(Luận văn thạc sĩ) pháp luật về đại diện lao động ở việt nam – thực trạng và hướng hoàn thiện luận án TS luật 62 38 50 01 - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
______________

ĐÀO MỘNG ĐIỆP

PHÁP LUẬT
VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2014
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
______________

ĐÀO MỘNG ĐIỆP

PHÁP LUẬT
VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 62 38 50 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC



1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại
diện lao động ........................................................................................ 13
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại
diện lao động ........................................................................................ 20
1.1.3 Tình hình nghiên cứu hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động . 24
1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về đại diện lao động và pháp luật về đại
diện lao động ............................................................................................... 25

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu luận án được kế thừa.................................... 25
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu ....................................... 26
1.3 Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 29
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG VÀ
PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG ......................................................... 31
2.1 Đại diện lao động trong quan hệ lao động .......................................................... 31

2.1.1. Quan niệm về đại diện lao động ............................................................ 31
2.1.2 Vai trò của đại diện lao động trong quan hệ lao động............................. 42
2.1.3 Các loại đại diện lao động ...................................................................... 45
2.2 Pháp luật về đại diện lao động............................................................................. 65

2.2.1 Khái niệm pháp luật về đại diện lao động .............................................. 65
2.2.2 Các nguyên tắc pháp luật về đại diện lao động ....................................... 72
4


2.2.3 Nội dung pháp luật về đại diện lao động ................................................ 74
2.2.4 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động trong nền kinh

Lao động ............................................................................................ 166
4.3 Hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam ........................ 171

5


4.3.1 Hoàn thiện các quy định về thành lập và tổ chức đại diện lao động ...... 171
4.3.2 Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện lao
động ................................................................................................... 178
4.3.3 Hoàn thiện các quy định về đảm bảo pháp lý cho hoạt động của tổ chức
đại diện lao động ................................................................................ 190
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 .................................................................................. 193
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 195
DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ................. 198
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN........................................................................... 198
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 199
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 214

6


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đại diện lao động là một thuật ngữ được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau, được quy định trong các công ước quốc tế cũng như trong hệ thống pháp luật
quốc gia. Ở Việt Nam, trong Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 và Nghị định
số18/CP ngày 26/12/1992 đều đã quy định về đại diện lao động trong đó xác định
đại diện lao động là tổ chức cơng đồn được thành lập để đại diện và bảo vệ quyền
lợi của tập thể lao động hoặc là người do tập thể lao động cử ra đại diện cho tập thể

truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp,
chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
(Điều 1 Luật Cơng đồn).
Trong q trình hình thành và phát triển, tổ chức cơng đồn đã ln hoạt động
theo đường lối chủ trương của Đảng và phát huy được chức năng, sứ mạng của
mình. Nội dung và phương pháp hoạt động của tổ chức cơng đồn đã có những
bước tiến đáng kể. Cơ cấu của tổ chức cơng đồn cũng ngày càng được hoàn thiện
theo hướng đơn giản cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay.
Đặc biệt là pháp luật đã quy định cho cơng đồn nhiều quyền để thực hiện chức
năng đại diện và bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người lao động như: tham gia thương
lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia xây dựng nội quy lao động; tham
gia giải quyết việc làm, giám sát việc bảo đảm việc làm và tiền lương cho người lao
động; tham gia xử lý kỷ luật lao động; đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp; tham gia giải quyết tranh chấp lao động và lãnh đạo tập thể lao động đình
cơng. Bên cạnh đó, cơng đồn cịn được tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với
người sử dụng lao động góp phần duy trì quan hệ lao động hài hòa, ổn định, ngăn
ngừa và hạn chế các tranh chấp lao động phát sinh, khẳng định vị thế bình đẳng của
người lao động với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Hoạt động của
tổ chức cơng đồn cũng góp phần vào ổn định chính trị, thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Mặc dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao vị thế đại diện trong quan hệ lao
động nhưng tổ chức cơng đồn vẫn gặp phải những khó khăn, vướng mắc và hạn
chế trong quá trình hoạt động. Việc thành lập và hoạt động của tổ chức cơng đồn
trong các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi cịn hạn
8


chế.Hoạt động của tổ chức cơng đồn tại nhiều địa phương, doanh nghiệp cịn mang
tính phong trào và hình thức là chủ yếu. Trong khối doanh nghiệp, tổ chức cơng
đồn chưa thu hút được sự hưởng ứng, tham gia của người lao động, cịn có nhiều

vụ chủ yếu sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về đại diện lao động dưới góc độ
pháp luật như: các quan niệm về đại diện lao động, các loại đại diện lao động, vai
trò của đại diện lao động trong quan hệ lao động, ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp
luật hiệu quả đối với đại diện lao động trong nền kinh tế thị trường, nguyên tắc và
những nội dung cơ bản của pháp luật về đại diện lao động.
Hai là, nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện lao
động từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết nhằm tạo cơ sở cho q trình
hồn thiện pháp luật.
Ba là, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật và kiến nghị hoàn thiện những quy
định cụ thể khả thi trong điều kiện kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đại diện lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau như kinh tế học, xã hội học, triết học, luật học... Phù hợp với chuyên ngành
đào tạo, đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về đại diện lao động ở Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề đại diện lao động trên phương diện
pháp lý, chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp luật lao động và cơng đồn, chủ yếu ở cấp cơ
sở và cấp trên trực tiếp cơ sở. Cụ thể, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn của chế định đại diện lao động trong quan hệ làm công hưởng
lương ở Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện quy định về dung lượng của luận án, đồng thời, đảm bảo độ sâu
sắc cần thiết, luận án không nghiên cứu các vấn đề sau đây:
- Vấn đề đại diện cho người lao động nói chung bao gồm cả các cơng chức,
lao động tự do, xã viên hợp tác xã…
- Vấn đề đại diện lao động khi họ không thuộc quan hệ lao động làm cơng (ví
dụ trong quan hệ dịch vụ việc làm, quan hệ bảo hiểm hưu trí, thất nghiệp) hoặc
thuộc quan hệ lao động làm công nhưng không do luật lao động Việt Nam điều
chỉnh (khi đi làm việc cho người sử dụng lao động nước ngoài)…
- Vấn đề đại diện lao động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (vì phạm vi

Thứ tư, luận án đưa ra các yêu cầu và hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện
lao động ở Việt Nam, có luận giải cụ thể trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đảm
bảo cho tổ chức đại diện lao động ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả; đồng thời,
11


đảm bảo tính đặc thù của tổ chức này ở Việt Nam, trong xu thế tồn cầu hóa và hội
nhập quốc tế.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần xây dựng, hồn thiện cơ sở lý luận và hoàn thiện pháp luật
về đại diện lao động ở Việt Nam; đồng thời, ở mức độ nhất định, luận án cung cấp
kiến thức hữu ích cho những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực lao động,
cơng đồn để áp dụng pháp luật về đại diện lao động phù hợp với hoàn cảnh Việt
Nam nhưng không tách rời trào lưu chung của thế giới.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho một số cơ quan khi
xây dựng, hoạch định các chính sách và pháp luật về đại diện lao động. Kết quả
nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy tại các trường đào tạo về luật hoặc về công tác xã hội, lao động xã hội,
cơng đồn… và cho các tổ chức, cá nhân muốn tìm hiểu, quan tâm đến lĩnh vực đại
diện lao động.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết
cấu bốn Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về đại diện lao động
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện
lao động
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện lao động
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam

12

bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động.
Các cơng trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ tiếp cận quan niệm về tổ chức
13


cơng đồn (một hình thức đại diện lao động) hoặc chỉ tiếp cận quan niệm về đại
diện lao động ở một phương diện, khía cạnh cụ thể mà chưa tiếp cận khái niệm đại
diện lao động một cách hệ thống dưới các phương diện về ngôn ngữ, kinh tế, xã hội
và phương diện pháp lý.
Nghiên cứu phân loại đại diện lao động
Các nghiên cứu đã đề cập đến phân loại đại diện lao động một cách khái quát
trên cơ sở các tiêu chí về tính chất và căn cứ phát sinh hình thức đại diện lao động.
Theo đó, đại diện lao động được tác giả PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí trong Giáo trình
Luật lao động[18] phân loại thành đại diện lao động theo thỏa thuận hoặc theo pháp
luật, đại diện lao động trực tiếp hoặc đại diện lao động gián tiếp.
Nghiên cứu của tác giả Robert E. Baldwin trong “The decline of US Labor
Unions and the role of Trade”[113]; nghiên cứu của tác giả Roger Blapain trong
“Systems of employee representation at the enterprise”[115] và nghiên cứu
“Decentralizing industrial relations and the role of labour unions and employee
representatives”của Roger Blanpain[114], các tác giả đều đề cập đến hình thức đại
diện lao động là tổ chức cơng đồn và hình thức đại diện khơng thuộc tổ chức cơng
đồn tại nơi làm việc qua khảo sát tại một số quốc gia như Úc, Pháp, Đức, Nhật
Bản, Mỹ, Canada. Đồng thời, các nghiên cứu này cũng đề cập đến các yếu tố tác
động làm suy giảm thành viên của tổ chức đại diện lao động và đề xuất giải pháp
xây dựng một hệ thống đại diện lao động hiệu quả trong giai đoạn lực lượng lao
động phong phú, đa dạng của q trình tồn cầu hóa.
Trong nghiên cứu “Đại diện quyền lợi người lao động tại Cộng hòa Liên Bang
Đức” của GS.TS. Wolfgang Werner Daeubler[27], tác giả đã phân tích các hình
thức đại diện lao động tại Cộng hịa Liên Bang Đức, phân tích hình thức đại diện
lao động là tổ chức cơng đồn thơng qua ký kết thỏa ước lao động tập thể, đại diện

của quyền thương lượng tập thể; loại bỏ các hình thức lao động cưỡng bức; bãi bỏ
lao động trẻ em và phân biệt đối xử trong việc làm, nghề nghiệp. Nghiên cứu này là
nền tảng vững chắc để các quốc gia có cách nhìn nhận đúng đắn hơn khi thừa nhận
và tơn trọng thực hiện quyền cơ bản của người lao động trong đó có quyền tự do lập
hội và thương lượng tập thể.
Sẽ khơng tồn diện khi khơng đề cập đến cuốn: “Rights at work: an
assessment of the Declaration’s technical cooperation in select countries” của tác
giả Colin Fenwick and Thomas Kring[116] khi đề cập đến các nguyên tắc cơ bản và
15


quyền tại nơi làm việc. Nghiên cứu này đề cập đến tuyên bố của Tổ chức lao động
quốc tế về nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc của người lao động thông
qua việc khảo sát tại một số quốc gia như Indonexia, Morocco, Brazil và Việt Nam.
Trong đó, các tác giả đề cập và bàn luận một cách sâu sắc các vấn đề về điều kiện
kinh tế, thị trường lao động, tình trạng của các nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi
làm việc, sự tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể, vai trò của đối thoại xã
hội, tình trạng đối xử cơng bằng, không phân biệt đối xử cũng như việc xây dựng
khả năng để tăng cường sự tự do liên kết, thương lượng tập thể và thúc đẩy phát
triển quan hệ lao động bền vững. Nghiên cứu cũng khẳng định nguyên tắc cơ bản và
quyền tại nơi làm việc cần phải được tơn trọng và bảo đảm thực hiện. Nó được xem
là chìa khố của tồn cầu hố và phát triển bền vững. Đồng thời chỉ rõ tuyên bố của
Tổ chức lao động quốc tế về nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc góp phần
quan trọng trong việc bảo vệ quyền công dân ở Indonexia, cải cách điều kiện về
kinh tế xã hội, góp phần trong việc xây dựng khả năng hợp tác mối quan hệ ba bên
(Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động) trong quan hệ lao động, thúc
đẩy quan hệ công nghiệp và đối thoại xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tuyên bố
của Tổ chức lao động quốc tế cũng có ý nghĩa cơ bản trong việc tăng khả năng bảo
vệ quyền con người, chống phân biệt đối xử và cải thiện tình trạng lao động của
Brazil.

chức cơng đồn trong hoạt động tun truyền, giáo dục người lao động chấp hành
đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.
Trong bài báo “Vai trò của tổ chức đại diện người lao động trong cơ chế ba
bên” của TS. Nguyễn Xuân Thu[70] và trong bài báo “Cơ chế ba bên ở Việt Nam,
những ghi nhận về mặt pháp lý”của PGS.TS. Phạm Công Trứ[105], các tác giả đã
phân tích, đánh giá tầm quan trọng của tổ chức cơng đồn trong mối quan hệ với
người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước cũng như sự điều chỉnh của
pháp luật về mối quan hệ này.
Trong bài báo “Tổ chức cơng đồn - đại diện tập thể lao động với vai trò thúc
đẩy liên kết và hài hòa quan hệ lao động”của TS. Lê Thị Châu[13], tác giả đã đề cập
đến ý nghĩa cơ bản, sự ảnh hưởng của tổ chức cơng đồn trong việc xây dựng quan
hệ lao động hài hòa, ổn định.
Các khảo sát đề cập đến vai trò của tổ chức cơng đồn nêu trên chủ yếu tiếp
cận theo từng lĩnh vực, phạm vi cụ thể mà chưa có cơng trình nào nghiên cứu một
17


cách tổng quát tầm quan trọng của tổ chức đại diện lao động trong cơ chế hai bên và
ba bên cũng như sự ảnh hưởng của tổ chức đại diện lao động trong quan hệ lao
động.
Qua khảo sát, tìm hiểu tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động, tác
giả luận án thấy rằng, đã có một số cơng trình khoa học đề cập đến đại diện lao
động ở một lĩnh vực, phạm vi nhất định. Tuy nhiên, chưa có một cơng trình nào
đánh giá tổng qt về vấn đề đại diện lao động dưới phương diện lý luận.
Trên cơ sở kết quả khảo sát các cơng trình nghiên cứu những vấn đề lý luận
về đại diện lao động, nghiên cứu sinh đã kế thừa các kết quả nghiên cứu của các
tác giả và làm rõ một số vấn đề còn bỏ ngỏ sau:
- Nghiên cứu quan niệm về đại diện lao động dưới các góc độ khác nhau để
làm rõ hơn khái niệm này ở phương diện pháp lý.
- Nghiên cứu về các loại đại diện lao động dựa theo tiêu chí chủ thể đại diện

Trong bài báo “Pháp luật cơng đồn một số nước và kinh nghiệm đối với Việt
Nam” của TS. Nguyễn Hữu Chí và ThS. Đào Mộng Điệp[16], các tác giả đã nghiên
cứu khảo sát pháp luật của một số quốc gia trên các khía cạnh về thành lập và hoạt
động của tổ chức cơng đồn, địa vị pháp lý của tổ chức cơng đồn và các biện pháp
bảo đảm cho hoạt động của tổ chức cơng đồn. Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra
một số kinh nghiệm làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức đại diện lao
động ở Việt Nam. Như vậy, các cơng trình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động
và pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam nêu trên có giá trị về lý luận và ý
nghĩa thực tiễn nhưng có thể khẳng định, chưa có cơng trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống về pháp luật đại diện lao động gồm: thành lập tổ chức đại diện lao
động, quyền, nghĩa vụ của tổ chức đại diện lao động và những bảo đảm pháp lý cho
hoạt động của tổ chức đại diện lao động.
Trên cơ sở khảo cứu các tài liệu đó, luận án sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu
trên và nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề sau:
- Nghiên cứu khái niệm pháp luật về đại diện lao động và các nội dung điều
chỉnh pháp luật về đại diện lao động bao gồm: pháp luật về tổ chức, thành lập đại
diện lao động; pháp luật quyền, nghĩa vụ của tổ chức đại diện lao động; pháp luật
về những bảo đảm pháp lý cho tổ chức đại diện lao động hoạt động.
- Nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản của pháp luật đại diện lao động làm cơ sở
cho việc điều chỉnh và thực tiễn thực hiện.
19


- Nghiên cứu ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động trong
nền kinh tế thị trường.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại
diện lao động
Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thành lập và tổ chức
đại diện lao động
Trong cuốn “Hoạt động cơng đồn cơ sở trong các doanh nghiệp khu vực

cơng trình trên mới chỉ đề cập đến thành lập và tổ chức của cơng đồn, một vấn đề
của nội dung cần nghiên cứu. Đặc biệt, phù hợp với thời điểm thực hiện, các nghiên
cứu trên chỉ nghiên cứu vấn đề thành lập và tổ chức của cơng đồn theo Luật Cơng
đồn năm 1990, chưa có một cơng trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống thực
trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện về thành lập và tổ chức đại diện lao
động theo Luật Cơng đồn năm 2012.
Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền và trách nhiệm
của tổ chức đại diện lao động.
Trong luận án “Pháp luật lao động đối với vấn đề bảo vệ người lao động
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Thị Kim Phụng
(năm 2006, Trường ĐH Luật HN)[54], tác giả đã tập trung làm rõ biện pháp liên kết
thơng qua tổ chức cơng đồn để bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Trong đó,
nghiên cứu đề cập đến thực trạng vai trị của tổ chức cơng đoàn với việc bảo vệ việc
làm, thu nhập, đời sống và bảo vệ quyền nhân thân cho người lao động.
Các nghiên cứu “Các quy định của Bộ luật Lao động về cơng đồn và vai trị
đại diện tập thể lao động - thực trạng và kiến nghị”của PGS.TS. Đào Thị Hằng[44]
đã đề cập đến quy định của pháp luật về vai trị của cơng đồn trong việc đại diện và
bảo vệ quyền lợi cho tập thể lao động trong một lĩnh vực cụ thể nhất định như trong
tranh chấp lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương.
Trong “Tài liệu học tập Nghị quyết ĐH XI Cơng đồn Việt Nam – Bài giảng
về thỏa ước lao động tập thể” của tác giả ThS. Mai Đức Chính[123] cũng đã đề cập
đến việc nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện có hiệu quả thỏa
ước lao động tập thể, nâng cao vai trị của tổ chức cơng đồn cơ sở và cơng đồn
cấp trên trực tiếp cơ sở trong quá trình ký kết thỏa ước.
Tác giả Trần Thị Thanh Hà trong “Pháp luật về cơng đồn trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”[40]cũng đã
21


làm rõ thực tiễn thực hiện quyền của tổ chức cơng đồn trong một số lĩnh vực như:



thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện lao động trong bài
báo “Đại diện lao động trong Bộ luật Lao động”[33].
Các nghiên cứu trên đã đề cập đến một số khía cạnh của pháp luật trước năm
2012 về quyền và trách nhiệm của tổ chức cơng đồn hoặc thực trạng vai trị của tổ
chức cơng đồn trong bảo vệ người lao động. Tuy nhiên, chưa có cơng trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống thực trạng pháp luật về đại diện lao động ở VN
với các nhóm quyền cơ bản như quyền đại diện lao động trong đối thoại, thương
lượng, thỏa ước lao động tập thể; quyền đại diện lao động trong lĩnh vực tiền lương,
kỷ luật lao động; quyền đại diện lao động trong tranh chấp lao động, đình cơng;
quyền đại diện lao động trong quản lý doanh nghiệp, quản lý kinh tế - xã hội, tham
gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp; quyền đại diện lao
động để tập hợp, tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động và phát triển tổ
chức; quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện lao động là cơng đồn cấp trên trực
tiếp của cấp cơ sở. Vì vậy, luận án sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu trước và tiếp
tục nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện và cập nhật hơn.
Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo đảm pháp lý cho
hoạt động của tổ chức đại diện lao động
Một số cơng trình đã đề cập sơ lược thực trạng thực hiện các quy định về bảo
đảm pháp lý đối với hoạt động của tổ chức cơng đồn, đánh giá khái qt thực tiễn
về tổ chức, cán bộ, đảm bảo về điều kiện hoạt động, đảm bảo cho cán bộ cơng đồn
như: “Cơng đoàn - tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động trong quan hệ lao động”, luận văn của ThS. Nguyễn Ngọc Việt[107]. Tuy
nhiên, chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về thực trạng pháp
luật về tổ chức, cán bộ, đảm bảo về điều kiện hoạt động cho tổ chức và cán bộ cơng
đồn nói riêng và tổ chức đại diện lao động nói chung.
Trong “Tài liệu học tập Nghị quyết ĐH XI Cơng đồn Việt Nam – Tài chính
cơng đồn”[147] cũng đã đề cập đến nguồn thu tài chính cơng đồn, khen thưởng,
xử phạt về thu nộp tài chính cơng đồn, phân phối, sử dụng và quản lý tài chính của

thực hiện pháp luật cơng đồn dưới các góc độ như tun truyền phổ biến, giáo dục
pháp luật cơng đồn, đổi mới tổ chức và hoạt động của cơng đồn.
Trong nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đại diện lao
động” của tác giả luận án - ThS. Đào Mộng Điệp[31] cũng đề xuất các nhóm giải
pháp chung hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động như nhóm giải pháp hồn
24


thiện Luật Cơng đồn 1990, nhóm giải pháp hồn thiện các chế định điều chỉnh
quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động, nhóm giải pháp
nâng cao vai trị, vị trí, chức năng của tổ chức đại diện lao động, nhóm giải pháp về
thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến tổ chức đại diện lao
động.
Qua khảo sát các cơng trình nghiên cứu cho thấy, một số các cơng trình đã đưa
ra giải pháp để hồn thiện Luật Cơng đồn 1990 hoặc đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động cho tổ chức cơng đồn về tổ chức thực hiện. Do mục đích,
đối tượng, phạm vi, thời điểm nghiên cứu khác nhau nên các tác giả đó khơng
nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể các hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện
lao động, đặc biệt là chưa có cơng trình nào đề xuất việc hoàn thiện pháp luật về đại
diện lao động sau khi có Luật Cơng đồn năm 2012. Tuy vậy, những giải pháp
trong các cơng trình nghiên cứu trên là những kết quả nghiên cứu có giá trị khoa
học giúp cho nghiên cứu sinh kế thừa, phát triển và cập nhật ở giai đoạn hiện nay
khi đề xuất ba nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động bao gồm:
pháp luật về tổ chức thành lập, pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện
lao động và pháp luật về những bảo đảm pháp lý cho tổ chức đại diện lao động hoạt
động.
1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về đại diện lao động và pháp luật về
đại diện lao động
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu luận án được kế thừa
Qua khảo sát các cơng trình nghiên cứu, tác giả luận án thấy rằng, chưa có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status