ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ ANH XN
¸P DơNG PHáP LUậT
TRONG XéT Xử SƠ THẩM NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN PH¹M TéI QUA THùC TIƠN TØNH THANH HãA
Chun ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Anh Xuân
1.3.
Các điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ
thẩm đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội của Tòa án
nhân dân............................................................................................. 46
1.3.1. Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm người chưa
thành niên phạm tội ............................................................................. 46
1.3.2. Các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối
với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ................. 47
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ
SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH THANH HOÁ ............... 57
2.1.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá .............. 57
2.1.1. Về đặc điểm tự nhiên .......................................................................... 57
2.1.2. Về phát triển kinh tế - xã hội .............................................................. 57
2.2.
Tình hình ngƣời chƣa thành niên phạm tội ở tỉnh Thanh Hoá .... 58
2.3.
Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với
ngƣời chƣa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh
Thanh Hoá ......................................................................................... 65
KÕT LUËN .................................................................................................. 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 111
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADPL:
Áp dụng pháp luật
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
HĐXX:
Hội đồng xét xử
NCTT:
Người chưa thành niên
QPPL:
Quy phạm pháp luật
TAND:
Thống kê vụ án do người chưa thành niên phạm tội được
đưa ra xét xử từ năm 2009 - 2013
61
MỞ ĐẦU
1. TÝnh cÊp thiÕt cña đề tài
Thanh thiế u niên là nguồ n nhân lực tương lai của đấ t nước , có vai trị
quan tro ̣ng, xung kích trong công cuô ̣c xây dựng và bảo vê ̣ Tổ quố c . Vấ n đề
chăm sóc , giáo dục thế hệ trẻ và phòng ngừa , ngăn chă ̣n ng ười chưa thành
niên pha ̣m tô ̣i là mô ̣t viê ̣c làm không chỉ có ở Viê ̣t Nam mà tấ t cả các quốc gia
trên thế giới cũng đă ̣c biê ̣t quan tâm, nghiên cứu và thực hiê ̣n. Bởi thế hê ̣ trẻ là
tương lai của đấ t n ước, là lớp ngư ời kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quố c vì mô ̣t ngày mai tươi sáng, "Trẻ em hơm nay, thế giới ngày mai". Vì vậy,
viê ̣c bảo vê ̣, chăm sóc và giáo du ̣c thế hê ̣ trẻ là một trong những mối quan tâm
hàng đầu , là vấn đề chiến lược của Đảng và Nhà nước ta
; Chủ tịch Hồ Chí
Minh kin
́ h yêu của chúng ta đã căn dă ̣n : "Bồ i dưỡng thế hê ̣ cách mạng cho đời
sau là viê ̣c làm rấ t quan trọng và cầ n thiết" [13].
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng thực tế, tồn tại trong
tất cả các xã hội. Trong những năm qua và nhất là thời điểm hiện nay, tình
trạng người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp.
Việc giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội là việc làm cần thiết
để giữ nghiêm ổn định chính trị và trật tự an tồn xã hội, nhưng cũng là một
vấn đề phức tạp và tế nhị. Tội phạm do người chưa thành niên gây ra đang là
cứu lý luận và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
trong việc giải quyết các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, chúng tôi
thấy, những người tiến hành tố tụng không những phải nắm vững các quy
định của pháp luật, tuân thủ chặt chẽ các thủ tục tố tụng đặc biệt này mà cịn
phải có kiến thức nhất định về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi chưa thành
niên để phục vụ cho công tác xét xử đạt chất lượng cao.
Thanh Hố là một tỉnh dun hải Bắc miỊn trung có diện tích đất tự
nhiên lớn, điều kiện địa lý có cả đồng bằng, miền núi và trung du, là một
2
trong những tỉnh có số lượng dân cư lớn. Trong những năm vừa qua hịa
chung cơng cuộc đổi mới hội nhập phát triển của cả nước, tình hình kinh tếxã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hố đã có những bước phát triển tích cực,
nhiều khu kinh tế, khu cơng nghiệp được hình thành. Khu vực kinh tế vừa và
nhỏ phát triển mạnh, tốc độ đơ thị hóa diễn ra nhanh, diện mạo xã hội có
nhiều thay đổi kể cả nông thôn và thành thị. Tuy nhiên mặt trái của nền kinh
tế thị trường đã nảy sinh nhiều hành vi phạm tội mới, trong đó tội phạm do
người chưa thành niên phạm tội gây ra có những diễn biến hết sức phức tạp,
những hành vi trên không chỉ diễn ra ở thành thị mà nó đã lan rộng ra địa bàn
vùng sâu vùng xa. Số lượng người chưa thành niên phạm tội năm sau cao hơn
năm trước, tính chất mức độ hành vi phạm tội ngày càng nghiêm trọng hơn.
Bên cạnh đó hoạt động xét xử đối với các tội phạm do người chưa thành niên
gây ra còn bộc lộ những bất cập, hạn chế. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc
một số vụ án bị tòa án cấp trên sửa hoặc hủy, quyền của người chưa thành
niên phạm tội có lúc, có nơi chưa được tơn trọng và bảo vệ, tác dụng giáo
dục, phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra bị hạn chế.
Thời gian qua đã có nhiều cơng trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề
áp dụng pháp luật của tòa án nhân dân, áp dụng pháp luật trong xét xử hình
sự, nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội,
dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật của tòa án nhân dân trong xét
xử hình sự và áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội:
+ GS.TSKH Đào Trí Úc trong “Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp
luật” đã đi sâu phân tích về áp dụng pháp luật và hoạt động xét xử của tòa
án nhân dân.
+ Luận án tiến sỹ Luật học của Lê Xuân Thân về “Áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, 2004.
+ Luận văn thạc sỹ Luật học của Vũ Thị Thu Quyên về “Hoàn thiện
pháp luật bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
hiện nay”, 2003.
4
+ Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật: “Cải cách tư pháp ở Việt Nam
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước Pháp quyền” do TSKH Lê Cảm và TS
Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên.
-
Một số các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả:
+ Đỗ Thị Phượng: Sự cần thiết phải thành lập Tòa án Người chưa
thành niên ở Việt Nam; Tạp chí Tịa án nhân dân số 21,22-11/2009.
+ Cao Thị Oanh: Hoàn thiện những quy định về trách nhiệm hình sự
của người chưa thành niên phạm tội; Tạp chí Luật học số 10/2007.
+ Nguyễn Tất Viễn: “Tòa án người chưa thành niên”, Tạp chí Vì trẻ
thơ, số chun đề, năm 2000.
+ Lê Cảm: “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình
sự", Tạp chí Kiểm sát số 2/2004.
+ Đặng Thanh Nga: “Khía cạnh tâm lý của tội phạm vị thành niên cần
được chú ý trong điều tra truy tố và xét xử”, Tạp chí Tâm lý học số 5/2002.
Về mục đích:
Mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ
thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội; Đánh giá thực trạng và đề xuất
các giải pháp nhằm đảm bảo ADPL đúng đắn trong xét xử sơ thẩm người
chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thanh Hoá trong giai
đoạn hiện nay.
Về nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử người chưa thành niên phạm tội của tòa án nhân dân ở
tỉnh Thanh Hoá như xây dựng khái niệm, nêu lên các đặc điểm và làm rõ quy
trình ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế về ADPL trong hoạt động xét
xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội của tòa án nhân dân.
- Nêu lên những quan điểm và đề xuất những giải pháp có tính khả thi
đảm bảo ADPL trong hoạt động xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm
tội của tịa án nhân dân ở tỉnh Thanh Hố trong giai đoạn hiện nay.
6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật: các
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường pháp chế trong đấu tranh
phòng chống tội phạm, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Nhất là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư
pháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
Triết học Mác-Lênin, kết hợp các phương pháp: thực tiễn, tổng hợp, thống kê,
so sánh, phân tích.
6. Ý nghĩa của luận văn
em năm 1990 thì "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật
pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [15, Điều 1].
Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên
Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc
Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.12.1992 cũng
là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm "người
chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" như là một sự kế thừa của Công ước
về Quyền trẻ em. Quy tắc Riát về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa
thành niên được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.12.1990 mặc dù không
đưa ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa thành niên, song thông qua
các quy định cũng giúp chúng ta hiểu người chưa thành niên là người dưới
18 tuổi. Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái
niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc
8
đưa ra khái niệm này thì Cơng ước về Quyền trẻ em vẫn còn những điều
khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên,
thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định
không thống nhất về vấn đề này.
Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong
quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng
như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái
niệm về người chưa thành niên, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng
ngành luật, như sau: Điều 18 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: "Người từ đủ
mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là
người chưa thành niên" [23] và Bộ luật lao động Việt Nam cũng quy định:
"Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" [25]. Như vậy, có thể
thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định bị cáo là người đã
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, như vậy, căn cứ vào quy định này và quy
định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu
trên, thì có thể hiểu bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Từ phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về người chưa thành niên
phạm tội như sau:
Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18
tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội
phạm bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Việc xác định tuổi của bị cáo là người chưa thành niên rất quan trọng vì
đây là căn cứ ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo nhằm
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên. Việc xác định
tuổi của bị cáo còn giúp Cơ quan tiến hành tố tụng xác định được việc xét xử
và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên.
10
1.1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với
người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân
Như đã nêu trên, người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi mà
khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị
hạn chế và nhiều khi do bị tác động mạnh của điều kiện bên ngồi. Chính
sách hình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên chủ yếu là nhằm
giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm để phát triển lành mạnh, trở thành cơng
dân có ích cho xã hội.
Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng ln ln coi trẻ em
là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày
mà ngay cả khi quyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối
Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án và Tòa án
là cơ quan duy nhất được đảm nhiệm chức năng xét xử theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện nay. Hiến pháp năm 1946 tuy qui định tổ chức Tòa
án còn chưa mang tính độc lập hồn tồn vì các Thẩm phán do Chính phủ bổ
nhiệm (Điều 64), nhưng theo tinh thần của Hiến pháp, có thể hiểu Tịa án là
cơ quan xét xử. Các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đã qui định rõ về chức
năng xét xử của Tòa án. Hiến pháp 1992 qui định: “Tòa án nhân dân tối cao,
các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do
luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” [19, Điều 127]. Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức TAND qui định về
thẩm quyền xét xử của Tòa án tại Điều 1, đồng thời qui định cụ thể về chức
năng xét xử của Tòa án: “Tịa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hơn
nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác
theo qui định của pháp luật” [21, Điều 1]. Xét xử những vụ án hình sự là một
chức năng quan trọng của Tịa án, thơng qua đó Tịa án thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ pháp chế XHCN và các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
Hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tịa án là một khâu trong quá trình
12
giải quyết vụ án hình sự bao gồm điều tra, truy tố, xét xử. Hoạt động xét xử
vụ án hình sự của Tòa án là một giai đoạn tố tụng độc lập, những phán quyết
của Tịa án ngồi việc dựa trên những chứng cứ tài liệu được Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát thu thập trước đó cịn phải dựa vào kết quả điều tra cơng
khai tại phiên tịa. Hiện nay, những yêu cầu về đảm bảo tính khách quan, cơng
bằng, đúng pháp luật trong các phán quyết của Tịa án bảo vệ được các quyền
lợi ích hợp pháp của cơng dân, tổ chức ngày càng được đề cao thì việc tổ chức
thực hiện các phiên tòa xét xử vụ án hình sự thật dân chủ, khách quan là một
địi hỏi bức xúc. Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động xét xử nói chung, hoạt động
nghị trong thời hạn luật định thì có hiệu lực thi hành. Xét xử sơ thẩm hình sự
của Tịa án là một giai đoạn độc lập trong TTHS. Trong giai đoạn này, hoạt
động của Tịa án đóng vai trị chính và là trọng tâm. Hoạt động xét xử hình sự
nói chung, xét xử sơ thẩm hình sự nói riêng có những đặc điểm riêng khác với
giai đoạn điều tra, truy tố trong quá trình giải quyết vụ án hình sự:
Thứ nhất, hoạt động xét xử hình sự của Tịa án là hoạt động nhân danh
quyền lực nhà nước, Tòa án với tư cách là cơ quan thực hiện quyền lực tư
pháp và là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tòa án nhân danh nhà nước đưa ra những phán quyết về trách nhiệm hình sự
mà người phạm tội gây ra và hình phạt trong hoạt động xét xử hình sự.
Thứ hai, hoạt động xét xử hình sự của Tịa án là hoạt động mang tính
cơng khai, dân chủ trên cơ sở pháp luật, nó được biểu hiện tập trung ở phiên
tịa hình sự và là một nguyên tắc trong hoạt động xét xử của Tòa án được
BLTTHS qui định.
Thứ ba, hoạt động xét xử hình sự là hoạt động nhằm xác định sự thật
khách quan về tội phạm, người thực hiện tội phạm, quyết định trách nhiệm
hình sự và hình phạt; biện pháp tư pháp đối với người đó.
Theo qui định của pháp luật hình sự ở một số nước, việc xét xử người
chưa thành niên phạm tội được tiến hành bởi các Tòa án chuyên biệt. Pháp
14
luật hình sự Việt Nam lại khơng qui định một mơ hình tịa án riêng để xét xử
về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội mà qui định việc xét xử
người chưa thành niên phạm tội trong hệ thống cơ quan tòa án thống nhất, bao
gồm cả việc xét xử người đã thành niên phạm tội. Theo Điều 131 Hiến pháp
1992; Điều 17 BLTTHS năm 2003 và Điều 6 Luật Tổ chức tòa án nhân dân
năm 2002 đều ghi nhận nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo
đa số; theo qui định tại Điều 185 BLTTHS năm 2003, Hội đồng xét xử sơ
Mặt khác, pháp luật Tố tụng hình sự qui định phiên tịa xét xử NCTN
phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo (trừ trường hợp gia đình cố ý vắng
mặt mà khơng có lý do chính đáng), đại diện của nhà trường, tổ chức.
Hoạt động xác định sự thật khách quan về tội phạm và người thực hiện
tội phạm trong xét xử người chưa thành niên phạm tội cũng như việc xác định
tổng hợp các yếu tố cấu thành tội phạm là: khách thể, mặt khách quan, chủ
thể, mặt chủ quan của tội phạm thì phải chú trọng đến: tuổi, trình độ phát triển
về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN;
điều kiện sinh hoạt và giáo dục; có hay khơng có người thành niên xúi giục;
nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Các qui định trên thể hiện quan điểm coi trọng việc xử lý NCTN phạm
tội trong hoạt động xét xử của tịa án, nó địi hỏi phải xem xét đầy đủ các khía
cạnh liên quan đến NCTN để từ đó áp dụng biện pháp xử lý đúng đắn, có hiệu
quả trong giáo dục cải tạo NCTN phạm tội, đồng thời có ý nghĩa trong phịng
ngừa tội phạm.
ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật, ADPL trong xét xử sơ thẩm
NCTN phạm tội là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung. Đây là trường
hợp chủ thể bị ADPL là những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới
18 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật mà hành vi đó bị coi là tội phạm được qui
định trong BLHS. Nhà nước thơng qua Tịa án bằng hoạt động xét xử quyết
định về trách nhiệm hình sự và những chế tài hình sự đối với NCTN phạm tội
16
trong phiên tịa sơ thẩm. Có thể nói, ADPL là nội dung của hoạt động xét xử vụ
án hình sự nói chung, ADPL trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội nói riêng,
những hành vi tố tụng trong xét xử của HĐXX là hình thức biểu hiện của nội
dung ADPL. ADPL trong xét xử NCTN phạm tội ngoài việc đảm bảo những
nguyên tắc chung về ADPL trong xét xử hình sự của Tòa án còn phải tuân thủ
Xét xử sơ thẩm tại phiên tòa là trọng tâm của cả giai đoạn xét xử sơ
thẩm. Tại đây HĐXX nhân danh Nhà nước tổ chức cho những người tiến hành
tố tụng (trong đó có HĐXX) và người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và
nghĩa vụ pháp lý theo qui định của pháp luật, nhằm thẩm tra đánh giá toàn bộ
các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tịa;
xem xét các lý lẽ cơ sở buộc tội và gỡ tội của các bên đưa ra để từ đó HĐXX
đưa ra những phán quyết là văn bản áp dụng pháp luật. Trong xét xử sơ thẩm
tại phiên tòa, HĐXX quyết định về việc thay đổi thành viên của HĐXX, Kiểm
sát viên, Thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án
yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án về việc bắt giam
hoặc trả tự do cho bị cáo… Đặc biệt, thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa,
Tòa án ra bản án là văn bản áp dụng pháp luật, quyết định bị cáo có phạm tội
hay khơng phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác.
Nghiên cứu về ADPL trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung,
xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội nói riêng chủ yếu là nghiên
cứu việc ADPL thông qua hoạt động của tòa án, HĐXX (thẩm phán, hội
thẩm) bằng các quyết định, bản án kể từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án
đến khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ
thẩm đối với NCTN phạm tội của Tòa án nhân dân là một hoạt động mang
tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước. Trong đó lần đầu tiên Tòa án nhân
danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và các quy
định khác của pháp luật để đưa vụ án ra xét xử và ban hành một bản án, một
18