Đạo đức phật giáo và vai trò của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên việt nam hiện nay - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
------------------

NGUYỄN THỊ THƯ

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2015-X

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS. TS. Đặng Thị Lan

HÀ NỘI, 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
------------------

NGUYỄN THỊ THƯ

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY

người đã dành rất nhiều tâm huyết và thời gian hướng dẫn tôi hoàn thành
khóa luận này.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng xong khóa luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu của
quý thầy, cô và các bạ để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Thư


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
NỘI DUNG ......................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT...................................................................................... 9
1.1. Đạo đức Phật giáo và vị trí của đạo đức Phật giáo trong hệ tư tưởng
Phật giáo........................................................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm đạo đức Phật giáo .............................................................. 9
1.1.2. Vị trí của đạo đức Phật giáo trong hệ tư tưởng Phật giáo ................ 14
1.2. Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo ...................................... 16
1.2.1. Quan niệm về Thiện – Ác, Từ bi ...................................................... 16
1.2.2. Quan niệm về Ngũ giới..................................................................... 20
1.2.3. Quan niệm về thuyết Nhân quả, Luân hồi, Nghiệp báo ................... 29
1.3. Đánh giá chung về đạo đức Phật giáo..................................................... 35
1.3.1. Giá trị của đạo đức Phật giáo............................................................ 35
1.3.2. Hạn chế của đạo đức Phật giáo ......................................................... 37
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY ........ 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo là một tôn giáo lớn ra đời ở Ấn Độ vào thế kỉ VI trước công
nguyên và được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên. Là một học
thuyết có tính triết học sâu sắc cùng giá trị nhân văn cao cả, Phật giáo đóng
một vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngay
từ khi du nhập vào Việt Nam, với những tư tưởng giáo lý gần gũi, Phật giáo
đã nhanh chóng hòa hợp với tín ngưỡng bản địa, với những nguyện vọng, ước
mơ của người lao động và hội nhập với văn hóa Việt Nam. Phật giáo đã thấm
sâu vào trong dân chúng, tồn tại và phát triển qua nhiều đời, nhiều thế hệ và
được đông đảo nhân dân Việt Nam tiếp nhận với thái độ cởi mở. Trải qua gần
2000 năm gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo luôn chứng tỏ được vị
thế của mình và để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống tâm linh, văn hóa, đạo
đức của con người Việt Nam.
Những triết lý nhân sinh cùng với những giá trị đạo đức cao cả của Phật
giáo đã có tác động không nhỏ đến đạo đức của người Việt, luôn hướng họ
đến cái thiện, cái tốt đẹp với tinh thần “từ, bi, hỉ, xả”, “vô ngã”, “vị tha”. Cho
đến ngày nay, Phật giáo nói chung và hệ thống đạo đức cùng với các chuẩn
mực đạo đức Phật giáo nói riêng vẫn phát huy được những giá trị tích cực,
hòa nhập với nền đạo đức, văn hóa hiện đại của dân tộc Việt Nam và được
nhiều người tin theo. Như Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu và quyền lợi tinh thần của một bộ phận nhân dân, nó còn
tồn tại lâu dài và chi phối đời sống tinh thần văn hóa của một bộ phận dân
chúng, trong đó có những giá trị đạo đức phù hợp với lợi ích của toàn dân, với
công cuộc xã hội mới” [3,67].
Từ năm 1986, Việt Nam bắt tay vào công cuộc đổi mới đất nước. Dưới
những tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và xu hướng hội nhập quốc tế, nước ta đã đạt được những
1




thừa, phát huy và có những biện pháp cụ thể nhằm truyền tải các giá trị,
nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức Phật giáo đến với thanh niên sẽ góp phần
không nhỏ vào công cuộc xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam.
Có thể thấy, việc khai thác và phát triển các yếu tố của đạo đức Phật
giáo, đồng thời, hạn chế những tác động tiêu cực của nó để giáo dục đạo đức
cho thanh niên Việt Nam hiện nay là điều rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu
lý luận và thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Đạo đức Phật giáo và vai
trò của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ đầu công nguyên, trải qua gần
2000 năm đồng hành cùng dân tộc. Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc
trong đời sống tâm linh, văn hóa, đạo đức của con người Việt Nam. Chính vì
vậy, nghiên cứu Phật giáo luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả và
giới lý luận. Cho đến nay, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
Phật giáo dưới những góc độ khác nhau. Có thể tóm lược thành những hướng
nghiên cứu cơ bản sau:
2.1. Những công trình nghiên cứu, tìm hiểu Phật giáo Việt Nam nói chung.
Bộ sách: “Việt Nam Phật giáo sử luận” (3 tập, 1994, Nhà xuất bản Văn
học) của Nguyễn Lang và cuốn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” (3 tập, 1999,
Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh) của Lê Mạnh Thát đã khái quát một
cách toàn diện sự phát triển Phật giáo Việt Nam theo từng giai đoạn. Đây là
những tư liệu có giá trị đã khảo cứu Phật giáo Việt Nam một cách hệ thống,
trong đó có nhiều phần viết về vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hoá
tinh thần của dân tộc.
Các cuốn sách: “Việt Nam Phật giáo sử lược” (1943, Nhà xuất bản Hội
Tăng Ni Bắc Việt) của Hoà thượng Thích Mật Thể và “Lịch sử Phật giáo Việt
Nam” (1988, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội) do tác giả Nguyễn Tài

2.3. Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đạo đức Phật giáo đến
đạo đức con người Việt Nam và thanh niên Việt Nam

4


Hướng nghiên cứu này có các tác phẩm chủ yếu sau: “Tìm về bản sắc
văn hoá Việt Nam”của Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí
Minh (1997); “Văn hoá Phật giáo và lối sống của người Việt ở châu thổ Bắc
Bộ” của Nguyễn Thị Bảy, Nhà xuất bản Thông tin, Hà Nội (1997); “Phật giáo
với văn hoá Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy, Nhà xuất bản Hà Nội
(1999)...
Ngoài các công trình khoa học trên còn có rất nhiều bài viết đăng trên
tạp chí thuộc các ngành khoa học xã hội về đạo đức như: Đặng Hữu Toàn
“Hướng các giá trị truyền thống theo hệ chuẩn giá trị chân - thiện - mỹ trong
bối cảnh toàn cầu hoá và phát triển kinh tế thị trường”(Tạp chí triết học, số 4
– 2001, tr.27- 32); tác giả Trần Nguyên Việt với “Giá trị đạo đức truyền thống
Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị
trường”(Tạp chí triết học, số 5 – 2002, tr.20 - 25) .
Cuốn “Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện
nay” của Nguyễn Tài Thư (Tạp chí triết học số 4/1993); “Đạo đức Phật giáo
với kinh tế thị trường” của tác giả Hoàng Thơ (Tạp chí triết học số 7/ 2002).
Về ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống đạo đức xã hội cũng có nhiều
công trình luận án đã nghiên cứu. Tiêu biểu như công trình nghiên cứu của tác
giả Tạ Chí Hồng với “Ảnh hưởng của Đạo đức Phật giáo đối với đời sống đạo
đức của xã hội Việt Nam hiện nay” (Luận án Tiến sĩ triết học, năm 2003).
Luận án đã nhận định vị trí của vấn đề đạo đức trong tư tưởng Phật giáo, nội
dung, đặc điểm, nếp sống và giá trị đạo đức Phật giáo, sự dung hợp giữa đạo
đức Phật giáo với đạo lý Việt Nam, sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối
với đời sống đạo đức ở Việt Nam hiện nay và những giải pháp chủ yếu định

Để thực hiện được các mục tiêu trên, khóa luận thưc hiện các nhiệm
vụ sau:
+ Thứ nhất: Trình bày khái niệm đạo đức Phật giáo và những nội dung
cơ bản của đạo đức Phật giáo.
+ Thứ hai: Trình bày vài nét về thực trạng đạo đức thanh niên Việt Nam
hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục đạo đức thanh niên.

6


+Thứ ba: Phân tích vai trò của đạo đức Phật giáo đối với việc giáo dục
đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay.
+ Thứ tư: Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy những vai trò
của đạo đức Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đạo đức Phật giáo và vai trò của nó
đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Khóa luận tập trung nghiên cứu những giáo lý, giới luật cơ bản của
Phật giáo thể hiện nội dung đạo đức, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến
đạo đức thanh niên.
- Về mặt thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đạo
đức Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam kể từ khi
đất nước bắt đầu quá trình đổi mới đến nay (từ 1986 đến nay).
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Khóa luận dựa trên quan điểm triết học Mác – Lênin về tôn giáo, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG NỘI DUNG
CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT
1.1. Đạo đức Phật giáo và vị trí của đạo đức Phật giáo trong hệ tư
tưởng Phật giáo.
1.1.1. Khái niệm đạo đức Phật giáo
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là gì ? Có lẽ, câu hỏi này đặt ra khó có thể trả lời một cách vắn
tắt và ngắn gọn được. Bởi lẽ đạo đức xuất hiện từ rất sớm, cùng với sự hình
thành của xã hội loài người và sẽ không bao giờ biến mất nếu như con người
vẫn còn tồn tại. Chính vì thế, khái niệm đạo đức là gì, nguồn gốc của đạo đức,
các yếu tố cấu thành của đạo đức hay những biểu hiện của đạo đức như thế
nào luôn là những vấn đề được nhiều học giả quan tâm và cũng đã có rất
nhiều quan niệm khác nhau khi giải quyết các vấn đề đó.
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm đạo đức là gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997, “đạo đức”
được giải thích theo hai nghĩa như sau:
1. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy
định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.
2. Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chẩn
đạo đức mà có.
Trong chữ Hán, từ đạo đức được chú giải: “nguyên lý tự nhiên là đạo,
được vào trong lòng người là đức. Cái lượng pháp người ta nên noi theo
(morale, vertu)”. Trong tiếng La tinh, đạo đức là moralitas, có nghĩa là thái
độ, tính cách, ứng xử là sự khác biệt của ý định, quyết định, hành động giữa
những cái tốt hoặc đúng và giữa những cái xấu và cái sai.
Ở phương Đông, đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng nhất
của triết học Trung Hoa cổ đại. Đạo được hiểu là con đường sống của con
9

thói quen, phong tục, dư luận xã hội. Cho nên, những yêu cầu của đạo đức
10


mang hình thức bổn phận phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất
cả, nhưng không chịu sự ra lệnh của ai cả. Những yêu cầu này là có tính chất
tương đối bền vững.” [52].
Trong khi đó, Từ điển chính trị vắn tắt lại cho rằng: “Đạo đức là toàn
bộ các chuẩn mực hành vi trong xã hội, trong gia đình. Khác với các quy
phạm pháp luật mà việc tuân thủ chúng do cơ quan nhà nước duy trì và kiểm
tra, đạo đức dựa trên cơ sở dư luận và tác động của xã hội, dựa trên những
quan điểm , truyền thống và thói quen” [51,115].
Còn dưới góc nhìn đạo đức học của chủ nghĩa Mác thì “Đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã
hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ
với nhau và quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
truyền thống sức mạnh của dư luận xã hội” [18,8].
Theo định nghĩa này, đạo đức được xem xét ở ba phương diện chủ yếu:
Thứ nhất, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao gồm
toàn bộ những quan điểm, quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và
đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con người với con người, con người với
xã hội nhằm đảm bảo quan hệ lợi ích của cá nhân với cộng đồng.
Thứ hai, đạo đức là phương thức để điều chỉnh hành vi của con người.
Những chuẩn mực và quy tắc là những yêu cầu của xã hội nhằm điều chỉnh
hành vi của mỗi cá nhân trong mới quan hệ với nhau và với xã hội.
Thứ ba, đạo đức là một hệ thống giá trị, bao gồm các giá trị vật chất và
tinh thần, giá trị sản xuất và tiêu dùng và các giá trị chính trị - xã hội, tôn
giáo…
Đạo đức còn là một phạm trù lịch sử. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kì hay
mỗi dân tộc, giai cấp đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức nhất định.

và phát triển xã hội, chuẩn mực của đạo đức bao giờ cũng được đặt ở vị trí cao
nhất để khích lệ con người vươn tới mức hoàn thiện bản thân mình.
1.1.1.2. Khái niệm đạo đức Phật giáo
Trong mọi thời kì lịch sử, tôn giáo luôn là một bộ phận quan trọng
trong nền văn hóa, văn minh của nhân loại. Tôn giáo không chỉ là nơi để các
12


tín đồ thể hiện niềm tin của mình mà còn là cầu nối văn hóa giữa các nước,
các khu vực, vì vậy nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người.
Mỗi tôn giáo đều sẽ có một hệ thống giáo lý, triết lý riêng song nhìn chung thì
đều nhằm mục đích là hướng con người tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Và
Phật giáo cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Phật giáo là một trong ba
tôn giáo lớn nhất thế giới. Trong suốt quá trình lịch sử, từ khi hình thành cho
đến nay, Phật giáo đã không ngừng phát triển và đã để lại cho nhân loại nhiều
tư tưởng về tôn giáo, triết học, chính trị, mỹ học, văn hóa,…trong đó nổi bật
hơn cả là nội dung tư tưởng đạo đức. Về cơ bản, Phật giáo không phải là một
học thuyết về đạo đức, tuy xuất phát điểm của nó lại là sự chỉ dạy của đức
Phật cho con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát. Từ
những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của chúng để
xây dựng một hệ thống quan niệm đạo đức. Xuyên suốt nội dung giáo lý Phật
giáo đều đề cập đến vấn đề đạo đức với mục đích cao cả là hướng con người
tới điều thiện, sự bình đẳng và hạnh phúc. Như vậy, đạo đức là nền tảng quan
trọng trong hệ thống giáo lý của Phật giáo. Đạo đức Phật giáo với các chuẩn
mực, giá trị đạo đức mang tính phổ quát và nhân bản có giá trị không chỉ cho
những người theo đạo Phật mà có rất nhiều điểm phù hợp với đạo đức xã hội
nói chung.
Trong Luận án tiến sĩ “Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo
đức con người Việt Nam”, tác giả Đặng Thị Lan đã đưa ra khái niệm về đạo
đức Phật giáo như sau: “Đạo đức Phật giáo là toàn bộ những quan niệm, giá

được Phật giáo khẳng định qua “Tứ diệu đế” bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế
và đạo đế. Theo Phật giáo, nguyên nhân gây ra đau khổ là do con người vô
minh, không hiểu biết về sự vô thường, vô ngã. Chính vì không hiểu được bản
chất của sự vật, hiện tượng nên con người bị “vọng tưởng” và bị “dục” làm
cho mù quáng, tạo ra nghiệp báo, luôn quẩn quanh trong nhân – quả, không
thể thoát được khỏi vòng luân hồi khổ.
Từ đây, Phật giáo chỉ ra mục đích sống trong cuộc đời đó là giải thoát
con người ra khỏi khổ đau. Chính vì vậy, tư tưởng đạo đức cũng như các triết
lý của đạo Phật đều xoay quanh vấn đề làm sao cho chúng sinh thoát khỏi cái
14


khổ. Và đạo đức Phật giáo chính là sự nghiệp tu hành của chúng sinh theo đạo
Phật để tự giải thoát mình. Nguyên tắc thực hiện đạo đức Phật giáo yêu cầu
cần phải có cả 3 yếu tố Giới – Định – Tuệ đi liền với nhau. Đây được coi là
điều kiện tiên quyết để diệt dục, hết vọng tưởng, hết ngã chấp, đoạn tuyệt vô
minh và đạt giác ngộ.
Trong giáo lý Phật giáo, đạo đức giữ một vị trí vô cùng quan trọng bởi
nó là phương tiện cụ thể để những người tu hành thực sự thoát khỏi mọi ràng
buộc, thoát khỏi mọi nỗi đau khổ nơi trần thế và chứng được Niết bàn. Do đó,
có thể thấy Phật giáo không chỉ dừng lại ở những lý thuyết cao siêu mà hơn
hết nó thúc giục mọi người phải tự thực hành, tự giải thoát mình. Những quy
tắc đạo đức Phật giáo được thể hiện trong các giới luật, quy định nguyên tắc
ứng xử của các tín đồ, các cư sĩ và thế tục. Đây là những quy phạm đạo đức
giúp cho người tu hành có thể vượt qua những giá trị đạo đức thông thường
trong xã hội để đạt đến sự lìa bỏ ngã chấp. Giới luật chung cho cả cư sĩ và thế
tục là đạo đức nhân gian, tức từ, bi, hỉ, xả… nhằm đạt tới cuộc sống hòa vui,
tránh tạo nghiệp ác, tích lũy nghiệp thiện.
Có thể nói rằng, đạo đức Phật giáo là một hệ đạo đức xuất thế, luôn đề
cao tính tự chủ cá nhân trong việc thực hành các quy tắc đạo đức. Phật giáo

Những vấn đề cơ bản của đạo đức Phật giáo bao gồm những quan
niệm sau:
1.2.1. Quan niệm về Thiện – Ác, Từ bi
* Quan niệm về Thiện- Ác
Thiện, Ác được coi là hai phạm trù cơ bản, xuất hiện ở hầu hết các
quan niệm về đạo đức. Thiện, ác được thể hiện trong hành vi của con người.
Hai phạm trù này luôn hiện hữu trong đời sống hàng ngày, trong xử thế.
“Thiện” là một tính từ dùng để chỉ phẩm chất, hành vi của con người
tốt, nó phù hợp với các giá trị đạo đức. Cái thiện là những cái tốt đẹp, thể hiện
sự nhân từ, lòng yêu thương của con người trong cuộc sống hàng ngày.
“Ác” là một tính từ chỉ hành vi của con người không tốt lành, gây ra
đau khổ, tai họa cho người khác.

16


Để hiểu được cái thiện, cái ác một cách toàn diện nhất thì thực sự
không hề đơn giản. Xét theo thủ pháp phủ định liên tục để hướng con người
tới chứng ngộ và hội nhập Niết bàn, cùng là một hành vi thiện ở thân, khẩu, ý
nhưng ở tầng này là thiện thì ở tầng cao hơn nó lại là ác bởi vì còn vô minh.
Trước hết, có thể khái quát cái thiện trong quan niệm của Phật giáo bằng một
số ý chính là: điều tốt lành, lẽ phải, có ích, có lợi cho mình và cho người, còn
đối lập lại với những điều đó chính là cái ác.
Cái thiện được Phật giáo bàn đến rất nhiều và được đúc kết lại trong
quan niệm về Thập thiện và Tứ vô lượng tâm. Đức Phật luôn khuyên con
người hướng thiện, sống thiện và không ngừng làm việc thiện. Trong Kinh
Pháp Cú 118 có nói:
“Nếu người làm điều thiện
Nên tiếp tục làm thêm
Hãy ước muốn điều thiện

thì đã là thiện rồi, nếu còn làm thêm các điều khác mà đem lại lợi ích cho
muôn loài thì lại càng thiện hơn. Đối lập lại với mười điều ác trên là mười
điều thiện (Thập thiện):
Một là, không sát sinh, không sát hại sinh linh, đoạt mạng của loài
khác, người khác mà cứu mạng, giúp đỡ họ trong lúc hoạn nạn.
Hai là, không trộm cắp, không lấy những thứ không thuộc quyền sở
hữu của mình, hơn nữa phải thường xuyên bố thí cho những người khó khăn.
Ba là, không tà dâm, đối với người xuất gia phải đoạn trừ dâm tục, đối
với người tại gia thì cần giảm bớt sự dâm dục.
Bốn là, không nói dối mà nói lời thật thà.
Năm là, không nói lời thêu dệt mà nói lời đúng đắn, thẳng thắn.
Sáu là, không ác khẩu mà nói những lời nhẹ nhàng, dễ nghe, nhã nhặn.
Bảy là, không lưỡng thiệt mà nói lời hòa giải.
Tám là, không tham lam.
Chín là, không sân hận, trái lại phải từ bi, luôn điềm tĩnh, không nổi
nóng, giận hờn, biết thương xót muôn loài.

18


Mười là, không si mê, luôn giữ trí tuệ sáng suốt, biết phân biệt lành, dữ,
biết làm điều thiện, tránh điều ác.
Theo đạo Phật, con người muốn sống hạnh phúc, thanh thản thì phải
thực hiện được những điều thiện trên, tức là thực hành những chuẩn mực đạo
đức do Đức Phật răn dạy. Những người nào thực hiện được thì sẽ có thể cảm
hóa được mọi người xung quanh, luôn được mọi người yêu quý và bản thân
họ cũng sẽ tiêu diệt được sự ganh đua, hóa giải được những đố kị để tạo ra sự
bình yên trong tâm. Những người theo đạo Phật cần phải phân biệt thiện – ác
sao cho đúng đắn, sáng suốt, những việc có hại cho người thì nhất quyết
không làm, còn những việc có lợi cho người thì quyết làm bằng được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status