i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ THỪA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2018
Fgiariáp
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ THỪA
trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích
lệ của các giảng viên, đồng nghiệp và người thân. Qua trang viết này tác giả
xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập nghiên cứu khoa học vừa qua.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS. Đinh Thị
Minh Tuyết đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông
tin khoa học cần thiết cho luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia Phân
viện khu vực Tây Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc
nghiên cứu khoa học của mình.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Học viên
Phạm Thị Thừa
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
1
GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số khái niệm liên quan
9
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào
đồng bào dân tộc thiểu số huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
3.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm nghèo
đối với đồng bào dân tộc thiểu số
iii
69
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với
75
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk
Lắk
3.3. Khuyến nghị đối với trung ương và địa phương
83
KẾT LUẬN
88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1.
Mức chuẩn nghèo được áp dụng qua các giai đoạn
15
Bảng 2.1.
Khái quát về điều kiện phát triển của huyện Cư
41
Kuin, tỉnh Đắk Lắk
Bảng 2.2.
Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số của huyện Cư
46
Kuin
cực) và thiếu ăn. Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác xoá đói giảm nghèo
là cực kỳ quan trọng phải thực hiện triệt để. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã coi đói nghèo là một thứ giặc trong ba giặc nguy hiểm nhất của buổi đầu
giành được độc lập (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm) và cần phải ưu tiên
tiêu diệt.Tổng kết 30 năm đổi mới (1986-2016) đảng ta nhận định: nước ta đã
chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo,
nhất là các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng dân dân tộc thiểu số.
Nhiều chính sách giảm nghèo được triển khai thực hiện: hỗ trợ về giáo dục,
đào tạo, hỗ trợ về phát triển sản xuất, hỗ trợ về lao động, việc làm, chính sách
cán bộ… Tuy nhiên trong thực tế, kết quả giải quyết giảm nghèo chung và
giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số chưa đạt được mục tiêu yêu cầu
đề ra. Một trong những nguyên nhân cơ bản chưa thực hiện có hiệu quả mục
tiêu đề ra, do quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế.
1
Huyện Cư Kuin được thành lập trên cơ sở chia tách địa giới hành chính
huyện Krông Ana. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ,
các Bộ, ngành Trung ương, của tỉnh Đắk Lắk và sự nỗ lực của Đảng bộ, chính
quyền và đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện, đời sống vật chất, tinh thần
của đại bộ phận dân cư tăng lên rõ rệt. Đặc biệt các chính sách về giảm nghèo
đã thực sự đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần giảm
nhanh tỷ lệ hộ nghèo từ 21,72% cuối năm 2010 xuống còn 9,33% vào cuối
năm 2016. Tuy nhiên, huyện Cư Kuin vẫn đang còn nhiều khó khăn, thách
thức, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 70,92% trong tổng số
hộ nghèo toàn huyện theo chuẩn nghèo tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg
ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Từ đó, đặt ra cho công tác xoá đói
giảm nghèo của huyện cần có biện pháp hiệu quả trong công tác xóa đói giảm
quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh
Phú Thọ.
- Hoàn thiện quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây
Bắc, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công năm 2011, của tác giả Hà Chí Công đã
làm rõ một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo và đề xuất những giải
pháp cụ thể nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về xóa đói, giảm
nghèo ở các tỉnh vùng sâu, vùng xã, vùng khó khăn của Tây Bắc.
- Quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo đối với đồng bào thiểu số
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Luận văn Thạc sỹ quản lý công của tác giả Trần
Thị Diễm Thủy, năm 2013. Luận văn đánh giá quản lý nhà nước về công tác
giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Nông, phân tích
thực trạng công tác quản lý; từ đó, tìm ra nguyên nhân các tồn tại, đề xuất các
giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo đối với đồng
bào dân tộc thiểu số.
3
- Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sỹ quản lý
công của tác giả Phạm Quốc Cường, năm 2017. Luận văn đã làm rõ một số
vấn đề lý luận về giảm nghèo bền vững và quản lý nhà nước về giảm nghèo
bền vững; phân tích, đánh giá được thực trạng nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu
số và công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào
DTTS trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, qua đó đề xuất một số giải pháp và kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở
vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk trong thời
gian tới.
- Cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo – thực trạng và giải
pháp” của tác giả Lê Quốc Lý (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), là
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, hệ thống những lý luận cơ bản quản lý nhà nước về giảm nghèo
đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo
đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Ba là, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm
nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk
Lắk trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào
dân tộc thiểu số trên địa bàn cấp huyện.
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung
quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
- Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2011 đến nay,
đề xuất giải pháp cho thời gian tới.
- Về địa bàn nghiên cứu: huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu luận văn dựa vào phép biện chứng duy vật và lịch sử của
Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề giảm nghèo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: nhằm tìm hiểu những luận cứ từ
trong lịch sử nghiên cứu mà người đi trước đã làm, không phải mất thời gian
6.2. Về thực tiễn
- Phân tích, đánh giá và xác định được nguyên nhân thực trạng quản lý
nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể, khả thi nhằm
góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào dân
tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
- Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm cơ sở để các cấp lãnh đạo, các
ngành có liên quan tham khảo để ra những quyết định trong hoạt động quản lý
nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng
7
bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk nói riêng hiệu
quả hơn. Luận văn cũng có thể sử dụng như tài liệu tham khảo cho các sinh
viên, những ai quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với
đồng bào dân tộc thiểu số
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng
bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về
giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin,
tỉnh Đắk Lắk
8
bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con
người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát
triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là
khác nhau. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới năm 2015, tỷ lệ nghèo cùng
cực trên thế giới giảm từ 902 triệu người năm 2012 (chiếm 13% dân số toàn
cầu năm 2012) xuống còn 702 triệu người năm 2015 (tương đương 9,6% dân
số toàn cầu năm 2015) [30, tr.8].
Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân
dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau:
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa
mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và mức sống
thấp hơn mức sống cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Một cách hiểu khác: Nghèo là bộ phận dân cư có mức sống dưới
ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc
điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Có thể tiếp cận khái niệm nghèo ở hai phương diện, đó là nghèo tuyệt
đối và nghèo tương đối.
- Nghèo tuyệt đối
Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong
các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá mức
tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta.
10
Hay nói cách khác, nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà
con người cơ bản.
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan
đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt
các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa
chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính
là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ
sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các
nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều,
cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu
cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không
được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo
lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và
toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Tại Quyết định số 59/2015/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp
dụng cho giai đoạn 2016-2020. Đồng thời hiện nay, đang thực hiện rà soát cơ
chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam.
1.1.1.2 Khái niệm chuẩn nghèo
Để đo lường mức độ nghèo của một quốc gia, người ta dùng mức chuẩn
nghèo. Chuẩn nghèo là một tiêu chuẩn để đo mức độ nghèo của các hộ dân, là
căn cứ cho các hỗ trợ về chính sách cho hộ đó. Chuẩn nghèo ở mỗi quốc gia
là khác nhau và sẽ thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
“Ngân hàng thế giới (WB) xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
12
đương của địa phương (so với đô la thế giới) để thoả mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối”.
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần nâng mức chuẩn
những hộ ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (dưới 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
+ Chuẩn cận nghèo: Những hộ ở khu vực nông thôn có mức thu nhập
trung bình từ 401.000 đến 520.000 đồng/người/tháng (4,812 triệu đồng đến
6,240 triệu đồng/người/năm) và khu vực thành thị có mức thu nhập từ
501.000 đồng đến 650.000đồng/người/tháng (6,012 triệu đồng đến 7,8 triệu
đồng/người/năm).
- Mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 như sau:
+ Chuẩn nghèo: Khu vực nông thôn có thu nhập bình quân đầu
người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số
đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực
thành thị: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở
xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến
1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
+ Chuẩn cận nghèo: Khu vực nông thôn: thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03
chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Khu vực
thành thị: thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến
1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
14
Bảng 1.1 Mức chuẩn nghèo được áp dụng qua các giai đoạn (Đơn vị
tính: Nghìn đồng/người/tháng)
Chuẩn nghèo
55
70
90
02
2001-2005
80
100
150
03
2006-2010
200
260
04
2011-2015
400.000
một cộng đồng chính trị, xã hội rộng lớn, bao gồm nhiều tộc người, sinh sống
ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của tộc người đa
số làm ngôn ngữ quốc gia; có lãnh thổ quốc gia, có chung vận mệnh lịch sử,
cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế; có nền văn hóa vừa thống nhất, vừa
đa dạng của quốc gia - dân tộc.
Dân tộc Việt Nam là một khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng là dân
tộc - quốc gia, là một cộng đồng chính trị, xã hội bao gồm tất cả 54 dân tộc, từ
ít người đến đông người, từ thiểu số đến đa số; mỗi dân tộc mang một sắc thái
văn hóa riêng và cùng sinh sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam
thống nhất. Trong đó, các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu vùng miền núi
(chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước), địa bàn có vị trí quan trọng,
chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, môi trường
sinh thái của đất nước.
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về
công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” được xem là những dân tộc có số dân
ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
1.1.2.2. Đặc điểm
Một là, các dân tộc thiểu số tại Việt Nam có quy mô dân số và trình độ
phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, với sự chênh lệch khá lớn về điều
kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và giữa các vùng địa lý khác nhau.
Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng
du canh, du cư, di dân tự do vẫn diễn biến phức tạp. Kết cấu hạ tầng (điện,
đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn.
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú vừa phân tán, vừa xen kẽ
nhau, không tách riêng theo vùng lãnh thổ hay cư trú duy nhất trên một địa
16