LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN NGÀNH KINH tế THỦY sản và VAI TRÒ của nó đối với xây DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG ở TỈNH KHÁNH hòa HIỆN NAY - Pdf 39

4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài 3260 km và các
vùng biển, thềm lục địa rộng gấp hơn ba lần diện tích đất liền. Biển nước ta
chứa đựng nhiều tài nguyên phong phú, với hơn 2000 sinh vật biển sinh sống,
cho trữ lượng khai thác hàng năm gần 1,7 triệu tấn hải sản [28, tr.37]; cộng
với các điều kiện thuỷ văn và hệ thống sông ngòi, ao hồ, kênh rạch, đầm phá
rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, tạo nên
những thế mạnh tiềm tàng cho phép thuỷ sản trở thành một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn. Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tiềm năng và thế mạnh
của KTTS nước nhà, những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển KTTS cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Chỉ thị 20-CT/TƯ (ngày 22/9/1997) của Bộ Chính trị đã chủ trương đưa
“thuỷ sản dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế biển
của nước ta”.
Với Khánh Hoà, là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí chiến
lược tổng hợp cả về kinh tế và QP - AN, có điều kiện tự nhiên hết sức thuận
lợi cho phát triển KTTS. Những năm qua, ngành kinh tế này ở Khánh Hoà tuy
đã có sự phát triển đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn chưa thật sự ngang tầm,
các nguồn lực KTTS chưa được khai thác một cách khoa học và có hiệu quả.
Đóng góp của KTTS đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố
QP - AN trên địa bàn tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng của nó và chưa thật
sự gắn bó một cách chặt chẽ giữa phát triển KTTS với củng cố an ninh quốc
phòng trên biển. Những hạn chế đó có nhiều nguyên nhân trong đó có cả sự
bất cập về lý luận và các giải pháp phù hợp với sự vận động mới của tình hình
kinh tế - xã hội, QP - AN. Những năm gần đây tuy có nhiều đề tài nghiên cứu,
song việc khảo sát cụ thể, cũng như hướng nghiên cứu cụ thể về kết hợp giữa


5

KTTS ở Khánh Hoà bao gồm cả kinh tế Trung ương và kinh tế địa
phương. Tuy ở góc độ nào đó, luận văn khảo sát, phân tích cả những đơn vị
KTTS có liên quan thuộc sở hữu Nhà nước đứng chân trên địa bàn tỉnh, song
phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung làm rõ ngành kinh tế này
của tỉnh.
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận chung về ngành
KTTS, những yếu tố chi phối và thực trạng phát triển KTTS ở tỉnh Khánh
Hoà, tác giả đi vào luận giải vai trò của ngành kinh tế này đối với xây dựng
TTQP ở địa bàn tỉnh. Đồng thời, luận văn cũng nêu và phân tích các phương
hướng và giải pháp chủ yếu nhằm vừa đẩy mạnh phát triển ngành KTTS, vừa
phát huy vai trò của nó trong xây dựng TTQP trên địa bàn tỉnh.
* Nhiệm vụ:
Thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Luận giải một số vấn đề lý luận chung về ngành KTTS và các yếu tố
cơ bản chi phối đến quá trình phát triển ngành kinh tế này ở Khánh Hoà hiện
nay.
- Luận giải về vai trò của ngành KTTS đối với xây dựng TTQP ở địa
bàn tỉnh Khánh Hoà.
- Đánh giá thực trạng và chỉ rõ phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm
đẩy mạnh phát triển KTTS và phát huy vai trò của nó trong xây dựng TTQP ở
Khánh Hoà hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng; các quan
điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà về phát


7

1.1. Ngành kinh tế thuỷ sản và những yếu tố cơ bản chi phối quá
trình phát triển ngành kinh tế này ở Khánh Hoà hiện nay
1.1.1. Quan niệm về ngành kinh tế thuỷ sản
Thuỷ sản là một trong những lĩnh vực kinh tế gắn bó sớm nhất đối với con
người và xã hội loài người. Ngay từ thời cổ đại, cùng với việc săn bắt hái lượm
con người đã biết khai thác các nguồn lợi thuỷ sinh để nuôi sống bản thân mình
và trên cơ sở đó góp phần sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Đến xã hội hiện
đại, thuỷ sản càng là lĩnh vực giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã
hội. Đặc biệt là khi sự thiếu hụt các nguồn đạm động vật trên cạn ngày càng
tăng, việc khai thác các loại thuỷ sinh nhằm bổ sung cho sự thiếu hụt ấy càng
được chú trọng thì vị trí, vai trò của ngành KTTS càng trở nên đặc biệt quan
trọng. Trong "Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Đại Nghĩa (Hà Đông)",
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Cần đẩy mạnh thả cá để cung cấp thêm thực
phẩm bổ sung cho thịt, cải thiện đời sống nhân dân" [26, tr.407]. Do có tầm
quan trọng như vậy, việc nhận thức và tìm ra các giải pháp khoa học nhằm đẩy
mạnh sự phát triển ngành kinh tế này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Từ lâu, các nhà hoạt động thực tiễn và khoa học đã rất quan tâm nghiên


9
cứu và có nhiều cách tiếp cận khác nhau về thuỷ sản với tính cách là một lĩnh
vực hay một ngành kinh tế. Nếu xem xét dưới góc độ phân chia nền kinh tế
thành các ngành hay các lĩnh vực lớn gắn liền với đại phân công lao động
xã hội, người ta quan niệm KTTS là một bộ phận của ngành nông nghiệp hay
lĩnh vực nông nghiệp theo nghĩa rộng. Theo đó, nông nghiệp bao hàm cả
trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản. Với cách quan niệm đó, ý thức
và các chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này
thường gặp phải những bất cập. Trong đó, thiếu tập trung về vốn và các
nguồn lực khác là một thí dụ thường thấy. Do vậy, thuỷ sản phải được quan
niệm đầy đủ như một ngành kinh tế có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong

tạo động lực thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng có mối quan hệ rất chặt chẽ với các
khâu khác của quá trình tái sản xuất trong KTTS.
- Bản thân KTTS vốn có quan hệ hết sức chặt chẽ với các ngành kinh tế
khác mà trước hết là ngành dịch vụ hậu cần nghề cá. Trong "Bài nói chuyện
với nhân dân đảo Cô Tô (Hải Ninh)", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "cần đẩy
mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm,
trân châu....Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến
lưới thuyền. Muốn có lưới tốt thì phải có tơ, muốn có tơ thì phải chú ý trồng
dâu nuôi tằm" [25, tr.354]. Qua đó, Bác đã chỉ rõ sự tác động, ảnh hưởng của
các ngành, các lĩnh vực khác đối với sự phát triển của ngành KTTS. Ngành
kinh tế này chỉ có thể phát triển trong mối quan hệ đó. KTTS cũng gắn bó rất
chặt chẽ với sự tiến bộ của KHCN. Mỗi bước tiến của khoa học sinh học và
hoá học lại mở đường cho KTTS vươn mạnh vào cải tạo giới tự nhiên để
không những khai thác mà còn bảo tồn và phát triển các nguồn lợi thuỷ sinh
phục vụ nhu cầu thực phẩm của con người. Song với cách định nghĩa như trên
thì chưa lột tả được mối quan hệ giữa KTTS với các ngành và các lĩnh vực
khác trong quá trình phát triển.


11
- Và một điểm có thể coi là bất cập nữa trong cách định nghĩa này là
chưa phản ánh được tính chất xã hội của KTTS trong điều kiện nền kinh tế
nhiều thành phần. Cụ thể hơn là chưa phản ánh được các chủ thể sở hữu, chủ
thể kinh doanh của KTTS và vai trò của nó trong điều kiện hiện nay ở nước
ta.
Định nghĩa thứ hai, KTTS được quan niệm "là một bộ môn khoa học
nghiên cứu, dự đoán và truyền tin tổng hợp những hiện tượng kinh tế phát
sinh trong ngành KTTS" [51, tr.949]. Với cách nhìn này thì KTTS lại là một
khoa học kinh tế. Bộ môn khoa học này tiến hành các hoạt động nghiên cứu
nhằm phục vụ cho quá trình vận động và phát triển của KTTS. Mặc dù có liên

Định, Bác đã chỉ rõ: “Việc nuôi cá cũng phải chú ý phát triển”; đồng thời,
Bác đã biểu dương, khen ngợi các đơn vị có kinh nghiệm tốt trong nuôi thả
cá: “Các hợp tác xã Thượng Lỗi, Đại Đồng có kinh nghiệm tốt trong nuôi cá
ở ruộng, hồ, ao. Nên phổ biến cho các nơi khác cùng làm” [27, tr.89]. Đó vừa
là sự biểu dương hợp tác xã Thượng Lỗi, vừa là lời nhắc nhở các địa phương
trong tỉnh cần phải nhanh chóng học tập kinh nghiệm để đẩy mạnh nghề nuôi
thả cá. Thực tế cho thấy, hiện nay ở tất cả các quốc gia trên thế giới đều chú
trọng sử dụng các thành tựu của công nghệ sinh học vào việc bảo tồn, lai tạo
và nhân giống các loại thuỷ sinh vật. Theo đó, đã làm thay đổi về bản chất
trong cách thức phát triển của ngành kinh tế này, làm cho vị trí vai trò của nó
đối với đời sống con người và đối với nền kinh tế ngày càng tăng lên.
- Để khai thác có hiệu quả các nguồn lợi thuỷ sinh, tiềm năng các vùng
nước, biến chúng thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con
người, trong quá trình sản xuất kinh doanh ở ngành KTTS không chỉ diễn ra
sự tác động của con người vào tự nhiên, mà còn diễn ra sự tác động qua lại
giữa con người với con người. Đó là mặt xã hội của quá trình sản xuất kinh
doanh ở ngành KTTS. Mặt xã hội đó thể hiện rõ mối quan hệ giữa người với


13
người trong quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối. Trong mỗi chế độ
kinh tế xã hội, các mối quan hệ ấy có sự khác nhau về chất. Trong điều kiện
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước
ta chủ trương huy động mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Trong ngành KTTS cũng diễn ra đúng với chủ
trương đó. Theo đó, tính chất đa loại hình sở hữu và đa dạng hoá các quan hệ
phân phối cũng được diễn ra trong lĩnh vực KTTS. Trong đó, kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, chiếm giữ những lĩnh vực chủ chốt trong ngành
kinh tế này; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể đã và sẽ từng bước giữ
vai trò nền tảng đích thực trong phát triển KTTS; kinh tế tư nhân, tư bản cũng

kiện hiện nay.
1.1.2. Những yếu tố cơ bản chi phối đến quá trình phát triển ngành
kinh tế thuỷ sản ở Khánh Hoà hiện nay
* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thuỷ sinh
Khánh Hoà là tỉnh ven biển có nhiều tiềm năng lợi thế trong phát triển
KTTS. Toàn tỉnh có 5 trong tổng số 8 huyện, thị xã, thành phố nằm ở ven
biển, đảo. Đó là: huyện Vạn Ninh, huyện Ninh Hoà, huyện đảo Trường Sa,
thị xã Cam Ranh và thành phố Nha Trang. Các đơn vị này có tổng số 40 xã,
phường ven biển với 791.328 người, chiếm 82,89% dân số toàn tỉnh [5, tr.1].
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.197 km2, bao gồm cả đất liền, đảo và quần
đảo. Vùng biển Khánh Hoà có diện tích rộng gấp nhiều lần đất liền, bao gồm
vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh
tế. Đây không chỉ là nơi khá thuận lợi cho các loại thuỷ hải sản sinh sống và
phát triển mà còn có một hệ sinh thái các khu rừng ngập mặn vốn được xác
định là khu sinh thái tiêu biểu của quốc gia. Bờ biển Khánh Hoà kéo dài từ
mũi Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài 520 km với nhiều vị trí
thuận lợi cho việc xây dựng các cảng [36, tr.7]. Dọc ven biển có rất nhiều bãi


15
và cồn cát. Những bãi cát này có độ phì kém, nghèo mùn, ít có giá trị đối với
sản xuất nông nghiệp. Nhưng, nếu được cải tạo thì những bãi cát này có thể
phục vụ tốt cho NTTS và phát triển du lịch. Với 2000 ha thuộc vùng đất mặn
và phèn mặn ở ven biển Ninh Hoà, 2400 ha ven biển Cam Ranh và 700 ha ở
ven biển Vạn Ninh có thể cải tạo nhanh chóng phục vụ NTTS.
Trên địa bàn tỉnh có nhiều đầm, vũng, vịnh như đầm Nha Phu, vũng
Thuỷ Triều, vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh... và nhiều bán đảo lớn
nhỏ. Các đầm, vịnh của Khánh Hoà có điều kiện tự nhiên, khí hậu và điều
kiện lý, hoá của nước biển thích hợp để phát triển mạnh nuôi trồng hải sản.
Phần lãnh hải có hệ thống đảo ven bờ. Huyện đảo Trường Sa cách bán đảo

khô mực nước ngầm rất thấp. Theo tài liệu điều tra của Liên đoàn địa chất
thuỷ văn III, nguồn nước ngầm Khánh Hoà không lớn, có thể khai thác phục
vụ sinh hoạt và cung cấp cho một số cơ sở công nghiệp nói chung, chế biến
thuỷ hải sản nói riêng. Nước ngầm ở Khánh Hoà phân bố không đều và chất
lượng nước ngầm là vấn đề đáng quan tâm đối với người sử dụng. Vùng ven
biển phần lớn bị nhiễm phèn, nhiễm mặn; trong nội địa, một số địa phương
như Ninh Hoà, Vạn Ninh nước bị nhiễm flour và nhiễm bẩn do các hoạt động
sản xuất, sinh hoạt gây nên.
Yếu tố thời tiết khí hậu và khí tượng thuỷ văn cũng chi phối rất lớn đến
phát triển KTTS trên địa bàn tỉnh. Nằm trong khu vực Duyên hải miền Trung,
Khánh Hoà chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng khô ráo, ôn hoà,
quanh năm nắng ấm với nhiệt độ bình quân trong năm khoảng 25-26 0C.
Khánh Hoà là tỉnh có nhiều nắng, tổng số giờ nắng trong năm lên tới 24002500 giờ. Ở khía cạnh nào đó, đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ, hải sản. Tuy nhiên cũng cần phải thấy
sự khắc nghiệt của thời tiết đã gây ảnh hưởng không tốt cho phát triển NTTS
trên địa bàn tỉnh. Hàng năm, lượng mưa ít lại phân bố không đều theo các


17
tháng. Vào 4 tháng mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) lượng mưa chiếm tới
75%, thường gây ra ngập úng ở nhiều vùng. Trong khi đó 8 tháng mùa khô
(từ tháng 1 đến tháng 8) lượng mưa chỉ còn lại 25%, thường gây ra khô hạn
và cạn kiệt nguồn nước ở các ao hồ, sông suối. Các nghịch lý ấy đã tạo ra cho
ngành NTTS biết bao khó khăn, nhiều khi gây thiệt hại khá nghiêm trọng, cả
khi ngập úng cũng như khi khô hạn.
Bình quân mỗi năm Khánh Hoà có khoảng 0,6 cơn bão với tốc độ gió
từ cấp 10 trở xuống, đôi khi mạnh tới cấp 11, cấp 12 và trên cấp 12. Bão và áp
thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn là nguyên nhân của những trận lũ lớn. Bão
gây ra sóng lớn làm chìm tàu thuyền và gây thiệt hại không nhỏ đối với ngư
dân NTTS trên biển.

phát triển nuôi trồng các loại cá đặc sản, có giá trị xuất khẩu cao. Trong đó cá
mú, cá song, cá ngựa và một số loại cá cảnh có rất nhiều ưu thế. Nếu được
đầu tư phát triển đúng mức, chắc chắn sẽ mang lại nguồn lợi kinh tế khá lớn
cho bà con cũng như nguồn thu ngân sách của tỉnh.
Các đầm, vịnh ở Khánh Hoà được bao bọc bởi hệ thống đảo gần bờ,
khá kín gió và có độ mặn ổn định nên có thể phát triển mạnh nghề nuôi tôm,
cá trong lồng, bè. Trong đó, nuôi tôm hùm, cá mú trong lồng, bè tỏ ra thích
hợp và mang lại giá trị kinh tế cao nhất. Tôm he, tôm bạc, vẹm xanh, ốc
hương...cũng có thể phát triển nuôi trồng trên diện rộng và giá trị kinh tế của
nó cũng không kém. Nếu được đầu tư và có kế hoạch phát triển phù hợp, đây
sẽ là những thế mạnh của ngành KTTS Khánh Hoà.
Theo số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu biển cho thấy, ở Khánh
Hoà có tới 7 trong tổng số 20 loài mực có giá trị kinh tế cao ở nước ta. Đánh
bắt mực là một nghề truyền thống của ngư dân Khánh Hoà, nếu đầu tư đúng
mức, hàng năm có thể khai thác khoảng 250 tấn.
Rong biển cũng là một nguồn lợi thuỷ sinh tự nhiên khá quan trọng ở


19
vùng biển Khánh Hoà. Tại đây có khá nhiều loại rong, trong đó rong mơ là
loại có khá nhiều ưu thế cả về trữ lượng và giá trị kinh tế. Tuy nhiên cho đến
nay, việc khai thác loại rong này vẫn còn diễn ra mang tính chất tư nhân, tự
phát là chủ yếu. Bởi vậy, tỉnh rất cần phải có quy hoạch, kế hoạch khai thác,
bảo vệ, tiến tới phát triển thành nghề nuôi rong hàng hoá, góp phần giải quyết
việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân vùng biển.
Ngoài ra, ở Khánh Hoà còn có các loại hải sản quý hiếm khác. Trong
đó hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò, vẹm xanh, ốc hương,... là những loại có giá
trị kinh tế khá cao. Tuy nhiên, cho đến nay phần lớn chúng chưa được khai
thác một cách có kế hoạch, chủ yếu vẫn là khai thác tự do. Tình hình đó
không những không tận dụng được ưu thế đặc thù của vùng biển mà còn có

Khánh Hoà có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu với các tỉnh trong
nước và quốc tế, hình thành các trung tâm trung chuyển hàng hoá và dịch vụ
cho các tỉnh lân cận. Và theo đó, ngành KTTS của tỉnh cũng có điều kiện để
phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá với trình độ ngày càng cao.
Điện là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh tốc độ phát triển sản xuất,
thực hiện CNH, HĐH các ngành kinh tế, trong đó có KTTS. Trong những
năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự chủ động tích cực của
địa phương, hệ thống điện đã vươn tới khắp các xã trong toàn tỉnh. Có điện,
bà con ngư dân có điều kiện để đẩy mạnh nuôi trồng và CBTS. Các trại tôm
giống và trang trại tôm thịt được nuôi trồng bằng phương pháp công nghiệp
theo đó cũng phát triển mạnh mẽ. Các cơ sở sản xuất thức ăn phục vụ NTTS,
cơ sở sản xuất ngư cụ và các cơ sở chế biến từng bước được phát triển, đáp
ứng nhu cầu nuôi trồng, đánh bắt và CBTS của các địa phương trong tỉnh.
Nói đến hệ thống hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
còn phải kể đến các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sửa chữa và đóng mới tàu
thuyền. Ngoài nhà máy tàu biển Hyundai -Vinashin tại Ninh Hoà có thể đóng


21
mới và sửa chữa các tàu có trọng tải 400.000 tấn, với công nghệ tiên tiến, ở
Khánh Hoà còn có 24 xưởng đóng và sửa chữa tàu thuyền. Trong đó có 22
xưởng có thể đóng mới các tàu vỏ gỗ trang bị động cơ 350 mã lực và 2 xưởng
có thể đóng tàu vỏ composite trang bị động cơ 250 mã lực. Điều đó cho thấy,
năng lực sửa chữa và đóng mới tàu thuyền phục vụ cho việc đánh bắt thuỷ sản
và vận tải biển của Khánh Hoà là khá lớn.
Đó là những yếu tố thuộc về kết cấu hạ tầng, đáp ứng các dịch vụ và hậu
cần nghề cá, có tác động rất lớn đối với quá trình phát triển ngành KTTS ở
Khánh Hoà hiện nay.
*Những trung tâm khoa học kỹ thuật và đào tạo trên địa bàn tỉnh có
liên quan đến lĩnh vực KTTS

tới gần 5 nghìn sinh viên là con em nhân dân Khánh Hoà, chiếm tỉ trọng 33%.
Ngoài nhiệm vụ đào tạo, trường đã thành lập và phát triển các trung tâm
nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Năm 1990, Trung tâm nghiên cứu tàu cá và thiết bị của Trường đã chế tạo
thành công tàu đánh cá từ vật liệu composite, từ đó mở ra hướng mới trong
công nghệ đóng tàu. Đến nay Trung tâm nghiên cứu NTTS cũng đã triển khai
nghiên cứu và ứng dụng thành công nhiều đề tài về cá nước ngọt, sản xuất
tôm giống, phòng và trị bệnh cho tôm cá. Trong những năm gần đây, Trung
tâm nghiên cứu CBTS thuộc trường Đại học Thuỷ sản đã nghiên cứu thành
công nhiều mặt hàng thuỷ sản. Điển hình là nước mắm viên, agar, các loại đồ
hộp, surimi, hải sâm khô.
Trong 32 năm, trường đã thực hiện 400 công trình khoa học, trong đó có
16 đề tài cấp nhà nước và gần 100 đề tài cấp bộ, tạo điều kiện cho ngành
KTTS cả nước nói chung, Khánh Hoà nói riêng phát triển nhanh chóng [48,
tr.359].
Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản III của Bộ Thuỷ sản được thành lập năm


23
1984, với chức năng nhiệm vụ là nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng
công nghệ sản xuất giống và nuôi trồng các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế
cao; nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật khai thác, chế biến và bảo vệ nguồn lợi
thuỷ sản ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Đây là một trong những đơn
vị đi đầu trong nghiên cứu sản xuất nhiều giống hải sản có giá trị kinh tế cao.
Những năm qua, Trung tâm đã sản xuất thành công nhiều loại giống hải sản
quý hiếm như: ốc hương, cua biển, ghẹ xanh, vẹm xanh, bào ngư. Hiện tại
Trung tâm đang tiến hành nghiên cứu sản xuất các loại giống hải sâm, mực
nang, cầu gai (nhum sọ)... Nhiều đề tài khoa học của Trung tâm đã được các
địa phương trong vùng ứng dụng vào sản xuất có hiệu quả. Năm qua, Trung
tâm đã cung cấp 10 triệu con ốc hương cho ngư dân các tỉnh Khánh Hoà,

các hoạt động liên kết đào tạo với Trường Đại học Thuỷ sản, Trường Công
nhân kỹ thuật... Với lực lượng giảng viên đông đảo, giàu kinh nghiệm cùng
với hệ thống trang thiết bị kỹ thuật khá hiện đại, Học viện có thể trực tiếp tiến
hành đào tạo nguồn nhân lực cho ngành KTTS trong các lĩnh vực như khai
thác hàng hải, máy tàu, cán bộ chỉ huy điều khiển tàu, thông tin liên lạc... Tuy
nhiên, trong thời gian qua, các hoạt động này vẫn chưa được phát huy mạnh
mẽ, chỉ mới dừng lại ở các hoạt động liên kết đào tạo với một số trường.
*Kinh nghiệm của nhân dân và các làng nghề thuỷ sản truyền thống ở
Khánh Hoà
Ở Khánh Hoà, nhân dân biết nuôi cá nước lợ khá sớm. Cách đây trên 100
năm, nông, ngư dân đã biết đắp bờ bao trên các bãi triều có sú vẹt, tạo thành
đìa nuôi tôm cá một cách tự nhiên [48, tr.235].
Khánh Hoà cũng được coi là một trong những cái nôi của nhiều ngành
nghề truyền thống trong lĩnh vực thuỷ sản. Trên địa bàn tỉnh hiện đang tồn tại
hàng chục làng nghề sản xuất kinh doanh thuỷ sản, bao gồm cả đánh bắt, nuôi
trồng và CBTS. Nghề đánh bắt thuỷ sản, đặc biệt là đăng, khai thác yến sào,


25
câu cá ngừ, câu mực, bắt tôm hùm, khai thác các nhuyễn thể hai mảnh vỏ... đã
có từ rất lâu đời. Nghề đăng xuất hiện sớm nhất cùng với các làng vạn chài ở
Đại Lãnh, Vạn Giã, Vạn Lương. Nghề này chủ yếu đánh bắt các đàn cá di cư
như cá thu, cá ngừ.... Nổi tiếng hơn cả có sở đăng Vĩnh Y Hồ Na ở Vạn Ninh
và Hòn Nọc ở Nha Trang. Hoạt động sản xuất nghề đăng đòi hỏi phải có sự
hợp tác về nhiều mặt như: lao động, vốn, cung ứng vật tư và tiêu thụ sản
phẩm, do vậy phương thức tổ chức khai thác phải thành các tổ, đội. Các gia
đình ngư dân trong các làng nghề truyền thống luôn bám biển để sống, họ rất
tinh thông về luồng lạch và đánh bắt theo lối thủ công. Tuy nhiên, cho đến
nay ở các làng nghề KTHS của Khánh Hoà chủ yếu vẫn dựa vào các loại tàu
thuyền nhỏ, có công suất dưới 30 mã lực. Do đó họ chỉ có thể khai thác gần

rất phong phú, đa dạng, bao gồm: du lịch sinh thái biển-đảo, du lịch nghỉ
dưỡng chữa bệnh, du lịch chơi golf, du lịch săn bắn, du lịch câu cá, du lịch
cùng du thuyền, du lịch sưu tầm - nghiên cứu, du lịch kết hợp với hội nghị hội thảo, du lịch tham quan vãn cảnh...trong đó du lịch sinh thái biển - đảo núi - rừng là thế mạnh nhất. Thành phố Nha Trang được xác định là một trong
mười trung tâm du lịch lớn trong cả nước. Năm 2003, Vịnh Nha Trang được
công nhận là 1 trong số 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Với lợi thế của một thành
phố biển, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và có lịch sử văn hoá lâu
đời, Nha Trang - Khánh Hoà là một địa danh du lịch không chỉ hấp dẫn du
khách trong nước, mà còn hấp dẫn mạnh mẽ khách du lịch nước ngoài. Hàng
năm Khánh Hoà tiếp đón hàng vạn lượt khách trong nước và quốc tế đến
tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng. Đó cũng là cơ hội hết sức thuận lợi để quảng
bá, giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản của Khánh Hoà. Nếu tỉnh có
chiến lược kết hợp giữa hướng dẫn tham quan du lịch với quảng bá sản phẩm
thuỷ sản, thì tiềm năng về thị trường của ngành KTTS sẽ không ngừng được
mở rộng. Đây là điều kiện quan trọng hàng đầu để đẩy mạnh phát triển ngành


27
KTTS Khánh Hoà theo hướng sản xuất hàng hoá lớn. Trong bài phát biểu khi
về dự Lễ hội hoa đăng nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày Truyền thống của
ngành Thuỷ sản Việt Nam tại Khánh Hoà, đồng chí Tạ Quang Ngọc - Bộ
trưởng Bộ Thuỷ sản đã khẳng định: “So với các tỉnh khác trong khu vực Nam
Trung Bộ, Khánh Hoà là một tỉnh rất thuận lợi, giàu tiềm năng trong việc phát
triển KTTS, nhất là trong lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng. Nếu Khánh Hoà kết
hợp tốt phát triển KTTS với “ngành công nghiệp không khói”, trong tương lai
không xa, đây sẽ là động lực rất lớn, tác động đến tăng trưởng kinh tế- xã hội
của địa phương”[45, tr.2].
Như vậy, bên cạnh một số yếu tố không thuận lợi, Khánh Hoà có khá
nhiều yếu tố tạo cơ hội cho đẩy mạnh phát triển KTTS. Phân tích, làm rõ
những yếu tố này cho ta một cách nhìn mới, phù hợp hơn trong xác định chiến
lược và kế hoạch phát triển ngành KTTS ở Khánh Hoà hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status