ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ MAI
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Cơng trình được hồn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Đức Chính
Phản biện 1:
.............................................................................................................................................................
.............................................................................................................................................................
.............................................................................................................................................................
.............................................................................................................................................................
.............................................................................................................................................................
.............................................................................................................................................................
Phản biện 2:
.............................................................................................................................................................
1.3.1.
1.3.2.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
1.4.3.
1.4.4.
1.4.5.
1.4.6.
2.1.
2.1.1.
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Khái niệm và đặc điểm nhà nước pháp quyền
Khái niệm
Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Khái niệm
Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một tất yếu, bắt nguồn từ
chính lịch sử xây dựng và phát triển nước ta
Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Hệ thống pháp luật, vai trò và vị trí của hệ thống pháp luật
trong nhà nước pháp quyền
Khái niệm hệ thống pháp luật
Vị trí, vai trị của hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp quyền
Những yêu cầu cơ bản của hệ thống pháp luật trong quá trình
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
u cầu về tính tồn diện của hệ thống pháp luật
38
2.1.2.
2.1.3.
2.1.4.
2.1.5.
2.1.6.
2.1.7.
2.1.8.
2.1.9.
2.1.10
2.1.11
2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.2.1.
2.3.2.
2.
2.3.3.
2.3.4.
2.3.5.
Ngành Luật Hành chính
Ngành Luật Tài chính
Ngành Luật Đất đai
Ngành Luật Dân sự
Ngành Luật lao động
Ngành Luật hôn nhân và gia đình
48
49
62
63
68
72
78
THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1.
3.1.1.
3.1.2.
3.2.
3.2.1.
3.2.1.
1.
Một số dự báo tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến yêu
cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật giai đoạn 2011 - 2020
Tình hình thế giới
Tình hình trong nước
Một số định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền
trong giai đoạn hiện nay
Định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng
u cầu tính tồn diện, tính đồng bộ và thống nhất, tính phù
hợp của pháp luật
Tiếp tục triển khai mạnh mẽ và thường xuyên công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường năng lực tiếp
cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật
Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật; đẩy mạnh
công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và áp dụng pháp
luật, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật
Củng cố các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác để hỗ trợ
cho pháp luật
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
103
103
106
108
110
112
115
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Về mặt lý luận:
Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
được Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX khẳng định:
Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
Trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hệ thống pháp luật của chúng ta
vẫn chỉ từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống pháp luật cịn nhiều bất cập, hạn chế trong
cơng tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trong hoạt động
kiểm tra, giám sát, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; trong
cơng tác tổ chức và thực hiện pháp luật cũng như trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của cán bộ làm công tác ban hành văn bản pháp luật cịn hạn chế. Vì vậy,
chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật nói chung trong q trình điều
tiết xã hội chưa cao. Mặt khác, nước ta đang từng bước hoàn thiện xây dựng
mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt ra yêu cầu phải
hoàn thiện hệ thống pháp luật là một tất yếu khách quan.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài:
"Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nhiều năm qua, tư tưởng nhà nước pháp quyền, về xây dựng
nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam nói riêng có nhiều tài liệu, cơng trình nghiên cứu, nổi bật như:
- "Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới" của
tác giả Đào Trí Úc, NXB Khoa học xã hội - năm 1997;
2
- "Mơ hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời kỳ cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", đề tài khoa học cấp Nhà nước do Viện
Nhà nước và Pháp luật chủ trì nghiên cứu (2001 - 2005);
- "Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và
lơgíc, hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội...
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần hồn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng
yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm
công tác nghiên cứu, giảng dạy về công tác pháp luật và các cán bộ thực tiễn
đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật...
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận
Chương 2: Thực tiễn hệ thống pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam hiện nay.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
1.1.1. Khái niệm
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành từ rất sớm, nhưng
nhà nước pháp quyền với tư cách là học thuyết chính trị và triết học thì chỉ
xuất hiện ở Tây âu vào thế kỷ XVII - XVIII. Vậy nhà nước pháp quyền là gì?
Có thể khái niệm về nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước pháp
quyền không phải là một kiểu nhà nước, đó chỉ là những giá trị phổ biến, là
của con người càng nhiều càng tốt, công dân có quyền được làm tất cả những
gì mà pháp luật khơng cấm và pháp luật chỉ nên cấm những gì thật cần thiết
để bảo đảm quyền tự do cho nhân dân. Đối với các cơ quan nhà nước, pháp
luật phải quy định chặt chẽ, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn để tránh
sự tùy tiện, lạm quyền. Pháp luật do nhà nước ban hành, nhưng ln giữ vai
trị thống trị đối với chính nhà nước; các cơ quan, cơng chức nhà nước chỉ
được làm những gì mà luật cho phép.
- Trong nhà nước pháp quyền con người là giá trị cao quý nhất, do đó sự
phát triển của cá nhân con người là mục tiêu cao cả nhất. Điều này có nghĩa Nhà
nước pháp quyền phải là một nhà nước có khả năng bảo vệ và bảo đảm các
quyền con người một cách tốt nhất. Sở dĩ như vậy vì, xuất phát từ chức năng và
mục đích của nhà nước pháp quyền là đưa lại tự do, hạnh phúc cho con người
nên nhà nước không chỉ tuyên bố một hệ thống rộng lớn các quyền tự do của
công dân mà quan trọng hơn là tạo ra một cơ chế đồng bộ bảo đảm cho các
quyền, tự do đó thực hiện trên thực tế. Đồng thời phải ngăn chặn và loại bỏ mọi
sự xâm hại đối với các quyền tự do đó, bảo đảm khơng ngừng mở rộng, làm
phong phú thêm các quyền, tự do của công dân. Phải bảo đảm mọi hoạt động,
7
mọi cố gắng của nhà nước, của xã hội đều nhằm phục vụ cho hạnh phúc của con
người. Nhà nước có cơ chế bảo vệ các quyền của con người khi nó bị xâm hại.
- Trong nhà nước pháp quyền, cơ chế tổ chức và thực thi quyền lực
nhà nước cần có sự phân cơng một cách rành mạch giữa lập pháp, hành pháp
và tư pháp; có cơ chế kiểm soát về mặt nhà nước và xã hội trong việc thực
hiện các quyền lực đó.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng phải có sự phân cơng phối
hợp phù hợp giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Cơ chế phân cơng, phối hợp phải rõ ràng và có hiệu
luôn bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền con người. Để
thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội phải xây dựng xã hội dân sự trong đó
mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều thể hiện đúng vị trí, vai trị của mình trong xã
hội. Các quyền, lợi ích chính đáng của cơng dân phải được bảo vệ; nhà nước
pháp quyền phải thực hiện chính sách xã hội nhiều hơn và tốt hơn.
Tóm lại, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước, nó là
một mơ hình tổ chức nhà nước tiến bộ, là một giá trị, là tinh hoa nhân loại có
thể áp dụng ở tất cả các nước tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi nước. Đó là
mơ hình nhà nước đề cao tính tối thượng của pháp luật, bảo vệ và bảo đảm tốt
nhất quyền con người, có cơ chế phân cơng, phối hợp và kiểm sốt quyền lực
(lập pháp, hành pháp và tư pháp) chặt chẽ, khoa học, hiệu quả và hợp pháp.
1.2. KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm
Sau một qua trình nhận thức, đánh giá, chúng ta đã khẳng định quyết
tâm xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam đã được Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX khẳng định:
9
Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp [9].
Trên cơ sở đó, Điều 2 - Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sửa đổi năm
từ chính lịch sử xây dựng và phát triển nƣớc ta
Có thể nói, q trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu khi thành lập nước với bản
Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 và Hiến Pháp năm
1946. Quá trình này đã trải qua hơn 70 năm lịch sử với nhiều giai đoạn phát
triển đặc thù. Ngày nay đã được khẳng định rõ nét và quá trình này đảng được
tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách
mới.
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xuất
phát từ định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta mà mục tiêu cơ
bản là xây dựng một chế độ dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng để đạt được một chế độ xã hội có tính
mục tiêu như vậy, cơng cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên
cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tính tất yếu khách quan cịn do xuất phát từ đặc điểm của thời đại với
xu thế tồn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập quốc tế địi hỏi chúng ta phải tiếp tục
đẩy mạnh cải cách Nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho nhà nước khơng
ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội, mở rộng dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững
chắc vào đời sống quốc tế. Việc thừa nhận và xây dựng Nhà nước pháp quyền
11
xã hội chủ nghĩa trong những năm gần đây ở nước ta đã góp phần xác định rõ
hơn đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.2.3. Những đặc trƣng cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
chức nhà nước phải "chịu sự giám sát của nhân dân" [27, Điều 8] và đối với
các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, họ có thể bị bãi nhiệm khi
khơng cịn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân (Điều 7).
Đặc trưng thứ hai: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ
Hiến pháp
Ở Việt Nam, xây dựng và hồn thiện Hiến pháp ln luôn là phương
hướng quan trọng để thực hiện dân chủ, giữ vững quyền lực chính trị của
nhân dân, tạo điều kiện để thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Ngay
từ khi mới thành lập nước, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam dân chủ cộng hịa, Hồ Chủ tịch đã nói: "Trước chúng ta đã bị
chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần
chun chế, nên nước ta khơng có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng
quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ" [20, tr. 6]. Sự
hiện diện của Hiến pháp 1946 đã được gắn liền với nền dân chủ, với quyền tự
do dân chủ của nhân dân. Nhà nước ta được tổ chức và hoạt động trên nền
tảng Hiến pháp và trong khuôn khổ của Hiến pháp. Hiến pháp nước ta được
bổ sung, sửa đổi trên cơ sở kế thừa và phát triển các giai đoạn lịch sử của chủ
nghĩa lập hiến Việt Nam, hoàn thiện và điều chỉnh những chế định quan trọng
như: Chủ quyền quốc gia, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đại đoàn kết
toàn dân; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã
hội...
Những nội dung cơ bản trên của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan
trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân; đó
chính là nền tảng có tính chất hiến định để xem xét, đánh giá sự hợp hiến hay
13
không hợp hiến của các đạo luật, cũng như các quyết sách khác của Nhà nước
Tư duy lý luận của Đảng ta về vị trí, vai trò của pháp luật trong quản
lý nhà nước và xã hội có sự phát triển ngày càng hồn thiện theo hướng bảo
đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống pháp
luật và pháp luật thực sự là công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước và xã hội.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định điều quan trong để phát huy
dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân.
Nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng pháp luật phục vụ công cuộc đổi mới là
"Tiếp tục đổi mới, bổ sung và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật kinh tế, đặc
biệt chú trọng đổi mới và bổ sung các luật thuế, đồng thời "tăng cường giáo
dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một
cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng". Văn kiện Hội nghị lần thứ 8
Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã chỉ ra, chúng ta phải tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng
cao đạo đức xã hội: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật.
Đó là cơ sở chủ yếu điều chỉnh các quan hệ cơ bản trong xã hội" [8]. Đồng
thời, coi trọng giáo dục, nâng cao dân trí, tăng cường tuyên truyền, giáo dục
pháp luật trong cán bộ, nhân dân.
Tư tưởng này đã được các văn kiện Đại hội Đảng VIII, Nghị quyết
Trung ương 3 khóa VIII, Văn kiện Đại hội Đảng IX, X, XI liên tục tổng kết
và khẳng định. Một mặt, chúng ta vừa đề cao vai trò chủ đạo, cơ bản của việc
quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật, nhưng mặt khác, Đảng ta cũng
khơng xem nhẹ vai trị của các quy phạm đạo đức, xã hội khác. Đây chính là
sự kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo giữa học thuyết Mác - Lênin với các tư
tưởng nhân bản của triết học phương Đơng trong điều kiện, hồn cảnh của
Việt Nam hiện nay.
15
16
đồn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng việc
xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở.
Trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có tình trạng vừa thiếu dân
chủ, vừa thiếu kỷ cương. Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và
phát huy đầy đủ. Trong xã hội cịn khơng ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ
hình thức, có nơi cịn diễn ra nghiêm trọng, nhiều nỗi oan ức của người dân
chưa được giải tỏa, vẫn cịn tình trạng bắt oan, xử oan người vô tội. Mặt khác,
trật tự xã hội yếu kém, hiện tượng coi thường kỷ cương, bất chấp pháp luật,
các tệ nạn xã hội chưa giảm. Cơ chế và pháp luật bảo đảm dân chủ hóa tuy đã
có tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa đầy đủ và cụ thể. Việc thực hiện
các hình thức dân chủ trực tiếp và hình thức dân chủ gián tiếp cịn mang tính
hình thức, hiệu quả chưa cao.
Mối liên hệ dân chủ giữa nhà nước và xã hội được thể hiện: Nhà nước
là một bộ phận của xã hội, nhưng Nhà nước ngày càng tách ra khỏi xã hội,
quản lý xã hội và sự quản lý đó đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến nhiều mặt
và mạnh mẽ. Như vậy, sự tồn tại của Nhà nước và vai trị của nó trong xã hội
là khách quan và cần phải làm tất cả khơng phải để nó u đi mà để cho nó
mạnh lên để nó làm tốt vai trị quản lý xã hội. Sự xa dần, tách dần của bộ máy
chuyên nghiệp ra khỏi xã hội là có thật và khơng thể phủ nhận được. Chính vì
vậy mà cần nhìn nhận vấn đề này trên hai bình diện: Một là, nâng cao chất
lượng của bộ máy nhà nước phục vụ và điều chỉnh xã hội; hai là, dân chủ hóa
hoạt động quản lý của Nhà nước trên cơ sở mở rộng tối đa các kênh liên hệ
giữa Nhà nước với các tổ chức, phong trào xã hội và từ phía cơng dân.
Trên cơ sở những mối liên hệ giữa Nhà nước và xã hội theo những
lơgic chung nhất đó, có thể tìm hiểu cụ thể hơn các mối liên hệ giữa Nhà nước
với xã hội, giữa Nhà nước với hoạt động kinh tế (kinh doanh), giữa Nhà nước
với các thiết chế và trật tự chung của Xã hội thông qua một phạm trù quan
nào và độc lập, phân công, phối hợp như thế nào.
18
Ở nước ta xuất phát từ bản chất của Quốc hội với tính cách là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Quốc
hội cần nắm giữ những quyền hạn mà việc thực thi chúng có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước.
Quyền quyết định các vấn đề quan trọng, trong đó cần chú trọng đến
quyền quyết định chính sách tài chính, thực tiễn tiền tệ quốc gia, quyết định
dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết
toán ngân sách nhà nước… Vấn đề ngân sách nhà nước ln có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước. Do vậy, quyền quyết định ngân
sách nhà nước được khẳng định chỉ thuộc về Quốc hội.
Quốc hội là một cơ quan thực hiện quyền lập pháp. Do vậy, quyền làm
luật là thẩm quyền cơ bản nhất của Quốc hội. Để thực hiện quyền này, đảm
bảo vai trò quyết định của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động lập pháp, thơng
qua từng giai đoạn của q trình làm luật cần xử lý các mối quan hệ: quan hệ
với các chủ thể sáng kiến pháp luật theo luật định; quan hệ với cơ quan, tổ
chức dự thảo luật; quan hệ với ủy ban Thường vụ Quốc hội - Cơ quan ban
hành các pháp lệnh.
Quốc hội với tư cách là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, tổ chức và
hoạt động của Quốc hội cần được đổi mới để phù hợp với nhu cầu xây dựng
pháp luật trong tình hình mới. Muốn vậy cần thiết phải chuyển từ một Quốc
hội không chuyên trách, từ một Quốc hội họp theo định kỳ mỗi năm 2 lần
sang Quốc hội có nhiều đại biểu chuyên trách hơn và có thể họp nhiều kỳ
hơn, từ Quốc hội thực tế hoạt động theo đoàn địa phương sang một Quốc hội
hoạt động chủ yếu theo tư cách đại biểu kết hợp với hoạt động theo đoàn.
Điều đặc biệt có ý nghĩa là phải phát huy tinh thần tích cực của bản thân các
chính lãnh thổ từ cấp huyện trở lên. Ở mỗi đơn vị cấp huyện có một tịa án; ở
cấp tỉnh có có tịa án cấp tỉnh và ở Trung ương có Tịa án nhân dân tối cao.
Nguyên tắc hai cấp xét xử thực chất đã và đang tồn tại trong hoạt động
xét xử ở Tòa án nước ta: đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm.
Mặc dù nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố
20