THỰC TRẠNG VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ - Pdf 70

THỰC TRẠNG VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
Sau khi đã nghiên cứu các loại rào cản trong thương mại quốc tế, một số rào
cản cụ thể trong thương mại hàng dệt may ở chương 1, chương này sẽ đề cập
đến các rào cản đối với hàng dệt may vào thị trường Mỹ một cách cụ thể, tình
hình nhập khẩu của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam, ảnh hưởng của các rào
cản đến việc hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ và các biện pháp vượt
qua rào cản hàng dệt may của Mỹ mà Việt Nam đã áp dụng. Trên cơ sở đó đánh
giá những ưu điểm, những tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại trong việc vượt
qua rào cản thương mại đối với hàng dệt may của Việt Nam nhập khẩu vào thị
trường Mỹ thời gian qua
Lịch sử hình thành và phát triển các rào cản thương mại đối với hàng dệt
may nhập khẩu vào thị trường Mỹ
Trước cuộc chiến tranh thương mại 1930, cuộc chiến tranh mà các nước cạnh
tranh với nhau nhằm tăng thêm các hàng rào mậu dịch để bảo vệ các nhà sản
xuất trong nước và trả đũa rào cản của các nước khác, Chính phủ và các doanh
nghiệp Mỹ đã tập trung phát triển nền kinh tế trong nước mặc cho những diễn
biến xảy ra ở bên ngoài.
Từ sau cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 và nhất là sau chiến tranh thế giới
thứ hai, Mỹ đã giảm bớt các rào cản thương mại và phối hợp với hệ thống kinh
tế thế giới. Tuy nhiên, do đặc thù của Mỹ là thuộc địa của Anh nên ngành dệt và
những sản phẩm len rất phát triển, các rào cản thương mại đối với ngành dệt
may cũng được thiết lập sớm và duy trì lâu hơn so với hầu hết các ngành khác
(trừ nông nghiệp), ví dụ Luật nhãn hàng sản phẩm len (WPLA) ra đời từ năm
1939.
Trước năm 1974, Mỹ căn cứ vào điều 204 của Luật nông nghiệp năm 1956,
uỷ quyền cho tổng thống tham gia đàm phán các hiệp định với nước ngoài để
hạn chế xuất khẩu nông sản và hàng dệt sang Mỹ. Từ 1974 đến hết năm 1994,
thương mại hàng dệt may của Mỹ với các nước khác tuân theo hiệp định đa sợi
(MFA).
Mặc dù ngành công nghiệp dệt may Mỹ liên tục giảm sút do chi phí về lao

mại và Cạnh tranh Omnibus năm 1988 và có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 1989.
Biểu thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ gồm 21 phần và 96 chương được bố cục
thành 7 cột như mẫu dưới đây:
Bảng 2.1 Harmonized Tariff Schedule of the United States (2008)
Annotated for Statistical Purposes
Heading/
Subheading
Stat
Suf-
fix
Article Description
Unit
of
Quantity
Rate of Duty
1
2
General Special
5204 Cotton sewing thread, whether or not put up for retail
sale:
Not put up for retail sale:
5204.11.00 00
Containing 85 percent or more by weight of
cotton (200)
kg 4.4% Free (BH,CA,
IL,JO,MX,P,SG)
1.3% (MA)
3%(AU)
25.5%
5204.19.00 00 Other (200) kg 4.4% Free (BH,CA,

nhập từ Malaysia chịu mức thuế 1,3%, hàng nhập từ Áo chịu mức thuế
3%.
Hàng dệt may đa số tính thuế theo trị giá, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm trị
giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu. Ví dụ: mức thuế tối huệ quốc (MFN) đối
với thảm nhung chất liệu nhân tạo là 8%. Một số loại phải chịu thuế theo trọng
lượng hoặc khối lượng. Ví dụ thuế suất đối với các loại vải cotton không chải
sợi là 4,4 cent/kg.
Thuế suất đánh vào dệt may cũng có nhiều mức thuế:
 Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) được áp dụng đối với những
nước chưa phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định song phương
với Mỹ như Lào, Cuba, Bắc Triều Tiên. Thuế suất Non-MFN đối với
hàng dệt may nằm trong khoảng từ 20% đến 50%. Mức thuế Non-MFN
được ghi trong cột 2 của biểu thuế HTS của Hoa Kỳ.
 Mức thuế tối huệ quốc (MFN) đối với hàng dệt may thường ở mức từ
2% đến 15%, đa số mặt hàng chịu mức thuế từ 7% đến 10%. Mức thuế
MFN được ghi trong cột “General” của cột 1 trong biểu thuế nhập khẩu
(HTS) của Hoa Kỳ.
 Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences –
GSP) của Mỹ được áp dụng đối với hàng dệt may nhập khẩu từ một số
nước đang phát triển.
 Mức thuế áp dụng với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA): hàng
dệt may nhập khẩu từ Canada và Mexico được miễn thuế nhập khẩu.
Thuế suất ưu đãi đối với hàng nhập từ Canada hoặc Mexico được ghi ở
cột “Special” của cột 1 trong biểu thuế HTS trong đó CA là ký hiệu
dành cho Canada và MX là ký hiệu dành cho Mexico.
Ngoài ra, mức thuế đối với hàng dệt may của từng quốc gia cũng phụ thuộc
vào các Hiệp định song phương và đa phương khác như Sáng kiến khu vực lòng
chảo Caribe (CBI); luật ưu đãi thương mại Andean (ATPDEA) đối với các nước
Bolivia, Colombia, Ecuador và Peru; luật hỗ trợ phát triển châu Phi (AGOA);
các hiệp định thương mại song phương với Israel, Jordan, Singapore, Chile,

thuế đối kháng và bán phá giá, thời hạn tố tụng.
Thời hạn và các bước điều tra chống bán phá giá được quy định như trong
bảng sau:
Bảng 2.2: Các bước điều tra chống bán phá giá (AD)
Ngày Các bước
0
Nộp đơn yêu cầu cho USITC và Bộ
Thương mại
20 Bắt đầu điều tra
45 ITC sơ bộ xác định
160 Bộ Thương mại sơ bộ xác định
235 Bộ Thương mại kết luận
280 ITC kết luận
- Trợ cấp: các mặt hàng xuất khẩu vào Mỹ bị xác định là được trợ cấp của chính
phủ nước xuất khẩu sẽ bị đánh thuế đối kháng. Phần A Chương VII Luật thuế
quan 1930, bổ sung bằng Luật Hiệp định thương mại 1979, bổ sung bằng Luật
thuế quan và thương mại 1984, Luật về thương mại và cạnh tranh 1988 và Luật
về các hiệp định thương mại vòng đàm phán Uruguay nêu rõ: ngoài các loại
thuế, phí khác, thuế đối kháng sẽ được đánh tương đương với trị giá tịnh của
phần trợ cấp, nếu thoả mãn hai điều kiện: một là, Bộ Thương mại Mỹ cần phải
làm rõ là có trợ cấp đối kháng, trực tiếp hay gián tiếp, liên quan đến sản xuất,
xuất khẩu của nhóm/loại hàng nhập khẩu hoặc được bán vào Mỹ và phải xác
định trị giá của phần trợ cấp tịnh; hai là, Uỷ ban Thương mại quốc tế Mỹ (ITC)
phải xác định được là ngành công nghiệp Mỹ bị thiệt hại vật chất, hoặc có nguy
cơ bị thiệt hại vật chất, hoặc việc hình thành một ngành công nghiệp Mỹ bị đẩy
lùi, vì lý do nhập khẩu mặt hàng đó hoặc việc bán (hoặc tương tự như bán) hàng
đó vào Mỹ - gọi là việc kiểm tra thiệt hại.
Luật được áp dụng cho nhập khẩu từ các nước WTO là Hiệp định trợ cấp và
các biện pháp chống đối kháng. Theo hiệp định này, có 2 loại trợ cấp bị cấm hay
còn gọi là trợ cấp “đèn đỏ” là 1.trợ cấp dựa trên năng lực xuất khẩu, 2.trợ cấp

sợi khác không phải len (nếu lớn hơn 5%) và tổng số các sợi khác
không phải len.
 Tỷ lệ tối đa tổng trọng lượng len, các thành phần không phải sợi
(nonfibrous), các chất phụ khác.
 Tên nhà sản xuất hoặc tên người đưa sản phẩm vào lưu thông tại Mỹ
(nhà nhập khẩu).
Luật WPLA cũng yêu cầu xuất trình hoá đơn thương mại cho các lô hàng
nhập khẩu có trị giá trên 500 USD. Hoá đơn thương mại phải đầy đủ các thông
tin theo yêu cầu của luật này.
Quy chế về nhãn mác hàng dệt may yêu cầu các nhà sản xuất và nhà nhập
khẩu quần áo và một số sản phẩm dệt phải cung cấp những chỉ dẫn thông
thường về bảo quản sản phẩm tại thời điểm những sản phẩm đó được bán cho
người mua hay thông qua việc sử dụng các ký hiệu về bảo quản hay các cách
khác được mô tả trong quy định này.
Các mặt hàng phải tuân thủ luật này gồm: quần áo mặc để che hay bảo vệ
thân thể. Các mặt hàng được miễn trừ áp dụng quy định này gồm giày dép, găng
tay, mũ, khăn mùi xoa, thắt lưng, dây nịt tất, ca vát. Các loại quần áo không
thuộc loại dệt và được làm ra chỉ để dùng một lần thì không phải có chỉ dẫn sử
dụng thông thường.
Theo quy định của luật này các nhà sản xuất và nhập khẩu phải:
 Cung cấp đầy đủ những chỉ dẫn về bảo quản thông thường đối với quần
áo, hay cung cấp những cảnh báo nếu như quần áo có thể bị hỏng khi
giặt
 Đảm bảo những chỉ dẫn bảo quản, nếu được tuân thủ, sẽ không gây thiệt
hại đáng kể đối với sản phẩm
 Cảnh báo người tiêu dùng về một số quy trình mà họ cho rằng có thể
phù hợp với những chỉ dẫn trên nhãn nhưng vẫn có thể gây ảnh hưởng
đến sản phẩm. Ví dụ, một chiếc quần có thể bị hỏng khi là, và nhãn phải
ghi chữ “không được là”
 Đảm bảo rằng nhãn hướng dẫn sử dụng sẽ tồn tại rõ ràng trong suốt quá

lại nước xuất khẩu nếu chứng minh thoả đáng cho cơ quan Hải quan là hàng
không phải cố tình vi phạm. Các chủ sở hữu bản quyền muốn được cơ quan hải
quan Mỹ bảo vệ quyền lợi cần đăng ký khiếu nại bản quyền với Văn phòng bản
quyền và đăng ký với Hải quan theo quy định hiện hành
Nếu hàng hoá thuộc quyền sở hữu của người khác thì người không có quyền
đó không được nhập khẩu sản phẩm đó vào Mỹ.
- Tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm: Mức độ sử dụng các tiêu chuẩn do các tổ
chức tiêu chuẩn quốc tế ban hành ở Mỹ tương đối thấp, hoặc thậm chí các tiêu
chuẩn này không được biết đến ở Mỹ. Tất cả các bên của Hiệp định Rào cản kỹ
thuật đối với thương mại (TBT) đều cam kết sử dụng rộng rãi hơn các tiêu
chuẩn quốc tế nhưng mặc dù khá nhiều tiêu chuẩn của Mỹ được coi “tương
đương về mặt kỹ thuật” với các tiêu chuẩn quốc tế, và một số các tiêu chuẩn đó
thực tế đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, rất ít các tiêu chuẩn quốc tế được
áp dụng trực tiếp và một số tiêu chuẩn của Mỹ còn mâu thuẫn trực tiếp với các
tiêu chuẩn quốc tế. Các bang của Mỹ cũng có quy định khác nhau. Ở Mỹ có hơn
2.700 cơ quan chính quyền cấp bang và thành phố có quy định cụ thể về các
tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn đối với các sản phẩm được bán trong phạm vi địa
hạt của các cơ quan này. Những yêu cầu này thường là không đồng nhất hoặc
nhất quán với nhau. Sự không thống nhất này là một rào cản kỹ thuật lớn gây
cản trở thương mại đối với hàng nhập khẩu trong đó có dệt may.
- Mã số nhà sản xuất hàng dệt may (MID): Theo quy định của Cục Hải quan và
Bảo vệ biên giới Mỹ (CPB), kể từ ngày 05/10/2005, các nhà nhập khẩu hàng dệt
may Mỹ phải khai báo mã số của nhà sản xuất nước ngoài (Manufacturer
Identification Code viết tắt là MID). Mã MID là cơ sở để CPB xác định xuất xứ
hàng hoá và ngăn chặn hàng hoá khai sai xuất xứ nhập khẩu vào Mỹ.
Mã MID chỉ dành cho các nhà sản xuất chứ không dành cho các công ty kinh
doanh hoặc công ty bán hàng không phải là nhà sản xuất. Nếu nghi ngờ mã
MID không phải là của nhà sản xuất, Hải quan cảng có thể yêu cầu sửa đổi
thông tin sau khi hàng đã qua cửa khẩu. Lỗi lặp lại trong khai báo mã MID khi
nhập khẩu có thể dẫn đến tăng mức phát đối với công ty nhập khẩu hoặc công ty

Hồng Kông 3.817 3.959 3.606 2.892 2.123
Thái Lan 2.072 2.198 2.124 2.124 2.059
Philippines 2.040 1.938 1.921 2.085 1.794
Nguồn : OTEXA
Các nước xuất khẩu dệt may chính vào Hoa Kỳ là Trung Quốc, Mêhicô, Ấn
Độ, Hồng Kông, Canada, Inđônêsia, Honduras, Việt Nam, Pakistan, Campuchia,
Italia, Thái Lan, Philippines.
Năm 2005, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ lên tới 89,2 tỷ
USD. Phần lớn sự gia tăng nhập khẩu trong năm 2005 là do kết quả của việc
loại bỏ hạn ngạch nhập khẩu từ ngày 1/1/2005 đối với hàng dệt may từ 39 nước
là thành viên WTO. Trong khi đó, sản xuất nội địa giảm 0,5% đối với hàng dệt
và 3% đối với hàng may. Tăng nhập khẩu từ các nước châu Á, đặc biệt là Trung
Quốc là nguyên nhân chính làm tăng thâm hụt.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc vào Hoa Kỳ không
những lớn nhất mà còn có tốc độ tăng trưởng cao. Sau khi hạn ngạch nhập khẩu
hàng dệt may được xóa bỏ giữa các nước thành viên WTO, xuất khẩu dệt may
của Trung Quốc vào Hoa Kỳ đã tăng vọt. Năm 2005, Trung Quốc xuất vào Hoa
Kỳ xấp xỉ 22,5 tỷ USD, tăng 53,9 % so với năm 2004 và chiếm 25,11 % tổng
kim ngạch nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau khi Hoa Kỳ áp dụng
trở lại hạn ngạch đối với Trung Quốc từ tháng 5/2005 thì tốc độ tăng nhập khẩu
hàng dệt may từ nước này vào Hoa Kỳ đã chậm lại. Tiếp theo Trung Quốc, Ấn
Độ được đánh giá có khả năng cạnh tranh lớn thứ hai ở thị trường Hoa Kỳ. Năm
2005, Ấn Độ xuất khẩu vào Hoa Kỳ 5,2 tỷ USD, tăng 26,5 % so với năm 2004.
Sức mạnh cạnh tranh của Ấn Độ dựa vào lực lượng lao động nhiều, khá rẻ, lành
nghề; có khả năng thiết kế; là một trong những nước sản xuất sợi và vải lớn nhất
thế giới; có thể sản xuất rất nhiều loại quần áo khác nhau; được coi là nguồn
cung cấp cạnh tranh về các sản phẩm dệt sử dụng trong nhà như vải trải giường,
khăn tắm. Trong số các nước ASEAN, chỉ có Việt Nam và ở chừng mực thấp
hơn là Inđônêsia được đánh giá là có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc và
Ấn Độ. Mêhicô và Canada, hai quốc gia hầu như được miễn thuế hoàn toàn đối

những hàng được hưởng quy chế
WTO loại bỏ hạn ngạch trong năm
2002.
Vật tư: có thể sản xuất các loại
vải, đồ trang trí, bao bì, và hầu hết
các phụ kiện khác dùng để sản
xuất hàng dệt may và các sản
phẩm dệt khác.
Sản phẩm - Được các giới chuyên
ngành đánh giá là một nơi tốt nhất
về sản xuất quần áo, và các sản
phẩm dệt may khác với bất kỳ
chất lượng nào hay với bất cứ
mức giá nào. Là nước sản xuất và
xuất khẩu hàng dệt maylớn nhất
thế giới, mặc dù phải chịu hạn
ngạch rất chặt chẽ ở các nước
nhập khẩu chính của thế giới.
Ấn Độ
Có thể vẫn là một nguồn cung cấp
cạnh tranh cho Hoa Kỳ khi hạn ngạch
được loại bỏ vào năm 2005. Được các
công ty Hoa Kỳ coi là một nguồn thay
thế chủ yếu cho nguồn từ Trung Quốc.
Về lâu dài, khả năng cạnh tranh có thể
giảm do tăng trưởng kinh tế mạnh sẽ
dẫn đến tăng nhu cầu nội địacung như
tăng chi phí lao động và vốn để sản
xuất các hàng này.
Lao động- lực lượng lao động

bỏ hạn ngạch.
Vận tải- Thời gian giao hàng tới
bờ tây Hoa Kỳ khoảng 45 ngày so
với 12 đến 18 ngày từ Trung
Quốc.
Mehico
Tỷ trọng trong tổng nhập khẩu của
Hoa Kỳ có thể giảm hơn nữa, mặc dù
có những ưu đãi của NAFTA. Có thể
vẫn là một nguồn cung cấp ngách
Lao động - Chi phí lao động khá
cao; chất lượng sản phẩm và tính
tin cậy của sản xuất có vấn đề;
Cấp quản lý bậc trung chịu trách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status