JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Vol. 56, No. 5, pp. 82-91
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
CÂY BÔNG Ở TÂY NGUYÊN VÀ DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Nguyễn Đình Giang(∗)
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Bích Diệp
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
(∗)
E-mail:
Tóm tắt. Cây bông là cây có yêu cầu khắt khe về các điều kiện sinh thái,
diện tích gieo trồng ít và đang giảm dần ở Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về nguyên liệu cho công nghiệp dệt, cần thiết phải mở rộng
diện tích trồng bông. Bài báo này phân tích và đánh giá những thuận lợi và
khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đối với việc phát triển
cây bông ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, hai trong số những vùng trồng
bông chính ở nước ta hiện nay và trong tương lai.
1.
Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong những quốc gia có ngành dệt may phát triển của thế
giới. Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu dệt may của nước ta đạt 11,2 tỉ USD, chiếm
Cây bông (Gossypium hyrsutum, G.barbadense) là loại cây có nguồn gốc nhiệt
đới và cận nhiệt đới. Tuy vậy, hiện nay cây bông không chỉ được trồng ở vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới mà còn có một diện tích rất rộng lớn ở vùng ôn đới cũng được
trồng bông.
Cũng như đối với mọi cây trồng khác, cây bông cũng có những đòi hỏi về điều
kiện khí hậu, đất đai và những yếu tố sinh thái khác. Trong những yếu tố này khí
hậu là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu.
2.1.1.
Nhiệt độ
Rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về điều kiện nhiệt đối với cây bông và đều có
nhận xét chung rằng cây bông là loại cây ưa nhiệt độ cao. Tùy theo giai đoạn sinh
trưởng, cây bông yêu cầu những nhiệt độ khác nhau. Theo Vũ Công Hậu [2], nhiệt
độ cần thiết đối với giai đoạn sinh trưởng của cây bông như sau:
* Nẩy mầm: trên 150 C
* Ra nụ: trên 190 C
* Ra hoa: trên 19 – 210 C
* Quả nở: 30 – 360 C
Nhiệt độ tối ưu cho bông nảy mầm, sinh trưởng và phát triển là 25 – 300 C.
Dưới 250C cây phát triển chậm lại. Trên 370C cây ngừng phát triển.
Đối với thời kỳ ra nụ, ra hoa, từng giống bông có đòi hỏi khác nhau về nhiệt
độ, tuy nhiên có thể thấy ở nhiệt độ 23 – 260 C, tỷ lệ rụng đài thấp nhất. Tất nhiên
sự rụng đài còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như: lượng mưa, độ ẩm, không khí,
vị trí của hoa v.v. Tuy nhiên nếu chỉ xét riêng về nhiệt độ thì có thể nói khoảng
nhiệt độ nêu trên là tối ưu đối với sự ra hoa của cây bông.
Đối với giai đoạn kết quả và quả chín, ngoài ảnh hưởng của nhiệt độ trung
bình ngày thì chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm cũng có ảnh hưởng quan trọng.
Chênh lệch này càng lớn càng có lợi vì nhiệt độ thấp vào ban đêm sẽ làm cho cây
giảm bớt hô hấp, tăng cường việc tích lũy các chất dinh dưỡng dự trữ và làm cho
Theo Đào Quang Hưng [3], nhu cầu về nước và độ ẩm đất của cây bông như
sau:
Bảng 1. Nhu cầu về nước và độ ẩm đất đối với cây bông [3]
Giai đoạn
Nẩy mầm
Cây con
Nụ
Hoa nở
Quả nở
tưới.
Lượng nước cần (m3/ha)
–
100 – 120
300 – 350
900 – 1500
300 – 350
Độ ẩm đất thích hợp (%)
70 – 80
55 – 65
60 – 70
70 – 80
60 – 65
Những vùng có lượng mưa trên 1000mm đều có thể trồng bông không cần
2.1.3.
* Lượng mùn cao: Lượng mùn cao không chỉ biểu hiện độ màu mỡ cao mà còn
làm cho tính chất vật lý của đất được cải thiện: tơi xốp, thoát nước. Đất nhiệt đới
ở nước ta nhìn chung nghèo mùn, trừ một vài nơi thuộc Tây Nguyên và các vùng
núi cao, còn lại đều cần phải bón nhiều phân hữu cơ để tăng thêm độ mùn cho đất.
* Độ màu mỡ: cũng như các loại cây trồng khác, đất càng màu mỡ cây càng
phát triển. Đất trồng bông đòi hỏi phải có độ màu mỡ nhất định, nếu độ màu mỡ
thấp thì lượng phân bón phải nhiều, cân đối cả đạm, lân, kali.
2.2.
Những giống bông chính đang được trồng ở Việt Nam và
điều kiện tự nhiên của Tây Nguyên và Duyên hải Nam
Trung Bộ
2.2.1.
Những giống bông chính đang được trồng ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam đang trồng nhiều giống bông khác nhau nhưng có 7
giống đang được trồng phổ biến hơn cả. Đó là các giống L18, VN20, VN35, NH38,
VN15, GL03, VN01-2 [3]. Những đặc tính chủ yếu của các giống bông này như sau:
Bảng 2. Đặc điểm chủ yếu của một số giống bông vải
đang trồng phổ biến ở nước ta hiện nay [3]
Thời gian sinh
trưởng (ngày)
Trọng lượng
quả (g)
Tỉ lệ xơ
Thích nghi rộng,
kháng rầy yếu
Thích nghi rộng,
kháng rầy trung
bình
Thích nghi rộng,
kháng rầy cao
85
Nguyễn Đình Giang và Nguyễn Bích Diệp
NH38
100 – 115
VN15
–
100 – 115
36 – 37
4.5 – 5
36 – 37
GL03
rầy trung
nghi rộng,
rầy trung
nghi rộng,
rầy tốt
Qua bảng này có thể thấy: Cả 7 giống này đều có thời gian sinh trưởng trung
bình 100 – 115 ngày, có tỉ lệ xơ 36 – 39%, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1. Đây
là những giống ổn định, thích nghi rộng, kháng rầy từ trung bình đến tốt. Riêng
các giống VN15, GL03, VN01-2 có khả năng kháng sâu miệng nhai, thích hợp cho
những vùng có áp lực sâu xanh cao. Các giống VN35, VN15, L18 là những giống có
năng suất cao (30 – 35 tạ/ha). Đây là những giống đã được chọn lọc, thích nghi tốt
với điều kiện khí hậu Việt Nam và đã được trồng đại trà ở nhiều vùng trong nước.
2.2.2.
Địa
điểm
Những điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung
Bộ
Bảng 3. Nhiệt độ và lượng mưa ở một số địa điểm
Tháng
1
2
3
Kon
22,7
27,5
24,7
6
2
25,6 25,
24,6
103,7 196,0 262,8
24,0 24,0 23,0
94,9 225,7 357,0
26,1 25,8 24,8
4,0mm
6,0
22,2
19,50 C
56,3mm
24,60 C
8,2mm
24,70 C
1,2mm
20,7
46,0
25,8
2,5
24,1
23,8
23,4
22,1
20,6
324,3
22,4
452,9
24,3
339,2
22,2
492,6
24,2
319,7
22,3
360,0
23,9
148,9
21,7
181,0
23,5
19,9
74,7
24,6
57,9
25,3
20,7
Nam
22,3 22,0 21,8 21,8
289,2 390,1 401,0 382,7
28,7 28,6 29,0 27,3
58,4 62,4 59,5 137,8
27,7 26,9 27,0 26,8
148,1 224,3 175,3 190,2
Nguồn: Các biểu đồ sinh
21,6 20,8
286,8 140,0
26,6 25,9
144,1 133,2
26,7 26,3
169,7 50,2
khí hậu Việt
Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đối với việc phát triển cây bông...
- Về nhiệt độ:
Đối với Tây Nguyên, cả 4 địa điểm đều có nhiệt độ trung bình năm trên 210 C.
Trong đó chỉ có Plây-cu và Bảo Lộc có 2 tháng nhiệt độ xuống dưới 200 C (Plây-cu
việc tưới nước cho cây bông là cần thiết để có thể cho năng suất cao.
Hình 2. Lượng mưa trung bình hàng tháng
và đối chiếu với các giai đoạn phát dục của cây bông
- Về số giờ nắng:
Ở Tây Nguyên, mùa khô là mùa có nhiều nắng vì ở đây lượng mây thấp. Trong
những ngày đầu và cuối mùa khô, số giờ nắng có thể giảm xuống còn 7 giờ/ngày.
Còn vào giữa mùa trị số này vào khoảng 8 – 8,5 giờ/ngày.
Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, số giờ nắng trong cùng thời gian còn cao hơn,
thậm chí tới trên 10 giờ/ngày [6].
- Về đất đai: Tây Nguyên có một diện tích rất lớn đất đỏ badan có giá trị cao
đối với các loại cây trồng. Trong số này, ngoài những diện tích đất chưa bị thoái
hóa hoặc thoái hóa nhẹ ( là rừng tự nhiên hoặc trồng cây công nghiệp lâu năm hoặc
lúa màu) thì còn khoảng 671.000 ha thuộc loại thoái hóa trung bình mà trên đó có
rừng nghèo, rừng trồng, rừng tre nứa, đất trống và cây bụi, đất chuyên màu và cây
công nghiệp ngắn ngày. Một phần đáng kể trong loại đất này có thể được sử dụng
để trồng bông.
Đất Tây Nguyên rất giàu mùn. Loại đất rừng mới khai phá có độ mùn tới 10
– 12%, còn các loại đất đang được sử dụng trồng màu có độ mùn 3 – 5%, giàu lân
(trung bình đạt 0,1 – 0,2%), kali trung bình (0,2 – 0,3%). Nhìn chung đất này rất
88
Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đối với việc phát triển cây bông...
thích hợp cho cây bông.
Đối với Nam Trung Bộ, đất phần lớn là đất nhẹ, có cấp hạt thô. Đất này có
ưu điểm là thoát nước tốt tuy nhiên độ màu mỡ không cao; lượng mùn thấp, thường
chỉ đạt 1,0 – 1,5%; nghèo đạm 0,07 – 0,1%, lân tổng số thấp
bông. Không những vậy trồng ngô không đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật khắt khe
như đối với trồng bông. Vấn đề hiện nay là phải nâng cao năng suất và tăng giá thu
mua bông. Nếu năng suất đạt được 2,0 – 2,5 tấn/ha như ở nhiều nước hiện nay và
giá bông hạt bằng 80% giá nhập khẩu thì việc mở rộng diện tích trồng bông sẽ trở
thành hiện thực
2.3.2.
Tổ chức sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật
Hiện nay sản xuất bông vẫn chủ yếu nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình với cơ
sở vật chất thiếu thốn, mới chỉ có một số cơ sở sản xuất quy mô lớn đang được thử
nghiệm. Chẳng hạn, nông trại trồng bông theo quy mô công nghiệp của tập đoàn
89
Nguyễn Đình Giang và Nguyễn Bích Diệp
Dệt may Việt Nam (Vinatex) ở Bình Thuận đã thực hiện được 3 vụ, bông được tưới
nhỏ giọt theo công nghệ của Ixraen có thể đạt năng xuất 2,4 – 3 tấn/ha. Công ty
đang liên kết với nông dân để mở rộng quy mô nông trại đồng thời khuyến khích
nông dân cùng thực hiện. Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã có 8 dự án về sản xuất
bông quy mô lớn ở Tây Nguyên và duyên hải miền Trung.
Về sơ chế, đã có hai nhà máy cán bông Gia Lai và Đắc Lắc với công suất
40.000 tấn bông xơ/năm nhưng đang phải ngừng hoạt động vì thiếu nguyên liệu.
2.3.3.
Chính sách của Nhà nước
Đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 29/QĐ-TTg phê
duyệt chương trình phát triển cây bông vải đến năm 2015, định hướng đến năm
chọn đúng thời vụ. Đối với Nam Trung Bộ, điều kiện nhiệt độ rất thích hợp, tuy
nhiên ở đây có lượng mưa thấp nên trồng bông có tưới là phù hợp nhất. Một hạn
90
Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đối với việc phát triển cây bông...
chế nữa là đất đai có độ phì nhiêu thấp nên cần phải bón nhiều phân.
Để phát triển việc trồng bông theo quy hoạch của nhà nước cần phải có sự hỗ
trợ cho người sản xuất đảm bảo cho cây bông đem lại mức lợi nhuận thích hợp để
có thể cạnh tranh được với các cây trồng khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Bích Diệp, 2011. Developing supporting industries for Vietnam’s textile
and garment export. Đại học Ngoại thương.
[2] Vũ Công Hậu, 1971. Phát triển nghề trồng bông ở Việt Nam và vấn đề giống
bông. Nxb Khoa học và Kĩ thuật.
[3] Đào Quang Hưng, 2011. Kĩ thuật trồng bông vải năng suất cao. Trang thông tin
Hội nông dân thành phố Cần Thơ.
[4] Nguyễn Đình Kỳ, Lâm Thế Anh, 2006. Thực trạng thoái hóa đất badan Tây
Nguyên và các giải pháp sử dụng hợp lí bảo vệ tài nguyên – môi trường đất. Hội
nghị khoa học Địa lí lần thứ II. Tuyển tập các báo cáo khoa học.
[5] Phương Nguyên, 2010. Cây bông vải trên đất Tây Nguyên: Ánh sáng cuối đường
hầm. Kinh tế nông thôn 18/01/2010.
[6] Nguyễn Khanh Vân (chủ biên), 2000. Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam. Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
ABSTRACT
Evaluate of natural and socio-economic conditions for develoment
of cotton growing in Tay Nguyen and South Central Coast
Cotton is a plan that has strict requirements of ecological conditions, and is
less and less grown in Vietnam. In order to meet the growing demand for materials