Luận văn: " Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu của Công ty MESCO " - Pdf 70



TRƯỜNG..........................
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI
Một số giải pháp nhằm hoàn
thiện hoạt động nhập khẩu
của Công ty MESCO
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

1

LỜI NÓI ĐẦU

Hoạt động ngoại thương góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của
nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên cán cân ngoại trưởng
của chúng ta cho đến nay hầu như chưa được cân đối, phải thường xuyên
nhập siêu có nghĩa là trị giá nhập khẩu lớn hơn giá trị xuất khẩu. Điều này
không hẳn là sự tác động xấu đến nền kinh tế. Đối với đất nước ta đang trong
thời kỳ đầu mở cửa nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế
thị trường cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nghèo nàn, khoa học công nghệ lạc
hậu. Nhập khẩu là một giải pháp để khắc phục bổ sung những khiếm khuyết
đó, tạo nên bước đột phá đưa nền sản xuất của nước nhà dần theo kịp các

dùng hoặc tái xuất khẩu nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Nghị quyết hội nghị lần thứ IX của Ban cháp hành trung ương Đảng
khóa IX đã xác định: tiếp tục chủ động hội nhập, thực hiện có hiệu quả các
cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế, chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để
sớm gia nhập WTO. Để thực hiện tốt chủ trương này, một mặt phải biết phát
huy cao độ tiềm năng và lợi thế trong nước, tranh thủ mọi nguồn ngoại lực để
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam,
mặt khác cũng hết sức quan trọng đó là hoàn thiện các biện pháp quản lý nhập
khẩu hàng hoá nhằm đáp ứng yêu cầu sớm gia nhập WTO. Điều này cho thấy
vai trò của nhập khẩu hàng hoá rất quan trọng đối với sự phát triển của một
quốc gia điều này được thể hiện cụ thể qua những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất nhờ có hoạt động nhập khẩu mà người tiêu dùng trong nước
có đựa sự lựa chọn lớn hơn đối với hàng hoá dịch vụ, nó bổ sung những thiếu
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

3
hụt về cầu do sản xuất trong nước không có khả năng sản xuất từ đó đáp ứng
được nhu cầu của thị trường nội địa, nâng cao mức sống của người dân, đa
dạng hoá mặt hàng về chủng loại.
Thứ hai, nhập khẩu sẽ phá vỡ tình trạng độc quyền trong nước, phần lớn
các mặt hàng nhập khẩu thường có tính cạnh tranh cao về chất lượng sản
phẩm, kiểu dáng, giá cả… vì vậy các nhà sản xuất trong nước muốn tồn tại
được cần phải tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành để tăng khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập, từ đó tình trạng độc
quyền bị xoá bỏ và người hưởng lợi chính là người tiêu dùng trong nước.
Nhập khẩu cũng là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế
thế giới, nhất là đối với Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Nó là một trong những công cụ hữu hiệu giúp chúng ta xoá bỏ nền kinh tế tự
cung tự cấp để tiến tới nền kinh tế thị trường.

đều có lợi thế so sánh nên hoạt động nhập khẩu nó tạo điều kiện thuận lợi cho
cả hai bên trên cơ sở hợp tác hoá cùng có lợi.
Thứ bảy, nhập khẩu nó đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người
tiêu dùng trong nước, góp phần làm cho quá trình sản xuất và tiêu dùng trong
nước diễn ra thường xuyên và ổn định vì không phải lúc nào thị trường trong
nước cũng cung cấp được các yếu tố đầu vào đáp ứng cho sản xuất trong nước
diễn ra. Ví như Việt Nam phải nhập khẩu phôi thép nên không có nhập khẩu
sản xuất trong nước sẽ trì trệ. Mặt khác nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày
càng tăng vì vậy nhập khẩu sẽ khắc phục được hiện tượng mất cân đối giữa
cung và cầu trong nước.
Nói tóm lại hoạt động nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự
phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Thông qua hoạt động nhập khẩu quan
hệ hợptác kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, góp phần tăng năng suất
lao động, trình độ phân công lao động ngày càng cao, đời sống người dân
được nâng cao về vật chất lẫn tinh thần. Điều này được thể hiện rõ ở các nước
kém và đang phát triển điển hình như Việt Nam. Chúng ta đã chủ động tiến
hành hoạt động nhập khẩu để phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

5
hoá đất nước; thúc đẩy cơ giới hoá nông nghiệp, tác động đẩy mạnh thuỷ lợi
hoá, sinh học hoá, phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản để nâng
cao chất lượng phục vụ cho xuất khẩu. Thúc đẩy sự ra đời của ngành công
nghiệp lắp ráp điện tử, công nghiệp may mặc… tạo ra những sản phẩm có giá
trị cao.
3. Các hình thức nhập khẩu
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu khá phổ biến đối với các
doanh nghiệp nhưng do trình độ phát triển ngày càng cao, do sự tác động của
điều kiện kinh doanh, điều kiện môi trường nên các doanh nghiệp đã sáng tạo
ra nhiều hoạt động nhập khẩu sao cho phù hợp với khả năng của doanh

thác. Nhập khẩu uỷ thác có những đặc điểm chủ yếu sau:
Bên nhận uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không
phải nghiên cứu thị trường công việc này thuộc bên uỷ thác. Bên nhận sự uỷ
thác chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để tìm và giao dịch với bên đối tác
nước ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng, thay mặt bên uỷ thác
khiếu kiện, đòi bồi thường với đối tác nước ngoài khi có sự vi phạm hợp đồng
gây thiệt hại.
Quyền lợi mà bên nhận uỷ thác có được từ bên uỷ thác là phí uỷ thác.
Thông thường doanh nghiệp nhận uỷ thác được hưởng một khoản thù lao trị
giá 0,5% đến 1,5% tổng giá trị hợp đồng và phải nộp thuế thu nhập trên
nguồn thu này, khi tiến hành nhập khẩu doanh nghiệp nhận uỷ thác chỉ tính
kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không tính vào doanh số và nộp thuế giá trị gia
tăng.
Việc sử dụng trung gian giúp cho doanh nghiệp giảm được mức độ rủi
ro do những người trung gian thường hiểu biết về thị trường, pháp luật và tập
quán địa phương. Do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán tránh bớt
rủi ro cho người uỷ thác. Mặt khác các nhà trung gian thwongf có cơ sở vật
chất nhất định nên khi sử dụng họ, người uỷ thác đó phải đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài. Tuy nhiên khi sử dụng doanh nghiệp uỷ thác họ bị chia rẽ lợi
nhuận, mất sự liên lạc trực tiếp với thị trường
3.3. Nhập khẩu song song
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

7
Đề cập đến nhập khẩu song song là đề cập đến hoạt động thương mại
gắn liền với hàng hoá chứa đựng đối tượng SHCN (Sở hữu công nghiệp) được
bảo hộ, nhập khẩu song song được hiểu là một nhà nhập khẩu không có mối
liên hệ nào với chủ đối tượng SHCN, tiến hành hành vi nhập khẩu một hàng
hoá nhất định chứa đựng đối tượng SHCN nói trên đã được cung cấp bởi
một nhà phân phối được cấp licence hoặc chủ đối tượng SHCN. Như vậy, một

người nhập khẩu cũng đồng thời là người xuất khẩu.
- Điều kiện cân bằng phải cân bằng về mặt hàng, về giá cả, cân bằng về
mặt tổng giá trị hàng giao cho nhau và cân bằng về điều kiện giao hàng.
- Người nhập khẩu cùng một lúc thu lãi từ hai hoạt động: nhập khẩu và
xuất khẩu điều này làm lợi cho cả hai bên.
- Trong quá trình trao đổi hàng hoá dịch vụ hai bên phải quy định thống
nhất lấy một đồng tiền làm vật ngang giá chung cho quá trình trao đổi.
3.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động mua hàng hoá từ nước ngoài về nhưng
mục đích không phải để tiêu dùng trong nước mà xuất khẩu sang nước thứ ba
nhằm thu một khoản ngoại tệ lớn hơn. Mặt hàng này chưa qua chế biến ở
nước mình mà được xuất khẩu trực tiếp sang nước thứ ba. Như vậy, hoạt động
nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và
nước nhập khẩu.
Đặc điểm của hoạt động tái xuất:
- Người kinh doanh tái xuất phải ký hai hợp đồng một hợp đồng nhập
khẩu và một hợp đồng xuất khẩu không chịu thuế XNK
- Hàng hoá có thể chở thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu
nhưng nước tái xuất nhận tioền từ nước nhập khẩu và thanh toán tiền cho
nước xuất khẩu.
- Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tái xuất quy định dùng phương
thức thư tín dụng giáp lưng. Kinh doanh theo hình thức này đòi hỏi sự nhạy
bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong hợp đồng
mua bán.
3.6. Nhập khẩu gia công
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

9
Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu trong đó bên nhập khẩu
nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra

4.1. Các yếu tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan tự bản thân doanh nghiệp có thể điều chỉnh khắc
phục được, nó thuộc bản thân doanh nghiệp. Các nhân tó này có tác động tích
cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh doanh, hoạt động nhập khẩu điều này
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vốn, nguồn nhân lực, về xây dựng thể chiế
chính sách phát triển thị trường, về kết cấu hạn tầng thương mại, về hình
thành kênh phân phối lưu thông, hoạt động sản xuất kinh doanh và về tổ chức
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần phải tự đánh giá đùng khả năng của mình để đề ra
những mục tiêu phù hợp cần đạt tới và cách thức để mục tiêu đó. Một kế
hoạch chiến lược được thiết lập và phát triển cho toàn bộ các hoạt động của
doanh nghiệp nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng.
Cơ cấu tổ chức bộ máy là cơ sở đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh có hiệu quả. Sự phối hợp giữa các bộ phận sẽ diễn ra nhịp nhàng thông
suốt nếu bộ máy tổ chức có cơ cấu hợp lý. Trong đó yếu tố con người đóng
vai trò quan trọng đối với sự thành bại của một doanh nghiệp. Một đội ngũ
cán bộ có trình độ có kỷ luật nghiệp vụ thành thạo, có nhiều kinh nghiệm
trong hoạt động xuất nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp tránh được nhiều thiếu
sót trong quá trình tiến hành thủ tục nhập khẩu, dự kiến trước được tình hình
biến đổi trên thị trường xuất nhập khẩu để đề ra biên pháp, chính sách xuất
nhập khẩu phù hợp.
Một hệ thống kênh phân phối tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm
được chi phí, hàng hoá tiệu thụ nhanh và kịp thời đến khách hàng. Điều này
ảnh hưởng tới tình hình nhập khẩu của doanh nghiệp. Vì khi hàng hoá tiêu thụ
mạnh có nghĩa là sản xuất sẽ được mở rộng doanh nghiệp vì vậy mà nhu cầu
nhập khẩu phục vụ cho sản xuất tiêu dùng tốt hơn.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều cần đến vốn.
Nguồn vốn mà doanh nghiệp có được bằng nhiều cách: vốn tự có, vốn góp và
vốn vay hoặc lợi nhuận tái đầu tư. Quy mô sản xuất kinh doanh ít nhiều phụ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

12
Cơ chế điều hành của nhà nước cũng tác động lớn đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Cơ chế điều hành của chính phủ sẽ liên quan trực
tiếp tới tính hiệu lực của luật pháp và chính sách kinh tế. Nếu một chính phủ
mạnh, điều hành chuẩn mực và tốt sẽ khuyến khích kinh doanh chính đáng.
Nếu không điều hành tốt hoạt động XNK sẽ mất phương hướng thí dụ như số
lượng, thời điểm, giá cả… Hàng hoá nhập khẩu không được điều hành tốt có
thể làm cho thị trường trong nước biến động và gây khó dễ cho kinh doanh.
* Đối thủ canh tranh
Doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh phải đối mặt với nhiều đói thủ
cạnh tranh trong và ngoài nước. Cùng với sự lớn mạnh của nền sản xuất trong
nước khoảng cách giữa các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp, nhiều sản phẩm,
ngành lĩnh vực có chất lượng cao có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu
dùng trong nước, hàng hoá trong nước có khả năng thay thế hàng ngoại nhập.
Trước thực trạng đó doanh nghiệp phải tính đến đến sự lớn mạnh của sản xuất
trong nước để xem xét khả năng nhập khẩu chủng loại hàng hoá đó có thực sự
cạnh tranh với hàng hoá trong nước hay không. Không phải mặt hàng nào
nhập khẩu đều có thể chiếm ưu thế cạnh tranh với hàng nội. ở Việt Nam tính
từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu thấp hơn tốc độ tăng
trưởng của xuất khẩu, nếu so sánh trên cùng một mặt hàng của một số mặt
chủ yếu thì tốc độ xuất khẩu thành phẩm cao hơn tốc độ xuất khẩu nguyên
liệu bán thành phẩm, nếu loại trừ mặt hàng tạo nên tăng đột biến kim ngạch
nhập khẩu thì nhập khẩu tăng 18,6% thấp hơn so với tăng xuất khẩu là 27,3%
còn nếu lại bỏ yếu tố biến động giá cả bất thường thì kim ngạch nhập khẩu
tăng 11,9% thấp 2 lần so với tốc độ tăng nhập khẩu. Tất cả các yếu tố trên đây
phản ánh nội lực kinh tế đất nước ngày càng phát triển.
* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế trước hế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế

của những thay đổi trong môi trường công nghệ kỹ thuật cùng nhiều phương
thức khác nhau mà mỗi công nghệ mới có thể phục vụ cho đòi hỏi sản xuất
của công ty đồng thời cảnh giác các khả năng xấu có thể xảy ra.
* Hệ thống tài chính ngân hàng
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

14
Hệ thống tài chính ngân hàng ngày càng phát triển mạnh mẽ trên phạm
vi toàn cầu nó can thiệp sâu vào hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp chi
phối tới hoạt động này. Nó là cơ sở là chỗ dựa cho doanh nghiệp tiến hành
sản xuất kinh doanh; cung cấp vốn cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng
thanh toán cho doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội kinh doanh ngoài ra với hệ thống ngân
hàng tài chính đủ mạnh sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp đối với các bạn
hàng II. NỘI DUNG CỦA NHẬP KHẨU
1. Nghiên cứu thị trường
Khái niệm thị trường có thể xét nhiều góc độ khác nhau, từ có có định
nghĩa khác nhau. Theo quan điểm của kinh tế học thì thị trường là tổng thể
cung và cầu đối với 1 lại hàng hoá nhất định trong một thời gian và không
gian cụ thể. Theo định nghĩa này giả thiết cơ sở là tổng cung và cầu về 1 loại
hàng hoá trên thị trường vận động theo những quy luạt riêng và điều tiết thị
trường thông qua quy luật cung cầu. Nếu đứng trên giác độ quản lý 1 doanh
nghiệp, khái niệm thị trường phải được gần với các tác nhân kinh tế tham gia
vào thị trường như người mua, người bán, người phân phối… Với những
hành vi cụ thể của họ. Vậy so sánh hai khái niệm trên đây thì khái niệm trên
mang nặng tính lý thuyết còn khái niệm dưới giác độ doanh nghiệp không
phải bao giời cũng tuân theo quy luật cứng nhắc dựa trên lý thuyết vì hành vi

những đặc tính nào và đánh giá như thế nào đối với từng đặc tiếnh của hàng
hoá. Chừng nào mà nhà kinh doanh hiểu rõ được khách hàng sẽ cần loại hàng
hoá gì? hàng hoá đó phải có những đặc điểm gì? Điều đặc trưng quan trọng
nhất? Để tạo ra nó phải tốn chi phí bao nhiêu? Tương ứng với nó là mức giá
nào? Thì khi đó họ mới hy vọng kinh doanh có hiệu quả và mang lại lợi
nhuận.
* Nghiên cứu cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

16
Việc nghiên cứu cơ cấu mặt hàng nhập khẩu là rất cần thết đối với
doanh nghiệp tiến hành kinh doanh nhập khẩu. Khi nghiên cứu vấn đề này
cần xem xét thực trạng mặt hàng hiện tại trong nước như thế nào về khía
cạnh: tình hình tiên dùng mặt hàng đó, số lượng các nhà cung ứng nước
ngoài, tình hình sản xuất trong nước, chính sách mà nhà nước áp dụng cho các
mặt hàng nhập khẩu đó để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh có khả năng hấp dẫn
khách hàng nhất.
* Nghiên cứu giá hàng
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá nhập khẩu. Vấn
đề giá cả rất nhạy cảm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp
đến quyết định mua hàng của khách hàng. Nó chịu tác động của nhiều yếu tố
bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài, trở thành công cụ hữu hiệu cho
mục tiêu kinh doanh hàng hoá nhập khẩu phục vụ đắc lực cho chiến lược kinh
doanh của công ty.
* Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Ảnh hưởng của cạnh tranh có thể xem xét phân tích khía cạnh sau:
- Tương quan so sánh giữa giá thành giữa công ty và đối thủ cạnh tranh
trong cùng lĩnh vực hoạt động
- Mức độ ảnh hưởng của đối thủ và hàng hoá cung ứng sẽ áp dụng các
chính sách, chiến lược như thế nào?

hệ thống văn hoá kinh tế chính trị riêng áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu
nhằm khuyến khích hay hạn chế hàng hoá xuất khẩu đó nó ảnh hưởng đến
quan hệ giao dịch giữa các bên.
Sự khác biệt về văn hoá sẽ ảnh hưởng đến cách thức giao dịch sẽ được
tiến hành thí dụ như một số nước trong giao dịch thanh toán bằng tiền mặt,
một số nước thanh toán bằng thẻ… Điều này sẽ gây cản trở cho hoạt động
XNK và doanh nghiệp cần phải thích nghi với môi trường văn hoá mà định
tiến hành nhập khẩu.
Nhân tố thuộc môi trường chính trị - luật pháp cần phải tập trung vào
một số vấn đề chủ yếu sau:
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

18
- Sự ổn định chính trị: Mỗi một quốc gia khi thay đổi thể chế chính trị
có thể kéo theo mọi sự thay đổi khác như áp dụng chính sách thương mại mới
hay mức thuế mới.
- Sự điều tiết về tiền tệ: Những quy định về quản lý ngoại hối sẽ gây
khó khăn cho hoạt động XNK nói riêng và hoạt động thương mại nói chung.
- Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền: Tức là mức độ mà chính
quyền nước xuất khẩu điều hành hệ thống hữu hiệu để hỗ trợ các doanh
nghiệp tiến hành xuất khẩu.
- Các quy định mang tính chất pháp lý bắt buộc và quản lý cần phải
được xem xét kỹ lưỡng như: Cấm đoán hoặc kiểm soát đối với một số hàng
hoá và dịch vụ, cấm một số phương thức hoạt động thương mại, cấm kiểu
kiểm soát giá cả…
* Nghiên cứu giá cả hàng hoá quốc tế
Doanh nghiệp tiến hành kinh doanh mục tiêu là lợi nhuận đạt được.
Nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận có nhiều trong đó giá cả hàng hoá. Nếu
doanh nghiệp nhập hàng với giá cao đồng nghĩa với chi phí sẽ tăng lên phần
lợi nhuận sẽ giảm xuống. Khi đó muốn có lãi doanh nghiệp phải nâng giá bán

Sau khi đã tiến hành nghiên cứu thị trường trong nước và thị trường
quốc tế doanh nghiệp đã nắm được tình hình thực tế của thị trường và bản
thân doanh nghiệp trên cơ sở đó lập ra phương án kinh doanh nhằm thực hiện
mục tiêu kinh doanh của mình. Để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp cần
lập ra phương án tối ưu nhất để đạt được trạng thái mong muốn.
Công việc cần làm trong khâu này là:
+ Phân tích đánh giá tình hình thị trường và nhà cung ứng nước ngoài.
Mục tiêu của bước này là thông qua so sánh nhiều thị trường nhà cung ứng để
chọn ra một số nhà cung ứng hấp dẫn đối với doanh nghiệp. Trước hết để tiết
kiệm thời gian và chi phí cần giới hạn việc đánh giá bằng cách loại bỏ ngay
một số thị trường hiển nhân là không hấp dẫn đối với doanh nghiệp vì nhiều
nguyên nhân thuộc về bản thân sản phẩm cũng là tiêu chuẩn loại bỏ ngay một
số thị trường cung ứng.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

20
Sau khi loại bỏ những thị trường cung ứng hoàn toàn không có triển
vọng, các nhà cung ứng còn lại được đánh giá một cách khái quát theo những
khía cạnh sau:
- Môi trường chính trị
- Môi trường kinh tế - môi trường văn hoá
- Môi trường cạnh tranh
* Phân tích khả năng của doanh nghiệp
Đứng trước đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp cần thiết lập được bản
đánh giá tương đối về điểm mạnh và điểm yếu của mình. Một mặt doanh
nghiệp có năng lực nào vượt trội, tình trạng hiện tại hoặc tiềm năng của doanh
nghiệp như thế nào, nguồn lực mà doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh có thể
huy động từ bản thân hoặc từ nguồn nào khác bên ngoài doanh nghiệp.
* Sau khi phân tích khả năng nhà cung ứng và khả năng doanh nghiệp
bước tiếp theo là lựa chọn mặt hàng nhập khẩu phù hợp với điều kiện kinh

hiệu quả kinh doanh
Hàng hoá nhập về kinh doanh trên thị trường kết quả thu được có thể lỗ
hoặc lãi do có nhiều yếu tố phát sinh trong quá trình kinh doanh. Sau khi tiêu
thụ hàng hoá cuối kỳ cần tổng kết đánh giá hiệu quả kinh doanh, tìm ra những
nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để đề ra
các biện pháp khắc phục.
3. Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hoá
3.1. Giao dịch và đàm phán
Về vấn đề giao dịch doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức giao
dịch cao cho phù hợp với khả năng của chính bản thân doanh nghiệp. Trong
hoạt động ngoại thương các doanh nghiệp thường áp dụng các phương thức
giao dịch sau đây:
* Giao dịch thông thường: Tức là những phương thức bán phổ biến
nhất, thường thấy nhất. Được chia làm hai loại trực tiếp và qua trung gian.
- Giao dịch trực tiếp: Bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau,
việc mua và việc bán không ràng buộc lẫn nhau.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

22
- Giao dịch qua trung gian: Mọi việc thiết lập mối quan hệ giữa người
mua và người bán phải thông qua người thứ ba gọi là trung gian gồm có đại lý
và môi giới.
* Buôn bán đối lưu: Là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá,
trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là
người mua. Mục đích của xuất khẩu không phải thu về một khoản ngoại tệ mà
thu về một lượng hàng có giá trị tương đường.
* Các phương thức giao dịch đặc biệt:
- Đấu giá quốc tế: Đây là phương thức giao dịch đặc biệt được tổ chức
công khai tại một nơi nhất định, tại đó sau khi xem trước hàng hoá, những
người đến mua và cạnh tranh giá cả và cuối cùng hàng hoá sẽ được bán cho

- Đàm phán qua điện thoại
- Đàm phán trực tiếp
Khi tiến hành đàm phán thông thường các doanh nghiệp phải trải qua
các giai đoạn sau:
- Giai đoạn chuẩn bị: giai đoạn này có vai trò hết sức quan trọng nó
quyết định quá nửa của cuộc đàm phán. Các công việc phải làm là:
+ Chuẩn bị mục đích
+ Chia các mục tiêu ra các mục tiêu bộ phận
+ Lựa chọn địa điểm đàm phán, thời gian
+ Dự kiến được chương trình đàm phán
+ Đưa ra các kịch bản khác nhau
+ Tìm hiểu điểm mạnh điểm yếu của đối phương
+ Lựa chọn thành viên của đoàn đàm phán
- Giai đoạn thảo luận
Đây là giai đoạn các bên trao đổi ý kiến với nhau về vấn đề quan tâm.
Giai đoạn này gồm các công việc sau:
+ Bố trí chỗ ngồi đàm phán
+ Tóm tắt lý do và trao đổi ý đồ
+ Tìm hiểu ý đồ và mục tieu của đối phương
+ Cần xác định người có thực quyền trong đàm phán
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

24
+ Trình bày yêu cầu để đối tác hiểu và ghi lại nội dung cuộc đàm phán
- Giai đoạn đề xuất
Đây là giai đoạn các bên đưa ra đề xuất theo mục tiêu của cuộc đàm
phán. Các đề xuất này thường có điều kiện khác nhau và các bên thương
lượng với nhau theo từng phần từng điểm nhằm đi đến thống nhất. Nội dung
của giai đoạn này là đề xuất theo điều kiện. Các đề xuất có liên quan với
nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status