luận văn thạc sĩ tội cướp giật tài sản từ thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TRẦN BÁ ĐỨC

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TRẦN BÁ ĐỨC

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số: 838.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM CÔNG NGUYÊN

HÀ NỘI, năm 2020


LỜI CAM ĐOAN

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP GIẬT
TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG............................. 57
3.1. Phương hướng hoàn thiện quy định về Tội cướp giật tài sản trong Bộ luật
hình sự năm 2015 ......................................................................................... 57
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ...................... 60
KẾT LUẬN ................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

BLDS

Bộ luật dân sự

PLHS

Pháp luật hình sự

TAND


XHCN

Xã hội chủ nghĩa

TCGTS

Tội cướp giật tài sản


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số liệu về công tác giải quyết, xét xử án hình sự của tòa án nhân
dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 đến hết tháng 6 năm 2020
..................................................................................................................... 38
Bảng 2.2. Mức độ tổng quan của tình hình tội CGTS trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng từ năm 2015 đến hết tháng 6/2020 ................................................. 39
Bảng 2.3. Tỷ lệ các tội CGTS trong tình hình tội phạm nói chung trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015 đến tháng 6/2020 ............................ 40
Bảng 2.4. Tỷ lệ các tội CGTS trong tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015 đến tháng 6/2020 ...................... 41
Bảng 2.5. Cơ cấu về hình phạt được áp dụng đối với những người phạm tội
CGTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 đến hết tháng 6/2020 .. 42


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 34 năm đổi mới, đất nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp
sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường, diễn biến của tình hình tội phạm nói
chung, cũng như các tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng ngày càng có chiều
hướng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản và hết sức phức tạp gây ảnh hưởng

thành phố Đà Nẵng. Trung bình một năm trong thời gian từ năm 2015 hết tháng
6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử 20,36 vụ án và 49,27 bị
cáo về tội cướp giật tài sản. Tòa án nhân dân các cấp thành phố Đà Nẵng đã xét
xử đúng người, đúng tội danh và đúng pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh những
kết quả đạt được thì việc áp dụng pháp luật với tội cướp giật tài sản còn cho
thấy còn có nhiều bất cập, vướng mắc.
Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của tội phạm cướp giật
tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, xác định được những tồn tại, hạn chế,
nguyên nhân để từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản là việc rất cần thiết,
khách quan. Do vậy, tác giả chọn đề tài “Tội cướp giật tài sản từ thực tiễn thành
phố Đà Nẵng” làm đề tài Luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tội cướp giật tài sản đã được nghiên cứu, đề cập ở nhiều hình thức, mức
độ, khía cạnh khác nhau như:
Một số luận văn, luận án liên quan như: Luận án Tiến sỹ luật học "Trách
nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu" của Nguyễn Ngọc Chí, năm
2000; Luận văn thạc sỹ “Tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” của Phan Thị Thu Lê, năm
2


2015; Luận văn thạc sỹ của Lê Tấn Hùng về “Tội cướp giật tài sản theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” năm 2012; Luận văn thạc
sỹ luật học “Tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
tỉnh Hưng Yên” của Nguyễn Thị Toàn, năm 2015…
Các bài viết như: Đặng Thúy Quỳnh (2012), “Bàn về tội "Cướp giật tài
sản" và tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản" trong Bộ luật hình sự năm 1999”,
Tạp chí Kiểm sát số 19/2012, tr. 24-25, 31; Trần Thị Lịch (2016), “Tội cướp
giật tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2015 và một số giải

giật tài sản;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội cướp giật tài sản trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay, làm rõ kết quả đã đạt được, hạn chế, thiếu
sót và nguyên nhân của hạn chế thiếu sót;
- Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
và xử lý tội phạm này đảm bảo việc áp dụng pháp luật được chính xác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội cướp giật tài
sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo pháp luật hình sự Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp
luật của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
+ Phạm vi về tội danh: Đề tài luận văn chỉ nghiên cứu tội cướp giật tài
4


sản quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và
nghiên cứu so sánh với Điều 136 BLHS năm 1999.
+ Phạm vi về chủ thể: Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Toà án nhân dân
thành phố Đà Nẵng trong đó chủ thể chính là Thẩm phán. Trong quá trình thực
hiện có sự phối hợp với cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng.
+ Pham vi về địa bàn: Đề tài luận văn nghiên cứu trên phạm vi địa bàn
thành phố Đà Nẵng.
+ Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu của luận văn giai đoạn từ
năm 2015 đến hết tháng 6 năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận dựa trên nền tảng phương pháp luận của phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Với kết quả đạt được tác giả mong muốn luận văn có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo luật tại Học viện cũng như là tài
liệu để các học viên nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội cướp giật tài sản.
Chương 2. Tình hình đặc điểm có liên quan và thực trạng áp dụng quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ thực tiễn địa
6


bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CƯỚP
7


GIẬT TÀI SẢN.
1.1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
1.1.1. Khái niệm tội cướp giật tài sản
Theo quy định của Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung
năm 2017 thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn

thoát. Yếu tố bất ngờ cũng là một dấu hiệu đặc trưng của loại tội phạm này.
Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách nhanh
chóng và công khai, tội phạm không có ý định che dấu hành vi của mình đối
với chủ sở hữu tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc đối với
những người khác. Đây là một trong những đặc trưng để phân biệt tội cướp giật
tài sản với những trường hợp phạm tội khác như: tội trộm cắp, lừa đảo, lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không có tính công khai, nhanh chóng.
Tính công khai của hành vi cướp giật tài sản là công khai với chủ sở hữu
hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản là bị giật tài sản, hành vi giật tài sản
một cách nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ với chủ sở hữu hoặc người có
trách nhiệm về tài sản làm cho những người này không có khả năng giữ được
tài sản đang quản lý. Vì vậy, nếu người phạm tội thực hiện hành vi vào ban
đêm hay có những thủ đoạn làm cho chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm
quản lý tài sản không đề phòng thì hành vi phạm tội vẫn là hành vi cướp giật.
1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
a. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được pháp
9


luật hình sự bảo và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến. Việc quy định những
quan hệ xã hội nào được luật hình sự bảo vệ là khách thể của tội phạm phụ
thuộc vào ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội nhưng thường là
các quan hệ xã hội quan trọng trong đời sống xã hội.
Khách thể bị xâm hại trực tiếp của Tội cướp giật tài sản là quyền sở hữu
đối với tài sản của người sở hữu tài sản. Những tài sản bị nhà nước cấm lưu
hành như vũ khí quân dụng, băng đĩa hình đồi trụy, ma túy, pháo nổ,... không
là đối tượng của tội cướp giật tài sản.
Tội cướp giật tài sản ngoài khách thể chủ yếu bị xâm phạm là tài sản còn
xâm phạm các quan hệ nhân thân. Nhiều vụ cướp giật tài sản hiện nay đã gây

Thông thường, hành vi giật tài sản một cách nhanh chóng đã tạo ra yếu
tố bất ngờ đối với chủ sở hữu hoặc người người đang quản lý tài sản làm cho
những người này không có khả năng bảo vệ được tài sản mà mình đang quản
lý.
Một số trường hợp người phạm tội muốn tạo ra yếu tố bất ngờ đối với
chủ sở hữu hoặc đang quản lý tài sản nhưng thủ đoạn phạm tội không làm cho
chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản bị bất ngờ nên người
phạm tội không thực hiện được hành vi giật tài sản.
Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách công
khai, người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi của mình. Đây cũng là
một đặc trưng để phân biệt với những trường hợp phạm tội khác.
Tính chất công khai của hành vi cướp giật tài sản là công khai với chủ
sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản là bị giật chứ không phải công
khai với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản về thân phận của
người phạm tội.
11


Về hậu quả: Hậu quả của tội cướp giật tài sản là tài sản bị của người sở
hữu bị chiếm đoạt. Ngoài ra còn có thể xảy ra thiệt hại về sức khỏe, thân thể,
tính mạng của nạn nhân.
Người phạm tội cướp giật tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
dù có hậu quả xảy ra hay không. Tức là chỉ cần có hành vi nhưng chưa chiếm
đoạt được tài sản thì vẫn phải chịu trách nhiệm. Ngoài ra giá trị tài sản ít hay
nhiều cũng không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự mà
đây sẽ là một trong những yếu tố để định khung hình phạt.
c. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm ở đây là yếu tố lỗi của tội phạm, đối với tội
cướp giật tài sản, lỗi ở đây là lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội biết rõ
hành vi cướp giật tài sảnlà vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện nhằm mục

giật tài sản. Khi đưa ra mức phạt trong khung hình phạt này tòa án sẽ căn cứ
vào những yếu tố như là mức độ dùng vũ lực, các tình tiết tăng nặng, tình tiết
giảm nhẹ, có chiếm đoạt được tài sản hay không. Chẳng hạn đối với những
người thuộc trong cùng một khung hình phạt này, người sử dụng vũ lực nặng
hơn thì sẽ có mức phạt cao hơn, người có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn sẽ phải
chịu mức phạt thấp hơn người không có tình thiết giảm nhẹ, người chiếm đoạt
được tài sản sẽ có mức phạt cao hơn người chưa chiếm đoạt được tài sản…
Khoản 2: Hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm áp:
Khoản 2 Điều 171 BLHS năm 2005 quy định: “Phạm tội thuộc một trong
các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến 10 năm”.
Các tình tiết tăng nặng bao gồm:
a) Phạm tội có tổ chức:
13


Phạm tội có tổ chức, là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp
đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc
một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu. Theo quy định
tại khoản 2 Điều 17 BLHS thì, người tổ chức, người thực hành, người xúi giục,
người giúp sức đều là những người đồng phạm.
b) Có tính chất chuyên nghiệp:
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp còn là tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS. Hướng dẫn của
Nghị quyết về “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” được hiểu là người phạm
tội cố ý 05 lần thực hiện tội phạm trở lên và người phạm tội đều lấy các lần
phạm tội làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống
chính đã được hướng dẫn cụ thể tại tiểu mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQHĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng;
Người phạm tội cướp giật tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 11 – 30%:
Đây là trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội cướp giật người phạm
tội đã Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ
tổn thương cơ thể từ 11 – 30%. Khách thể chính bị xâm hại của tội cướp giật
tài sản vẫn là quyền sở hữu tài sản, tuy nhiên một số trường hợp người phạm
tội lại gây ra thương tích cho bị hại, thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho
người khác ngoài ý muốn của mình. Cách tính tỷ lệ thương tích hay tổn hại sức
khỏe tham khảo Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 06 năm 2014 của
15


Bộ Y tế.
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người
già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ:
Do đây là một trong 4 tình tiết định khung tăng nặng mới được quy định
tại điểm tình tiết quy định tại điểm e khoản 2 Điều 171 BLHS năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung 2017), nên học viên sẽ đi sâu phân tích về tình tiết này:
Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già
yếu hoặc người không có khả năng tự vệ. Đây là tình tiết định khung tăng nặng
trách nhiệm hình sự mới đối với tội cướp giật tài sản để đáp ứng yêu cầu của
việc đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong tình hình hiện nay, được áp
dụng đối với hành vi cướp giật tài sản được thực hiện từ ngày 1/1/2018. Tình
tiết này là tổng hợp của 4 dấu hiệu định khung có tính chất nguy hiểm tương
đương nhau được quy định chung trong cùng một điểm của điều luật, đó là:
phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai,
phạm tội với người già yếu và phạm tội với người không có khả năng tự vệ.
Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi. BLHS hiện hành đã cụ thể hóa quy
định về giới hạn độ tuổi, trong đó thay thế thuật ngữ “trẻ em” trước đây bằng
thuật ngữ xác định rõ độ tuổi là “người dưới 16 tuổi”. Quy định này tạo sự rõ

mỗi trường hợp cụ thể để đánh giá tình trạng sức khỏe và độ tuổi của người bị
hại tại thời điểm bị tội phạm xâm hại để quyết định áp dụng hay không. Học
viên đồng tình với quan điểm cho rằng, “người già yếu phải là người từ đủ 70
tuổi trở lên và đang ở trong tình trạng ốm đau hoặc không trong tình trạng ốm
đau nhưng là người yếu”[40].
Phạm tội đối với người không có khả năng tự vệ. Đây cũng là tình tiết
thuộc dấu hiệu khách quan nên không yêu cầu người phạm tội biết bị hại có
17


phải là người không có khả năng tự vệ hay không. Quy định này cũng chưa có
văn bản hướng dẫn có giá trị pháp lý của cơ quan có thẩm quyền.”[53].
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội:
Khi việc cướp giật tài sản được lặp đi lặp lại một cách liên tục, thường
xuyên ở cùng một khu vực, gây hoang mang cho nhiều người trên một địa bàn
nhất định, làm cho rất nhiều người vì quá sợ hãi nên phải bỏ học, bỏ việc làm,
không dám lao động sản xuất, không dám buôn bán…
i) Tái phạm nguy hiểm:
Tái phạm nguy hiểm còn là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được
quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự, người tái phạm, tái phạm nguy hiểm
không chỉ thực hiện hành vi phạm tội mà còn đã từng bị kết án và chưa được
xóa án tích trước đó. Tái phạm nguy hiểm thể hiện nhân thân của người phạm
tội không tốt, không ăn năn sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn
thực hiện hành vi phạm tội.
- Khoản 3: hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh:

cảnh có chiến tranh để cướp giật tài sản, hành vi đó có thể được thuận lợi hơn,
khó bị phát hiện hoặc có thể đạt mục đích lớn hơn. Không nhất thiết lúc phạm
tội hoặc nơi phạm tội phải đang có chiến sự mà chỉ cần người phạm tội lợi dụng
hoàn cảnh chiến tranh để thực hiện hành vi cướp giật tài sản dù ở đâu, lúc nào
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status