BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-------o0o-------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC
CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
TRƯƠNG TUẤN LINH
Hà Nội - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-------o0o-------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC
CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 83.10.106
đó được kết tụ lại cùng với thời gian viết Luận văn vừa qua đã làm nền tảng cho tác giả
trong quá trình nghiên cứu, phát triển Luận văn và cũng là hành trang quý báu để tác
giả có thể áp dụng cho công việc cũng như cho cuộc sống sau này.
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thành Luận văn một cách tốt nhất có thể, nhưng
do kiến thức và kinh nghiệm của tác giả còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi thiếu
sót. Vì thế, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành nhất của
quý Thầy, quý Cô để kiến thức của tác giả được hoàn thiện hơn nữa.
Sau cùng, tác giả xin kính chúc quý Thầy, quý Cô và gia đình có sức khỏe
dồi dào và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp trồng người cao quý, tiếp tục
thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ học viên kế
tiếp, thế hệ làm chủ trong tương lai sống trong nền kinh tế tri thức.
Tác giả xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2019
Học viên
Trương Tuấn Linh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KINH TẾ TRI THỨC LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI......................................................................................................................................... 4
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới......................................................................................... 4
gian qua.......................................................................................................................................... 36
3.1.4. Vai trò của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong phát triển nền kinh tế
tri thức của Việt Nam............................................................................................................... 42
3.2. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức qua chỉ số của Worldbank............................. 44
3.2.1. Môi trường kinh doanh và thể chế.......................................................................... 44
3.2.2. Nguồn nhân lực, giáo dục, đào tạo và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật 48
3.2.3. Công nghệ thông tin và truyền thông.................................................................... 52
3.2.4. Chỉ số đổi mới và sáng tạo......................................................................................... 54
3.3. Đánh giá thực trạng phát triển nền kinh tế tri thức của Việt Nam trong bối cảnh
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.................................................................................................. 57
3.3.1. Những thành tựu của nền kinh tế tri thức Việt Nam trong bối cảnh cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0.................................................................................................... 57
3.3.2. Những thuận lợi phát triển nền kinh tế tri thức Việt Nam trong bối cảnh
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0......................................................................................... 61
3.3.3. Những khó khăn phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0......................................................................................... 63
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI
THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG
NGHIỆP 4.0......................................................................................................................................... 67
4.1. Những phương hướng cơ bản để phát triển nền kinh tế tri thức của Việt Nam
trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.................................................................... 67
4.1.1. Luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa..................................................... 67
4.1.2. Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ của quốc gia...........68
4.1.3. Phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin để tiến vào nền kinh tế
tri thức…………………………………………………………………………...70
v
nền kinh tế tri thức trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ...............
99
KẾT LUẬN................................................................................................................. 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 103
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AI
: Trí tuệ nhân tạo.
APEC
: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
CIEM
: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.
CMCN
: Cách mạng công nghiệp.
EU
: Chỉ số tri thức.
KEI
: Chỉ số kinh tế tri thức.
KTTT
: Kinh tế tri thức.
MIC
: Made in China 2025.
OECD
: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.
PGS
: Phó giáo sư.
R&D
: Nghiên cứu và phát triển.
TFP
: Năng suất các yếu tố tổng hợp.
Bảng 3.6: So sánh hệ thống đổi mới của Việt Nam với các nền kinh tế 2013..........55
Hình 2.1: Minh họa một hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia..................................32
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2018 (%).........38
Hình 3.2: Dưới đây sẽ giải thích rõ hơn về tốc độ tăng trưởng GDP.......................39
Hình 3.3: Trình độ học vấn đại học và trên đại học từ năm 2012 - 2017................. 49
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, cả nhân loại đang dần từng bước đi vào sử dụng tri
thức cho sự phát triển và đang hình thành một nền kinh tế dựa vào tri thức. Sự hình
thành và phát triển nền KTTT là một xu thế tất yếu khách quan của xã hội loài
người. Đó là điều Các-Mác đã tiên đoán cách đây 160 năm về “khả năng đưa khoa
học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”. KTTT được xác định chính là cánh cửa
mở ra cho các nền kinh tế đang phát triển tiến vào và rút ngắn khoảng cách với các
nước đã phát triển nếu chúng ta biết nắm bắt và tận dụng cơ hội. Ngược lại, là sự tụt
hậu và nguy cơ gia tăng khoảng cách về sự phát triển so với các nước đã phát triển.
Nắm bắt được bối cảnh đang diễn ra khách quan trên thế giới, tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) đã khẳng định: “Phát huy những lợi thế của
đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là
công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn, ở mức cao hơn và ngày càng phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học
công nghệ, từng bước phát triển KTTT”. Tư tưởng đó lại được nhấn mạnh hơn tại
Đại hội X (năm 2006), Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh và làm
sâu sắc hơn nữa, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển KTTT” là một
trong những phương hướng cơ bản trong chiến lược phát triển đất nước trong giai
đoạn 2011 - 2020 của Việt Nam.
kiến tạo và phát triển nền KTTT của Việt Nam.
- Phạm vi khoa học: Luận văn sẽ nói rõ hơn về mặt lý luận và thực tiễn để
phát triển nền KTTT của Việt Nam, kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế
giới, trách nhiệm của Nhà nước như một bà đỡ trong phát triển nền KTTT và thực
trạng nền KTTT của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2018. Đề xuất định hướng và
giải pháp tăng cường vai trò kiến tạo của Nhà nước nhằm mục đích hình thành và
phát triển nền KTTT của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn chiến lược 2030 2050.
- Phạm vi về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ
năm 2001 đến 2018, dự báo phát triển KTTT của Việt Nam đến năm 2020 và tầm
nhìn 2030 - 2050.
4. Phương pháp nghiên cứu luận văn
- Phương pháp thu thập tài liệu và thống kê: Bằng phương pháp này tác giả
nhận biết được nền KTTT đã nghiên cứu ở khía cạnh nào? Phạm vi nào? Lấy đó
3
làm căn cứ giải thích cho vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển nền KTTT
trong cuộc CMCN 4.0. Các kết quả thu thập tài liệu và thống kê để xây dựng giả
thiết và chứng minh giả thuyết trên là đúng để phát triển nền KTTT.
- Phương pháp so sánh: Để so sánh trình độ phát triển nền KTTT so với các
nền kinh tế trước đây và nền KTTT của Việt Nam với các nước khác trên thế giới.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Là để luận giải và làm rõ hơn trong khả
năng những vấn đề đang tranh cãi. Phương pháp này là hai quá trình không thể tách
rời nhau mà luôn bổ trợ cho nhau. Ở phạm vi của luận văn, tác giả tập trung phân
tích tính tất yếu, hiện trạng, đề xuất và luận chứng các giải pháp giúp cho Nhà nước
phát triển KTTT trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, trên cơ sở dự báo khoa học.
- Phương pháp logic và lịch sử: Nêu lên tiến trình phát triển của KTTT và
CMCN 4.0, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước qua các thời
kỳ phát triển nền KTTT, việc đánh giá từng mặt của mối quan hệ này song song với
bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể dưới góc độ logic phát triển.
Cách đây 160 năm, người đầu tiên là nhà triết học, nhà kinh tế học người Đức,
gốc Do thái Karl Marx (05/05/1818 - 14/03/1883) đã đưa ra nhận định về xu thế nhất
thể hóa giữa khoa học và sản xuất bằng luận điểm nổi tiếng “Khoa học trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp”. (C.Mác và Ph.Ăngghen.2000, tập 46, tr.372-373).
Cho đến nay, luận điểm này đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu
thế tất yếu trong sự phát triển của nền sản xuất hiện đại trên thế giới. Khoa học và
công nghệ hiện đại đang ngày càng có vai trò vô cùng quan trọng trong nền sản xuất
kinh tế của xã hội và trong đời sống của con người, đồng thời là một đặc điểm nổi
bật của thời đại và là yếu tố đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. Mặc dù vậy,
nhưng xã hội hiện đại ngày nay vẫn hoài nghi luận điểm của ông. Vì vậy, cho đến
ngày hôm nay, tác giả vẫn ghi nhận những đóng góp của ông là những trang tài liệu
quý giá để cho tác giả bước lên một nấc thang mới hoàn thiện luận văn này.
Đến năm 1954, Peter Drucker (19/11/1909 - 11/11/2005) là nhà kinh tế học
người Áo, sau đó nhập cư vào Mỹ năm 1940. Trong tác phẩm “The practice of
management” (thực hành quản lý) xuất bản năm 1954, ông là tác giả của cuốn sách
này và đã phân tích những thay đổi to lớn trong cơ cấu ngành kinh tế, xã hội, sức
sáng tạo, phát triển công nghệ của con người và viết một cách khái quát về xã hội tri
thức, nền KTTT như sau:
5
“Ngày mai sẽ đến gần hơn là chúng ta nghĩ. Trong thế giới các nước phát
triển, xã hội mới này sẽ quan trọng rất nhiều so với bất kỳ một nền kinh tế mới nào.
Xã hội đó rất khác với xã hội cuối thế kỷ XX và cũng khác với điều mà phần lớn
chúng ta nghĩ. Rất nhiều cảnh tượng của xã hội đó từ trước tới giờ chưa từng thấy,
nhưng hầu hết chúng đã có sẵn và sẽ trỗi dậy nhanh chóng. Xã hội sắp tới là xã hội
tri thức. Tri thức sẽ là nguồn lực chủ chốt nhất, và công nhân tri thức trở thành bộ
phận quan trọng nhất trong lực lượng lao động.
Ba đặc trưng cơ bản của xã hội đó sẽ là:
Honolulu-Hướng tới một nền kinh tế khu vực gắn kết” và 4 văn kiện kèm theo về
thúc đẩy chính sáng tạo hiệu quả, không phân biệt đối xử và theo hướng thị trường,
tăng cường tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào chuỗi sản xuất toàn cầu;
thương mại, đầu tư trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường, và đẩy mạnh
thực hiện các điển hình tốt về quản lý. Điểm chung mà Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đều nhấn mạnh trong các định hướng chiến lược
liên quan chặt chẽ với vai trò của chính phủ của các thành viên APEC là việc đổi
mới cơ chế chính sách, hướng vào trọng tâm khuyến khích mạnh mẽ các hoạt động
đổi mới và sáng tạo, mà chủ yếu là khu vực tư nhân.
Tháng 12 năm 2007 tại Lisbon, sau khi người Pháp và người Hà Lan “khai
tử” Hiến pháp, Liên minh châu Âu (EU) chuyển hướng ưu tiên sang lĩnh vực tri
thức, khoa học, công nghệ. Mục tiêu được nêu bật ngay từ những dòng đầu tiên của
Hiệp ước thay thế Hiến pháp châu Âu: “Từ nay đến năm 2010, xây dựng Liên minh
châu Âu thành một nền KTTT có sức cạnh tranh và năng động nhất thế giới”. Nói
một cách chính xác hơn, EU dành 3% GDP của mình để đầu tư cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển (R&D).
Lãnh đạo cấp cao của 27 nước tham gia Hội nghị thượng đỉnh mùa xuân
2010 tại Bruc-xen (Bỉ) đã thông qua về tổng thể bản dự thảo chiến lược kinh tế mới
của toàn bộ Liên minh châu Âu: Chiến lược “Châu Âu 2020” do Uỷ ban châu Âu
soạn thảo và trình bày. Kế hoạch này được soạn thảo nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của khu vực, bảo đảm việc làm, và xây dựng một nền kinh tế sạch, thân thiện
với môi trường. Chiến lược “Châu Âu 2020” xác định 3 động lực chính của tăng
trưởng kinh tế là: tăng trưởng hợp lý (thúc đẩy phát triển tri thức, sáng tạo, giáo dục
và xã hội số); tăng trưởng bền vững (sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao
khả năng cạnh tranh); tăng trưởng liên kết (tăng việc làm và chống đói nghèo).
7
Tóm lại, các nước trên thế giới đều đã xây dựng chiến lược và kế hoạch để phát
triển KTTT hoặc điều chỉnh chiến lược phát triển nền kinh tế theo hướng nền KTTT.
8
hóa, hiện đại hóa” LA 06.0036.1 của tác giả Nguyễn Công Sơn, Học viện chính trị
quân sự - Bộ quốc phòng. Luận án đã nghiên cứu phát triển KTTT và tác động của
KTTT đến việc xây dựng lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng chưa nghiên cứu sâu về phát triển nền KTTT và
một hạn chế là đề tài chưa nằm trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0.
Đề tài khoa học “Một số vấn đề cơ bản của KTTT - Cơ hội và thách thức đặt
ra cho Việt Nam” (Đề tài trọng điểm của trường ĐHQG Hà Nội năm 2006) do PGS.
TS Phi Mạnh Hồng chủ trì, là một tài liệu tham khảo giá trị, đề tài đã bàn luận một
cách tương đối toàn diện về những vấn đề cơ bản của nền KTTT. Đề tài chưa nghiên
cứu về sự phát triển, trong bối cảnh nào?
Năm 2010, Luận án tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để
hình thành nền KTTT ở Việt Nam” LA 10.0654.1 của tác giả Lê Thị Hồng Điệp,
Trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Luận án đã là một tài liệu
quý, tác giả nghiên cứu và mang đến cái nhìn rất sâu sắc về nguồn nhân lực chất
lượng cao cung cấp cho nền KTTT. Tác giả vẫn chưa nghiên cứu và gắn kết các lĩnh
vực khác trong xã hội để tạo nên sự phát triển của nền KTTT mà chỉ nói về nguồn
nhân lực và chưa gắn với bối cảnh nào.
“Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và
công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức” của tập thể tác giả GS.TSKH Vũ
Ngọc Hải, GS.TSKH Đặng Ứng Vận, PGS.TS Đào Thái Lai và các cộng sự, Nxb
chính trị Quốc gia. Năm 2010. Đây là công trình nghiên cứu về kinh nghiệm của các
quốc gia trên thế giới về phát triển giáo dục để xây dựng đội ngũ tri thức. Công
trình này chưa nghiên cứu về phát triển nền KTTT.
Năm 2012, “Tri thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức”, Luận án
Tiến sĩ Triết học, tác giả: Nguyễn Công Trí, Học viện chính trị - hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh. Năm 2012. Luận án đã nghiên cứu và khẳng định sứ mệnh quan
trọng của đội ngũ tri thức Việt Nam trong xây dựng và phát triển nền KTTT. Vì là
cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI nhằm tạo tiền đề vật chất, kỹ thuật hiện đại và động
lực cho sự phát triển của đất nước
Ngày 21/09/2000, trong bài phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong
thế kỷ XX”, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lê Khả Phiêu đã viết
“Chúng tôi phải tri thức hóa Đảng, tri thức hóa dân tộc, tiếp tục tri thức hóa công
nông, cả nước là một xã hội học tập....Nhân dân Việt Nam ngày nay có câu: “Đã
10
biết cầm đũa thì biết vót chông, đã biết vót chông thì 10 ngón tay ấy sẽ biết học tập,
sử dụng máy vi tính, đi vào công nghệ thông tin cánh cửa của nền KTTT”.
Năm 2004, Luật cạnh tranh ra đời và đến năm 2018 thì tiếp tục được sửa đổi. Năm
2005, Quốc hội Việt Nam khóa XI đã ban hành Luật doanh nghiệp và đến năm 2019
lại được sửa đổi. Luật Đầu tư ra đời và đến năm 2018 được sửa đổi
và bổ xung cho phù hợp hơn với tình hình thực tế.
Năm 2006, Quốc hội Việt Nam khóa XI đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ và có
hiệu lực từ ngày 01/10/2006 và đến năm 2018 tiếp tục được sửa đổi cho phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh thực tế của đất nước.
Sáng ngày 12/05/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu
tại phiên bế mạc Hội nghị lần 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Nghị
quyết Trung ương lần này đã kế thừa, bổ sung và phát triển Nghị quyết Trung ương
3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư từ đó đến nay với nhiều nội dung đổi mới quan trọng, có tính
đột phá, khả thi và sát với tình hình thực tế. Đặc biệt, Trung ương đã chỉ rõ: Đội ngũ
cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược mà chúng ta tập chung xây dựng trong thời
gian tới phải có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của
thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc CMCN lần thứ tư, nền kinh tế
số, KTTT và biến đổi khí hậu, nước biển dâng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự,
giả sáng tạo viết lên một thang mới là phát triển nền KTTT trong bối cảnh cuộc
CMCN 4.0 và hoàn thành nhiệm vụ đã đặt ra.
12
CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC TRONG CUỘC CÁCH
MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
2.1. Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức
Hình thái kinh tế đầu tiên là săn bắn và hái lượm đã tồn tại trong hàng nghìn
năm. Tiếp theo đó là kinh tế nông nghiệp kéo dài khoảng gần mười nghìn năm. Sau
đó là hình thái kinh tế công nghiệp xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào đầu nửa sau thế
kỷ XVIII đã xác lập cơ sở kỹ thuật cơ khí, hình thành lực lượng lao động và tổ chức
kinh doanh trong nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Ở thời điểm đó cách nay đã 160
năm Các-Mác đã tiên đoán về “Khả năng đưa khoa học trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp”. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai (cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX) đã nâng cao cơ sở kỹ thuật cơ khí lên trình độ bán tự động hóa và hình
thành tổ chức quản lý mới. Những năm 1950, 1960 của thế kỷ XX, quá trình phục
hồi kinh tế, tái thiết quốc gia của các nước Tây Âu và Nhật Bản đã đạt được kết quả
nhất định. Các nước này đều muốn vươn lên giành lấy vị trí vốn có của mình trong
thế giới tư bản như trước khi chiến tranh xảy ra. Sự lớn mạnh nhanh chóng của Nhật
Bản và Tây Âu đồng nghĩa với việc Mỹ mất dần địa vị thống trị trong thế giới tư
bản. Từ đây bắt đầu hình thành nên 3 trung tâm kinh tế của thế giới: Mỹ - Nhật Bản
- Tây Âu, ba trung tâm này cạnh tranh nhau rất mạnh mẽ và mỗi động thái của nó
đều ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế bắt đầu cơ cấu lại, trang
bị lại. Bên cạnh những nền kinh tế truyền thống gắn với nền đại công nghiệp, các
nền kinh tế mới đã phát triển với tốc độ rất nhanh (điện tử - bán dẫn, máy tính, viễn
thông) trong đó các dịch vụ liên quan đến thông tin (ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo
hiểm..) phát triển mạnh, từ đó nền KTTT và thường được gọi là kinh tế thông tin ra
Bước sang thế kỷ XXI, nhiều quốc gia đã đưa ra chiến lược xây dựng và phát
triển đất nước theo tiêu thức của nền KTTT. Trong “Chương trình năm 2000”, Liên
minh châu Âu cũng đặt việc tri thức hóa vào vị trí ưu tiên hàng đầu, điều này chứng
tỏ KTTT là xu thế phát triển tất yếu của thời đại, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu
hóa như hiện nay. Qúa trình chuyển giao này đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong các
nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, Canada, Trung Quốc, EU, Nhật Bản,
Singapo, Ôxtraylia....
Không ít các nhà phân tích cho rằng: Dưới tác động của cách mạng khoa học
- công nghệ và quá trình toàn cầu hóa, KTTT đang hình thành ở nhiều nước trên thế
14
giới và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một hoặc hai thập kỷ tới. Tuy nhiên,
bao giờ nền KTTT sẽ hoàn chỉnh và lan tỏa ra toàn cầu thì còn phụ thuộc vào điều kiện
nguồn nhân lực, kinh tế, khoa học của từng quốc gia, cơ hội cho phát triển nền KTTT là
như nhau đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhưng để thành công lại là một việc
khác nhau nhiều hay ít . Liên Hợp Quốc thì cho rằng vào thập kỷ thứ ba; một số ý kiến
khác lại cho rằng giai đoạn quá độ sang nền KTTT kéo dài suốt trong thế kỷ XXI. Do
tính quá độ đó nên có sự đan xen giữa các nhân tố của nền kinh tế cũ và những nhân tố
của nền kinh tế mới. Ngay trong từng lĩnh vực sản xuất cụ thể những yếu tố chuyền
thống để tạo nên các sản phẩm vẫn tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng giá
trị của chúng trong cấu thành sản phẩm giảm đi và ngược lại, giá trị của phần chất xám
(vốn con người, công nghệ cao) ngày càng chiếm vị trí áp đảo. Bất luận như thế nào,
chúng ta dù muốn hay không thì trên thực tế cũng đang diễn ra sự quá độ sang một nền
kinh tế khác với các nền kinh tế đang tồn tại từ trước cho tới nay.
Bảng 2.1: So sánh khái quát các giai đoạn kinh tế
Kinh tế
Nông nghiệp
khiển, kiểm soát, xử
lý thông tin.
Của cải, hàng hóa
tiêu dùng, các xí
nghiệp, nền công
nghiệp.
Sản phẩm đáp ứng
nhu cầu ngày càng
cao của cuộc sống,
công nghiệp
tri
thức, vốn tri thức.
Đầu ra của sản Lương thực, thực
xuất.
phẩm.
Nguồn: Phát triển kinh tế tri thức gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà nội, 2009.
15
2.2. Khái niệm, đặc trưng nền kinh tế tri thức và bối cảnh cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0
2.2.1. Khái niệm kinh tế tri thức
Khái niệm về KTTT có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau. Tuy nhiên,
KTTT là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là “ kinh tế”
và “tri thức”. Khác với các mô hình kinh tế trước đây, trong KTTT, các nguyên tắc,
nay, trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0 và trong phạm vi luận văn này, tôi xin được
đưa ra khái niệm về nền KTTT như sau: “KTTT là một giai đoạn phát triển mới sau
kinh tế công nghiệp với vai trò quản lý, khai thác, sử dụng, phân phối kho tri thức
trên toàn cầu và sáng tạo ra tri thức mới có hiệu quả cao nhất cho nhu cầu tăng
trưởng kinh tế của riêng mình và xã hội”.
Với định nghĩa về KTTT tác giả đưa ra như ở trên, tác giả đã được sự cho
phép của giảng viên hướng dẫn lập bảng câu hỏi phỏng vấn gửi 31 phiếu trong
phạm vi 8 tỉnh trên cả nước, kết quả đạt 100% phiếu đồng thuận với quan điểm của
tác giả về định nghĩa này.
KTTT là một giai đoạn phát triển mới của các nền kinh tế sau kinh tế công
nghiệp với vai trò lấy tri thức làm nguồn lực sản xuất, phân phối và lấy tri thức làm
tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng. Tri thức đã trở thành nhân tố hàng
đầu của sản xuất, vượt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền (vốn và lao động),
đây chính là cốt lõi của KTTT. Dưới tác động của cuộc CMCN 4.0 hiện nay, đặc
biệt là công nghệ thông tin; công nghệ năng lượng; công nghệ sinh học; công nghệ
vật liệu mới, công nghệ trí tuệ nhân tạo, Big data…, nền kinh tế thế giới đang diễn
ra những biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ, tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trọng
đại, dẫn tới xu hướng chuyển biến từ kinh tế công nghiệp sang KTTT, đưa nền văn
minh loài người từ văn minh công nghiệp sang văn minh tri thức.
KTTT là một xu thế phát triển và mang tính chất khách quan trong thời đại
ngày nay. Đây là một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển khoa học và công nghệ,
phát triển nền kinh tế thị trường, của nhu cầu tự do thương mại hiện đại, toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một giai đoạn phát triển mới về chất và
được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng,
văn hóa....vv. Con người có cơ hội được học tập suốt đời nhờ vào cuộc CMCN 4.0
này đem lại sự kết nối mạng mang tính chất sâu rộng, toàn cầu, nguồn nhân lực chất
lượng cao làm chủ và sáng tạo ra tri thức mới có chất lượng và hiệu quả cho sự phát
triển, tạo ra năng lực cạnh tranh toàn cầu của các nền kinh tế.