QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM - Pdf 69

[7]

1. QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM:
1.1. Vấn đề tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Sau hơn 11 năm đàm phán vào ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức kinh tế thế giới WTO. Từ đây kinh tế Việt Nam lật sang một
trang mới với bao vận hội và thách thức. Là một yếu tố vô cùng quan trọng của nền kinh
tế - tỷ giá hối đoái đã, đang và sẽ mãi là vấn đề lớn thu hút mối quan tâm của chính phủ
và các thành phần kinh tế đặc biệt là trong tình hình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới như hiện nay. Đúng như lời của tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám
sát tài chính Quốc gia đã nhận định : “ Rủi ro tài chính vĩ mô lớn nhất là tỷ giá”.
Bắt đầu vào những năm 1989, nhà nước ta đã có những chủ trương và giải pháp đổi mới
trong quan hệ đối ngoại và chính sách tỷ giá đã từng bước xóa bỏ cơ chế độc quyền
thương mại với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực tiếp kinh doanh xuất nhập
khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng có
những thay đổi căn bản, chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều
hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh kinh tế. Từ một
cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị trường ; tỷ giá hối đoái
đã được điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường. Cơ
chế một tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là
một phạm trù kinh tế vận động theo quy luật cung cầu và nền kinh tế vừa là một công cụ
điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước.
Ngày 24/2/1999, Thống đốc ngân hàng nhà nước đã có quyết định số
64/1999/QĐ/NHNN và quyết định số 65/1999/QQĐ/NHNN ban hành cơ chế điều
hành tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, với nguyên tắc cơ bản là tỷ
giá được xác định theo cung cầu thị trường, có sự điều tiết của nhà nước. Trong đó
TGBQLNH của ngày hôm trước được áp dụng để các ngân hàng thương mại làm cơ sở
xác định tỷ giá giao dịch trong ngày hôm sau. Ngân hàng nhà nước quy định biên độ
giao dịch cho phép trong từng thời kỳ. Ngân hàng nhà nước trực tiếp can thiệp lên
TTNTLNH để tác động lên TGBQLNH hàng ngày.
[8]

10/3/2008 16025 +-1% Nới rộng biên độ
24/12/2007 16113 +-0,75% Nới rộng biên độ
02/01/2007 16101 +-0,5% Nới rộng biên độ
01/07/2002 +-0,25% Nới rộng biên độ

1.2. Phân tích tác động của rủi ro tỷ giá hối đoái đến các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu Việt Nam.
1.2.1. Nguồn gốc của rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp XNK Việt Nam:
Theo định nghĩa truyền thống, rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm
ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát
sinh bằng một loại đồng tiền trong khi dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng
tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá. Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3
hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư ( thường gặp trong các công ty
đa quốc gia), hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng. Trong phạm vi bài nghiên
cứu này, chúng tôi chú trọng đến rủi ro hoạt động xuất nhập khẩu và rủi ro tín dụng của
các doanh nghiệp xuất nhập Việt Nam.
Với đặc điểm của nền kinh tế nhỏ, đang phát triển hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam
là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm khoảng 96% số cơ sở sản xuất kinh doanh
(theo Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ- Bộ Kế hoạch & Đầu tư) trong đó không
thể không kể đến doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là các
doanh nghiệp có hoạt động chính là xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ giữa các
nước khác nhau. Họ là đối tượng hàng đầu phải gánh chịu rủi ro do biến động tỷ giá gây
nên. Điều này tương đối khác biệt so với các quốc gia khác trên thế giới khi họ chú trọng
đến rủi ro tỷ giá đầu tư ở các công ty đa quốc gia.
 Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu
[10]

Có thể nói rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu là loại rủi ro tỷ giá thường xuyên
gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu mạnh. Sự
thay đổi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc

để ra thị trường tự do mua USD, sau đó để USD này được hợp thức hóa, doanh nghiệp
lại bán lại cho NHTM với tỷ giá niêm yết. Chính vì vậy mà doanh nghiệp khó khăn lại
chồng chất khó khăn.
1.2.2. Tác động của biến động tỷ giá đến các doanh nghiệp XNK Việt Nam
 Tác động đến năng lức cạnh tranh của doanh nghiệp
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp tập trung ở khả năng quyết định giá cả của doanh
nghiệp so với đối thủ trên thị trường. Hoạt động trong điều kiện có rủi ro tỷ giá tác động
khiến doanh nghiệp luôn phải đối phó với tổn thất ngoại hối, bằng cách nâng giá bán để
trang trải tổn thất nếu xảy ra. Điều này làm cho giá cả của doanh nghiệp trở nên kém hấp
dẫn và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm sút. Nhìn chung, rủi ro tỷ giá phát
sinh trong hoạt động của doanh nghiệp có thể gây ra ba loại tổn thất ngoại hối : (1) Tổn
thất giao dịch, (2) tổn thất kinh tế, (3) tổn thất chuyển đổi kế toán.
Tổn thất giao dịch: Tổn thất giao dịch phát sinh khi có các khoản phải thu hoặc phải trả
bằng ngoại tệ. Tổn thất các khoản phải thu ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị qui ra
nội tệ thu về sụt giảm do ngoại tệ xuống giá so với nội tệ. Tổn thất các khoản phải trả
ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị qui ra nội tệ chi ra tăng lên do ngoại tệ lên giá so
với nội tệ.
Tổn thất kinh tế: là tổn thất phát sinh do sự thay đổi của tỷ giá làm ảnh hưởng đến dòng
tiền qui ra nội tệ hoặc ngoại tệ của doanh nghiệp. Tổn thất kinh tế xảy ra tương tự như
tổn thất giao dịch, chỉ khác biệt ở chỗ nó là những khoản tổn thất không xuất phát từ các
khoản phải thu hoặc phải trả có hợp đồng rõ ràng mà từ dòng tiền hoạt động của doanh
nghiệp. Chẳng hạn, sự lên giá của nội tệ làm sụt giảm doanh thu xuất khẩu của doanh
nghiệp, do hàng xuất khẩu bây giờ trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng nước
ngoài. Tổn thất kinh tế có thể xác định theo công thức sau: ΔV = CF
t
.ΔS
t
, trong đó:
[12]


hạn, một trong những chỉ tiêu đánh giá xem có nên đầu tư hay không vào dự án này là
hiện giá ròng NPV. Công thức chung để tính như sau:




n
t
t
WACC
CFt
NPV
0
)1(

Trong đó: CF
t
dòng tiền ròng ở thời điểm t,
WACC chi phí huy động vốn trung bình
n số năm hoạt động của dự án.

Dòng tiền ròng kỳ vọng được xác định từ doanh thu và chi phí. Doanh thu xuất khẩu
chịu tác động của tỷ giá hối đoái, do đó, dòng tiền ròng CFt phụ thuộc vào tỷ giá. Tỷ giá
thay đổi làm thay đổi dòng tiền từ đó làm ảnh hưởng đến NPV và ảnh hưởng đến việc
hoạch định đầu tư vốn của doanh nghiệp.
Tác động đến sự tự chủ tài chính của doanh nghiệp: Sự chịu đựng tài chính của doanh
nghiệp được xác định và đo lường bởi sự tự chủ về tài chính. Trong tài chính công ty,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status