Luận văn tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác từ thực tiễn quận sơn trà, thành phố đà nẵng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG CAO CƯỜNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE NGƯỜI KHÁC
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG CAO CƯỜNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE NGƯỜI KHÁC
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
: 8.38.01.04


HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TẠI
QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................................... 38
2.1. Tình hình có liên quan đến Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng............. 38
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng............................................................................................................. 44
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế về áp dụng pháp luật trong xét xử tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ............ 50
CHƯƠNG 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC ....................... 53


3.1. Yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ...................................... 53
3.2. Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng quy định của
pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác của các cơ quan tiến hành tố tụng ........................................ 66
KẾT LUẬN ................................................................................................. 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. So sánh tình hình tội phạm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác với tình hình tội phạm nói chung trên
địa bàn quận Sơn Trà giai đoạn từ năm 2015 – 2019 .................................... 41
Bảng 2.2. Thực trạng áp dụng các chế tài đối với các bị cáo phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác từ năm 2015 đến
năm 2019 trên địa bàn quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng........................... 42



điều tra, truy tố và đưa ra xét xử nhiều vụ án cố ý gây thương tích kịp thời, đảm
bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử tội phạm cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tòa án gặp
không ít những vướng mắc, lúng túng và có không ít trường hợp áp dụng còn
chưa thống nhất các quy định của BLHS trong hoạt động xét xử. Chính những
lý do này dẫn đến việc định sai tội danh và quyết định hình phạt chưa công
bằng và khách quan trong một số vụ án. Nhằm hạn chế tình trạng này và nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tiến
hành tố tụng quận Sơn Trà trong việc giải quyết các vụ án nói chung cũng như
các vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các cơ quan tố tụng quận Sơn
Trà đang cố gắng thực hiện trong tình hình hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác từ thực tiễn quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng” để làm để tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe người khác đã được một số nhà khoa học và cán bộ
làm công tác thực tiễn tiến hành, công bố trong nhiều công trình khoa học. Việc
nghiên cứu đề tài liên quan đến tội phạm này đã có nhiều đề tài khoa học, luận
văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, một số giáo trình giảng dạy và được đăng tải thường
xuyên và liên tục trên các tạp chí chuyên ngành, báo, đài, các cổng thông tin
điện tử. Tác giả đã tiếp cận một số đề tài về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe người khác trong những năm gần đây như:
Về giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo có: Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam phần các tội phạm cụ thể của Trường Đại học Luật TP. HCM năm
2015; của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội năm 2015; của Đại học Luật Hà



3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, pháp luật và phân tích thực tiễn áp dụng
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên
địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giai đoạn từ năm 2015 đến năm
2019, luận văn đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, cũng như kiến
nghị, giải pháp áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách phù hợp hơn nhằm
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn quận
Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
+ Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận, các khái niệm, dấu hiệu pháp
lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan.
+ Trình bày thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015 - 2019, từ đó chỉ ra những hạn chế, vướng
mắc, bất cập, cũng như nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc, bất cập
này;
+ Đề xuất hệ thống giải pháp khoa học để góp phần hoàn quy định của
pháp luật, nâng cao việc áp dụng pháp luật của những người tiến hành tố tụng
và các cơ quan tiến hành tố tụng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

dân và các báo cáo sơ kết, tổng kết liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại quận Sơn Trà. Đồng thời kết hợp,

5


đánh giá các số liệu, tư liệu trong các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa
học đã được công bố liên quan tới công tác phòng ngừa tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài không những góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác tại quận Sơn Trà mà còn góp phần làm phong phú thêm
lý luận chuyên ngành luật hình sự về tội phạm cụ thể.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn
về tội cố ý gây thương tích xảy ra trên địa bàn quận Sơn Trà. Bên cạnh đó, nội
dung và kết quả nghiên cứu của đề tài có thể khai thác, sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, hội thảo tập huấn chuyên đề, nâng cao
hiệu quả công tác của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
khi giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục thì nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2. Tình hình có liên quan và thực trạng áp dụng pháp luật hình
sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

lao động và lao động có hiệu quả” [10, tr.835].
Xâm phạm sức khỏe con người là tác động bên ngoài làm cho người bị
xâm hại mất đi một phần hay toàn bộ sức lực có sẵn của chính người đó gây
ảnh hưởng đến quá trình sinh hoạt làm việc bình thường của họ. Hành vi này
xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của con người, đến quyền được bảo vệ về sức
khoẻ của con người được pháp luật ghi nhận. Hành vi dùng sức mạnh vật chất
bằng nhiều phương pháp tác động lên thân thể của con người làm cho họ có

8


những thương tích. Thương tích này có thể là vết thương thẩm mỹ, nghiêm
trọng hơn có thể mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay,
cánh tay, bàn chân...để lại cơ thể không lành lặn. Hành vi gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể
của con người làm cho tình trạng sức khỏe của nạn nhân yếu đi không còn duy
trì bình thường như trước. Tổn hại cho sức khỏe của người khác mặc dù không
để lại vết thương hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể
của nạn nhân nhưng làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó.
Như vậy, có thể hiểu “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác” là hành vi bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau tác động
lên cơ thể của người khác làm cho họ mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực của
họ.
Tác giả đưa ra khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe dựa trên cơ sở các phân tích nêu trên các quy định tại Điều 134 BLHS
năm 2015 như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền được pháp
luật bảo hộ về sức khỏe của con người, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý”.
1.1.2. Những dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây

tiện phạm tội khác như dùng xe lao vào người, thả súc vật cắn. hành vi khách
quan của tội này thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.
Hậu quả của tội cố ý gây thương tích cho người khác là để lại vết thương
và được xác nhận bằng kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân.
Đây là thiệt hại gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền được bảo vệ về sức
khỏe của con người được thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất, là những
thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc xác định có hậu
quả xảy ra trên thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, đảm bảo xét
xử đúng người đúng tội và có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình

10


phạt.
Nếu tỷ lệ thương tật hoặc tổn hại sức khỏe dưới 11%, không gây cố tật
thì không phải chịu TNHS. Tỷ lệ thương tật hoặc tổn hại sức khỏe từ 11% trở
lên thị bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, có một số trường hợp tỷ lệ thương tật
hoặc tổn hại sức khỏe không đến 11% nhưng lại thuộc một trong các trường
hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 thì hành vi đó vẫn bị truy
cứu TNHS. Như vậy, hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp sau
thì cũng phạm tội:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả
năng gây nguy hại cho nhiều người
Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 được chia thành 4 tình tiết tương
ứng với việc người phạm tội dùng “vũ khí”, “vật liệu nổ” (đây là hai tình tiết
mới bổ sung), “hung khí nguy hiểm” và “thủ đoạn có khả năng gây nguy hại
cho nhiều người”. Về nội hàm của quy định thì “vũ khí” thuộc một trong các
dạng của “hung khí nguy hiểm”, do vậy, so với quy định cũ, điểm a khoản 1
Điều 134 Bộ luật hình sự mới chỉ có bổ sung thêm việc dùng “vật liệu nổ” là

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện từ
ngày 01/01/2018. Tình tiết này là tổng hợp của 4 dấu hiệu định khung có tính
chất nguy hiểm tương đương nhau được quy định chung trong cùng một điểm
của điều luật, đó là: phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phạm tội với phụ nữ
mà biết là có thai, phạm tội với người già yếu và phạm tội với người không có
khả năng tự vệ.
Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi. BLHS hiện hành đã cụ thể hóa quy
định về giới hạn độ tuổi, trong đó thay thế thuật ngữ “trẻ em” trước đây bằng
thuật ngữ xác định rõ độ tuổi là “người dưới 16 tuổi”. Quy định này tạo sự rõ
ràng, thống nhất trong việc áp dụng quy định của BLHS. Xuất phát từ quan
điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ những người khó

12


có khả năng tự vệ trước những hành vi xâm hại của tội phạm làm tổn hại lớn
cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho đối tượng đặc biệt này.
Việc xác định độ tuổi của người dưới 16 tuổi thực hiện theo quy định tại Điều
417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 [36]. Phạm tội đối với người dưới 16
tuổi là tình tiết khách quan nên chỉ cần xác định bị hại là người dưới 16 tuổi thì
người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng này mà không cần người phạm
tội phải nhận thức được đối tượng mình thực hiện hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là người dưới 16 tuổi.
Phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai. Phụ nữ có thai cũng là đối
tượng cần được bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên, đây là tình tiết thuộc ý thức chủ
quan của người phạm tội “mà biết”, tức là phải xác định người phạm tội biết bị
hại là người đang có thai mà vẫn thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đối với người đó mới áp dụng tình tiết
tăng nặng này. Việc biết của người phạm tội có thể do bị cáo và mọi người đều
nhìn thấy được (thai đã lớn) hoặc biết được, nghe được từ các nguồn thông tin

Phạm tội có tổ chức, là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp
đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc
một số hành và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu. Theo quy định tại
khoản 2 Điều 17 BLHS thì người tổ chức, người thực hành, người xúi giục,
người giúp sức.
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
Đây là quy định mới được bổ sung tại điểm e khoản 1 Điều 134. Việc bổ
sung quy định này nhằm hướng tới việc đảm bảo nhân quyền, đảm bảo quyền
và lợi cho công dân tốt hơn, đảm bảo sự nghiêm chỉnh trong thực hiện nhiệm
vụ của các đối tượng có nghề nghiệp đặc thù như bảo vệ, vệ sỹ …
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án
phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
hoặc đang chấp hành hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở

14


giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc
Người phạm tội lúc này đang bị tước một số quyền tự do như đang chấp
hành án hình sự hoặc hành chính cần có thái độ tôn trọng pháp luật một cách
cao nhất thì lại tiếp tục thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác. BLHS năm 2015 đã thêm và sửa đổi như bổ sung các
trường hợp “đang chấp hành án phạt tù”. Đồng thời sửa trường hợp đang bị áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thành đang chấp hành biện pháp tư pháp
giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm
hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho phù hợp với thực tế. So với Bộ luật hình
sự năm 2015, tình tiết này cũng được sửa lại cho đầy đủ và rõ nghĩa.
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

minh người phạm tội gây thương tích cho người bị hại nhằm mục đích cản trở
người thi hành công vụ hay không, chỉ cần người bị hại là người đang thi hành
công vụ là đủ điều kiện để áp dụng và cũng không cần chứng minh hoạt động
công vụ của người bị hại đang thi hành có liên quan đến người phạm tội hay
không; điểm mới thứ hai là xác định rõ thời điểm người bị hại bị gây thương
tích, gây tổn hại sức khỏe là “đang” thi hành công vụ.
- Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm ở đây là hoạt động tâm lý bên trong của người
phạm tội bao gồm lỗi, động cơ, mục đích. Người phạm tội thực hiện hành vi
với mong muốn hay để mặc cho kết quả xảy ra, mong muốn cho người khác bị
thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe do đó lỗi được xác định phải là lỗi cố ý.
Dấu hiệu về động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong
cấu thành tội phạm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác.
- Chủ thể của tội phạm.

16


Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác là chủ thể thường, tức là bất cứ ai có năng lực trách nhiệm hình sự
đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Như vậy người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác là người đủ từ 14 tuổi trở lên, khi thực hiện hành vi phạm
tội không bị mắc bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức, và có thể điều khiển
hành vi của mình. Bởi vì, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác quy định trong Bộ luật Hình sự là tội phạm rất nghiêm
trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên theo quy định tại Điều 12
Bộ luật Hình sự thì nếu người từ đủ 14 tuổi nhưng dưới 16 tuổi nếu phạm tội
quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì vẫn phải chịu trách

đầu, ngực, bụng…
+ Tối cố ý gây thương tích dẫn đến chết người: Thường là những vị trí
không gây nguy hiểm chết người như vùng vai, tay, chân, v.v...
- Vũ khí, hung khí sử dụng và các tác nhân khác.
+ Xác định hung khí, vũ khí sử dụng hoặc các tác nhân khác: Việc xác
định vũ khí, hung khí tấn công như súng, dao, gậy…cũng là yếu tố quan trọng
nhằm phân biệt hai tội này.
- Yếu tố lỗi:
+ Tội giết người: Người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý bao gồm
cả cố ý trực tiếp lẫn gián tiếp.
+ Tội cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người người thực hiện hành
vi có lỗi vô ý đối với hậu quả chết người xảy ra, tức là họ cố ý bởi hành vi của
mình nhưng vô ý với hậu quả xảy ra.
- Trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có khả
năng làm chết người mà vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra muốn sao
cũng được, nếu hậu quả là gây thương tích thì định tội cố ý gây thương tích,
nếu hậu quả là chết người thì người phạm tội phạm vào tội giết người.

18


1.1.3.2. Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Bộ luật Hình sự không đưa ra khái niệm về phạm tội trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh. Tuy nhiên, dựa trên các quy định về các tội phạm cụ
thể, có thể hiểu phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là: trường
hợp người bị kích động mạnh về tâm lý do hành vi trái pháp luật của người
khác đối với mình hoặc đối với người thân thích của mình dẫn đến làm mất khả
năng hạn chế và điều khiển hành vi mà thực hiện hành vi phạm tội đối với người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status