh cơ cấu nguồn vốn của Ngõn hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status