ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THANH HƯNG
CHøC N¡NG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk N«ng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THANH HƯNG
CHøC N¡NG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk N«ng)
Chun ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2015
1.1.1. Khái niệm quyền công tố ..................................................................... 7
1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố .................................................. 11
1.2.
Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố ............................. 14
1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố ...................................................... 14
1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố .................................................... 19
1.3.
Chức năng công tố trong một số mơ hình tố tụng hình sự tiêu
biểu trên thế giới ............................................................................... 27
1.3.1. Thực hành quyền công tố trong mơ hình tố tụng tranh tụng ............. 28
1.3.2. Thực hành quyền cơng tố trong mơ hình tố tụng thẩm vấn ............... 32
Chương 2: CHỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .......... 34
2.1.
Chức năng thực hành quyền công tố theo qui định của pháp
luật tố tụng hình sự việt nam giai đoạn từ 1945 đến trước 2003..... 34
2.1.1. Chức năng Thực hành quyền cơng tố theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đến trước năm 1960 .................... 34
2.1.2. Chức năng thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1960 đến trước năm 2003 ............ 35
2.2.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQTHTT:
Cơ quan tiến hành tố tụng
NQ:
Nghị Quyết
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKSNDND:
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDNDTC:
Viện kiểm sát nhân dân tối
suốt q trình tố tụng nhằm bảo đảm khơng bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao chất lượng công
tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với Luật sư,
người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… [11].
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW “Về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020”, trong đó có nội dung: “Hồn thiện pháp
luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện
tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới
chuyển thành Viện cơng tố” [12].
Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục
ghi nhận các nội dung: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
hoàn thiện hệ thống pháp luật; xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch,
vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh; đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm;
thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra…
Trong những năm vừa qua, quá trình thực hiện đã đạt được những
thành tựu đáng khích lệ trong việc trừng trị tội phạm, bảo vệ quyền tự do dân
chủ của công dân. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, Nghị quyết 49/NQ-TW
ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã chỉ ra:
Cơng tác tư pháp cịn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình
sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tổ chức tố tụng tư
pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ
máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư
pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp cịn
thiếu; trình độ nghiệp vụ bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ
cịn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và
3
lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam
từ năm 1945 đến nay”, Hà Nội, 1999…
Một số luận văn thạc sĩ luật học đã được công bố tại Khoa luật – Đại
học quốc gia Hà Nội: “Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc
vận dụng vào điều kiện Việt Nam” của tác giả Lý Văn Chính (năm 2004);
“Quan hệ giữa CQĐT và Viện kiểm sát trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự
theo BLTTHS năm 2003” của tác giả Lang Văn Bảo (năm 2005); “Tranh tụng
tại phiên tòa một số vấn đề lý luận và thực tiễn” cuả tác giả Nguyễn Mạnh
Tiến (năm 2005); “Phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết
định của CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Đào Thị Diệp (năm 2008).
Những luận văn, đề tài, cơng trình nghiên cứu trên về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, đồng thời đề cập đến các vấn đề
liên quan đến quyền công tố. Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực đến nay
chưa có cơng trình nghiên cứu nào đề cập toàn diện, đầy đủ về chức năng
cơng tố của Viện kiểm sát nhân dân; ngồi ra việc thực hiện các quy định về
chức năng công tố có những nơi, địa bàn cịn có nhận thức, áp dụng chưa
thống nhất. Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu về chức năng công tố của
Viện kiểm sát nhân dân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu chức năng để làm rõ vai trò của Viện kiểm sát
nhân dân trong thực hiện chức năng công tố cả về mặt lý luận và thực tiễn. Từ
đó làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chức năng công tố, đồng thời xác
định thực trạng thực hiện chức năng, tìm ngun nhân, trên cơ sở đó đề xuất
như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê; nghiên cứu hồ sơ vụ án,
báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
5
Ngồi ra, tác giả cũng tiếp thu có chọn lọc kết quả của của các cơng trình đã
cơng bố; các đánh giá, tổng kết của cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về
những vấn đề có liên quan đến tổ chức và hoạt động của VKSNDND.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học
góp phần xây dựng một cái nhìn tồn diện về chức năng công tố của VKSND,
đồng thời thấy được trách nhiệm cũng như vai trò của VKSND trong cơng
cuộc đấu tranh phịng chống tội phạm hiện nay.
Về thực tiễn: Luận văn sẽ là tài liệu có giá trị, có thể dùng làm tài liệu
tham khảo, nghiên cứu, học tập trong các cơ sở đào tạo, trong hoạt động
nghiệp vụ của Kiểm sát viên và lãnh đạo VKSND. Những đề xuất, kiến nghị
của luận văn sẽ cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ
sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tổ chức, hoạt động trong
cơ quan VKSND.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, các đề mục với cơ cấu như sau:
Chương 1: Lý luận về chức năng thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát.
Chương 2: Chức năng thực hành quyền công tố trong pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân
dân ở Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả.
7
hành pháp, cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì cơng tố mới xuất
hiện. Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố là quyền đại
diện cho nhà nước, đại diện công quyền để đưa các vụ việc vi phạm trật tự
pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử (ra Tịa án), do đó quyền công tố không
thể xuất hiện cùng với nhà nước mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của
Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập [39, tr. 13].
Không đồng ý với các quan điểm nêu trên, quan điểm cho rằng, quyền
công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước và xuất
hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại
trong tất cả các kiểu nhà nước, từ nhà nước chủ nô đến các nhà nước đại
diện [39, tr. 14]. Quan điểm này là khá cởi mở và coi quyền cơng tố như một
đặc tính vốn có của nhà nước như dân cư, lãnh thổ...Trong các nghiên cứu ở
nước ta hiên nay, đa phần ủng hộ quan điểm này,và cho rằng: Quyền công tố
luôn luôn gắn liền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và
không thể tách rời của công quyền. Với quan điểm coi quyền công tố là quyền
nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện việc buộc tội đối với
những người đã thực hiện hành vi phạm tội (theo quan điểm của giai cấp
thống trị xã hội), chúng tôi cho rằng khi nhà nước xuất hiện thì cùng đồng
thời xuất hiện quyền công tố. Nhà nước nào cùng ban hành pháp luật để quản
lý xã hội (nói chính xác hơn là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ cho các
quan hệ xã hội được thực hiện theo ý muốn, theo khuôn mẫu tư tưởng của
giới thống trị xã hội). Đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất
hiện và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng (mang tính giai cấp) khơng thể
điều hịa được. Điều đó có nghĩa là trong bất kỳ một xã hội nào (khi đã xuất
hiện nhà nước), bên cạnh lực lượng thống trị xã hội luôn luôn tồn tại một
(hoặc nhiều) lực lượng (bị thống trị) có thái độ, có hành động thù địch chống
lại lực lượng thống trị xã hội (nắm quyền lực nhà nước), biểu hiện cụ thể ở
tự cơng cộng, an ninh xã hội...) cũng bị xâm hại hoặc bị đe dọa. Bởi vậy, cần
9
thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ lợi ích cá nhân khi chúng bị
xâm phạm. Chính vì lẽ đó, vai trị của cơng tố ngày càng được đề cao, trong
khi vai trò của tư tố ngày càng mờ nhạt dần trong hoạt động tố tụng hình sự.
Quyền cơng tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật
hình sự, trong đó quy định cụ thể các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội
phạm. Bất kỳ giai cấp thống trị nào khi lên nắm quyền lực nhà nước đều hết
sức quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự, bởi chính pháp luật hình sự là
phương tiện cai trị hữu hiệu nhất. Khi một hành vi bị coi là tội phạm được
thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà
nước và bên kia là người phạm tội. Trong quan hệ này nhà nước là chủ thể sử
dụng quyền lực nhà nước (quyền lực công) để thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, còn người phạm
tội là chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và gánh chịu các chế tài do pháp
luật hình sự quy định và áp dụng. Quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hình sự
gắn liền với sự buộc tội nhân danh nhà nước (nhân danh cơng quyền) và chỉ
phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra. Sự buộc tội nhân danh cơng quyền
đó được gọi là quyền cơng tố.
Từ những phân tích trên, chúng tôi chia sẻ quan điểm cho rằng: “quyền
công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước. Nó xuất
hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, tồn tại khi có nhà nước và
mất đi khi khơng cịn nhà nước” [39, tr.17]. Đồng thời, đồng ý với quan điểm
của TS. Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa về quyền công tố:
Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này
thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện
và cải tạo, kiểm sát thi hành án. Các cơng trình này vận dụng những ngun
lý của V.I Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của VKSND, về vai
trò và bộ phận của ủy viên công tố làm cơ sở lý luận và lấy các quy định của
11
Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến nay làm
cơ sở pháp lý. Bởi vậy trong nhận thức của khơng ít những người làm cơng
tác nghiên cứu và thực tiễn cũng như ngồi ngành kiểm sát đã nhầm lẫn
quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương diện như đối
tượng, nội dung, phạm vi. Đồng thời các cơng trình này ln gắn quyền
cơng tố chỉ với VKSND, coi đó là quyền của VKSND. Do đó đã khơng lý
giải được một số vấn đề là khi một số cơ quan khác (CQĐT, Tòa án...) sử
dụng một số biện pháp như khởi tố vụ án, khởi tố bị can... thì có phải các cơ
quan này cũng thực hành quyền công tố hay không.
Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực
công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đây
là quyền của nhà nước, gắn liền với bản chất của từng kiểu nhà nước và chỉ có
trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Phạm vi của quyền cơng tố bắt đầu từ khi tội
phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, khơng bị kháng
nghị. Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh phịng, chống tội
phạm thì nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định
các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền cơng tố. Các quyền năng đó
được giao cho các cơ quan nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì cơ quan ấy gọi là cơ quan có
trách nhiệm thực hành quyền cơng tố.
Để thực hiện quyền lực nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể thì nhà nước
tổ chức ra một hệ thống cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó. Hệ thống
CQĐT khắc phục và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong hoạt động
điều tra, kiến nghị với các cơ quan, tổ chức liên quan xử lý hành vi vi phạm
pháp luật. d.Khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét cần thiết
phải xử lý người phạm tội trước pháp luật VKSND quyết định truy tố bị can
ra Tòa. Tại phiên tòa, VKSND có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội
13
bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Bản án kết tội của Tịa án chính là việc
chấp nhận lời buộc tội của VKSND đối với người phạm tội.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền cơng
tố trong tố tụng hình sự như sau:
Thực hành quyền cơng tố trong tố tụng hình sự là việc cơ quan
công tố/ Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người
phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó; đảm bảo
mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt
người phạm tội và tội phạm, không làm oan người vô tội [38].
1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố
1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố
Phạm vi thực hành quyền công tố là vấn đề gây nhiều bàn luận trong
giới nghiên cứu vì vậy, khi xem xét cần phải phân biệt cụ thể, đầy đủ chính
xác giữa phạm vi của quyền cơng tố với phạm vi thực hành quyền công tố.
Xét về mặt ngun tắc thì quyền cơng tố và thực hành quyền cơng tố đồng
nhất về phạm vi, tức là nó có từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi bản án của
Tịa án có hiệu lực pháp luật. Mục đích của tố tụng hình sự địi hỏi mọi tội
phạm xảy ra đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý theo pháp luật. Do đó,
về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xảy ra là địi hỏi quyền cơng tố phải được
làm rõ tội phạm, truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước tòa án và bảo vệ
cáo trạng của cơ quan cơng tố tại phiên tịa. Tuy nhiên, ở nước ta vẫn tồn tại rất
nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi, đối tượng và nội dung quyền công tố:
Thứ nhất, đồng nhất hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước khi Hiến pháp năm
1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001). Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố, ngay cả
15
khi VKSND kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm
pháp luật của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (một thời chúng
ta gọi là kiểm sát chung) cũng là thực hành quyền công tố. Công tố không phải
là một chức năng độc lập của VKSND, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [44, tr.85-87]. Thứ hai,
quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật
tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ trật tự
pháp luật. Quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể
hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của
xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự,
tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp
khác. Theo quan điểm này, trong khoa học pháp lýXHCN, khái niệm quyền
công tố được xác định trên cơ sở các khái niệm công tố nhà nước, công tố xã
hội và tư tố. Do đó, quyền cơng tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng
theo luật định mà VKSND có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư
pháp, là một nội dung hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh
vực tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm bảo đảm
mọi hành vi vi pháp pháp luật, hành vi phạm tội đều được phát hiện, điều tra,
xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng
sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao
gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự. Và,
quyền cơng tố là quyền của nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [18, tr.82-88].
Theo quan điểm này, quyền cơng tố có trong các hoạt động tố tụng khác nhau
và không giống nhau về nội dung cũng như hình thức thực hiện. Thứ sáu,
quyền công tố là quyền của nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan
đến lợi ích chung ra Tịa án xét xử, vì nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự
chung bằng pháp luật. Sự can thiệp của nhà nước vào các việc phạm pháp nói
trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng. Theo
17
quan điểm này, quyền công tố là quyền lực công, quyền đó thuộc nhà nước
được bắt đầu từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật để bảo vệ lợi
ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan. Quyền cơng tố là
quyền lực cơng, địi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một
cách cơng khai bằng con đường Tịa án. Vì thế quyền cơng tố thường gắn với
quyền tài phán của Tòa án [17, tr.138-140].
Những quan điểm khác nhau về phạm vi thực hành quyền công tố trên
đây đều có những hạt nhân hợp lý, nhưng xuất phát từ căn cứ khoa học, các
quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như
kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan
điểm trên đã bộc lộ một số bất cập sau: Thứ nhất, hoặc là đánh đồng quyền
công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, dẫn đến
tình trạng mở rộng phạm vi thực hành quyền cơng tố vượt khỏi lĩnh vực tố
tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, lao động, hành
chính, kinh tế; Thứ hai, hoặc là coi quyền cơng tố là một quyền năng, một
hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt
của hoạt động thực hành quyền công tố được hiểu là việc sử dụng tất cả
những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm
minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, khơng làm oan người
vơ tội. Theo đó nội dung quyền công tố bao gồm:
1.2.2.1. Những hoạt động phát động quyền cơng tố: khởi tố vụ án, khởi
tố bị can
Khi có tội phạm xảy ra, để có thể truy cứu TNHS đối với người phạm
tội cần phải phát động quyền công tố đối với sự việc phạm tội và đối với
người thực hiện tội phạm bằng các quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can
của cơ quan công tố hoặc cơ quan khác theo qui định của pháp luật.
Khởi tố vụ án: là việc nhà nước chính thức cơng khai trước tồn xã hội
có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy
19