ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN TUYẾT MINH
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG
HÓA CÓ KHUYẾT TẬT GÂY RA CHO NGƢỜI TIÊU
DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự
Mã số
: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tơi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
............................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng................. Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Có thiệt hại xảy ra ..................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Có tồn tại của hàng hóa có khuyết tật ....... Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa khuyết tật và thiệt hại .. Error! Bookmark
not defined.
2.1.4. Vấn đề lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng................. Error! Bookmark not defined.
2.2. Chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật
gây ra cho người tiêu dùng .................................. Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại........ Error! Bookmark not
defined.
2.2.2. Chủ thể được bồi thường thiệt hại ............ Error! Bookmark not defined.
2.3. Xác định thiệt hại của người tiêu dùng về tài sản, tính mạng, sức khỏe .... Error!
Bookmark not defined.
2.3.1. Thiệt hại về tài sản .................................... Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm ...... Error! Bookmark not
defined.
2.4. Nguyên tắc bồi thường ................................. Error! Bookmark not defined.
2.5. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho người tiêu dùng............................................. Error! Bookmark not defined.
2.6. Đánh giá pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng
hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng ..... Error! Bookmark not defined.
2.6.1. Những ưu điểm ......................................... Error! Bookmark not defined.
2.6.2. Những tồn tại, hạn chế .............................. Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT BỒI THƢỜNG THIỆT
HẠI VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH
: Bồi thường thiệt hại
BVQLNTD
: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
CLSPHH
: Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
NTD
: Người tiêu dùng
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh hội nhập và tồn cầu hố, bên cạnh việc tạo điều kiện
thuận lợi để lưu thông, trao đổi hàng hóa, pháp luật Việt Nam cũng cần có cơ
chế ngăn chặn các sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, khơng bảo đảm an
tồn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD), bảo vệ sản xuất trong
nước và lợi ích quốc gia. Vì u cầu đó nên liên tục những năm gần đây, nhà
nước ta đã ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản
phẩm, hàng hoá (CLSPHH).
Trong những năm gần đây, pháp luật về CLSPHH nước ta khơng
ngừng được hồn thiện cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Thực tiễn ở Việt Nam, đã có rất nhiều hàng hóa (máy móc, thiết bị đồ gia
- Xác định rõ trách nhiệm bồi thường của các chủ thể sản xuất, kinh
doanh vi phạm các quy định của pháp luật về CLSPHH mà gây ra thiệt hại
cho người khác là cơ sở để người bị thiệt hại yêu cầu BTTH cho mình.
- Xác định quyền được BTTH khơng những của NTD mà cịn của
người mua đối với các thiệt hại do vi phạm các quy định của pháp luật về chất
lượng sản phẩm, hàng hố gây ra. BLDS chỉ quy định NTD có quyền được
bồi thường. Quy định người mua được quyền BTTH trong Luật CLSPHH có
thể xem là đã lấp được “lỗ hổng” của BLDS.
- Quy định cụ thể các loại thiệt hại mà tổ chức, cá nhân vi phạm các
quy định của pháp luật về CLSPHH gây ra phải bồi thường cho người bị thiệt
hại. Trên cơ sở các quy định về BTTH của BLDS, Luật CLSPHH đã quy
định cụ thể các loại thiệt hại được xác định để bồi thường: thiệt hại về giá trị
hàng hoá, tài sản bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại; thiệt hại về tính mạng, sức
2
khoẻ con người; thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản
và chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
- Quy định các trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường trên cơ
sở nguyên tắc của pháp luật dân sự là một người chỉ phải bồi thường nếu có
thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt hại của người khác. Đây là những trường
hợp được miễn trách nhiệm bồi thường mà chưa được quy định trong luật dân
sự và luật thương mại.
Bảo đảm CLSPHH có ý nghĩa rất quan trọng với NTD, người sản xuất
và nhà nước trong việc duy trì an ninh, trật tự cơng cộng và lợi ích quốc gia.
Nhà nước thơng qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các công cụ quản lý khác và kiểm tra việc thực
hiện các quy định này, tác động đến các yếu tố hình thành CLSPHH để bảo
đảm an tồn cho sản phẩm, hàng hố được đưa ra thị trường sử dụng như
sản phẩm, hàng hóa” của TS. Chu Đức Nhuận; “Trách nhiệm sản phẩm và
việc bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam” của GS.TS. Lê Hồng
Hạnh; “Luật bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam” của PGS.TS.
Nguyễn Như Phát”; “Vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt
Nam” của TS. Nguyễn Văn Cương; “Trách nhiệm nghiêm ngặt và miễn, giảm
trách nhiệm trong pháp luật về trách nhiệm sản phẩm”; của Ths. Phạm Thị
Phương Anh; “Góp ý về Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi - Phần liên quan
đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của TS. Bùi Nguyên Khánh…hoặc
về kinh nghiệm quốc tế như “Các nguyên lý cơ bản của chế định trách nhiệm
sản phẩm tại Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới” của GS.TS. Lê Hồng
Hạnh, Trương Hồng Quang; “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh
doanh quốc tế” của TS. Tăng Văn Nghĩa; “Một số vấn đề về Luật trách
nhiệm sản phẩm cộng đồng Châu Âu” của TS. Nguyễn Am Hiểu; “Kinh
nghiệm xây dựng pháp luật vể trách nhiệm sản phẩm của một số nước
4
ASEAN” của Ths. Trần Thị Quang Hồng, Trương Hồng Quang; “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tác động của tài sản gây ra dưới góc nhìn của
so sánh” của Ths. Bùi Thị Thanh Hằng, Ths. Đỗ Giang Nam. Tuy nhiên, cho
đến thời điểm này, vẫn còn nhiều vấn đề về trách nhiệm BTTH do hàng hóa
có khuyết tật gây ra cho người NTD chưa được nghiên cứu làm rõ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về
trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD; nội dung các
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm BTTH do hàng
hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và việc thực tiễn giải quyết việc BTTH do
hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD. Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát
hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
trách nhiệm BTTHdo hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD theo pháp luật
Việt Nam, trên cơ sở đó đối chiếu với thực tiễn áp dụng các quy định đó trong
thực tế, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Từ đó, luận
văn sẽ đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD nhằm nâng cao
trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cũng như nâng cao
nhận thức của NTD trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần vào sự
phát triển chung của đất nước.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: Phân tích các khái niệm về trách nhiệm BTTH
do hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại cho NTD để hiểu được bản chất cuả
nó. Bên cạnh đó, cần phân tích vai trị của trách nhiệm bồi thường thiệt hại để
nói lên sự cần thiết phải điều chỉnh cũng như hoàn thiện pháp luật về trách
nhiệm dân sự nói chung cũng như pháp luật về BVQLNTD nói riêng. Ngoài
ra, trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của hàng lang pháp
6
lý về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD để có
phương hướng giải quyết những hạn chế đó.
Phưong pháp tổng hợp: Đưa ra một cái nhìn tổng quan về hệ thống
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho người tiêu dùng.
Phương pháp liệt kê: Liệt kê hệ thống các văn bản có liên quan để tiện
theo dõi và làm căn cứ cho phần lý luận của mình.
7. Dự kiến những kết quả đạt đƣợc của luận văn
Thơng qua việc tiến hành phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật
Việt Nam về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và
thực tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tế. Luận văn còn chỉ ra những
hợp đồng và trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật
gây ra cho ngƣời tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Ngay từ thời La Mã cổ đại khái niệm về “thiệt hại” đã được các luật gia
La Mã đề cập tới và cho rằng khái niệm này được cấu thành bởi hai thành
phần. Thành phần thứ nhất là Damnumemrgens-sự thiệt hại, sự mất mát của
một bộ phận tài sản cụ thể. Thành phần thứ hai là Lucrum cessans - bỏ mất lợi
tức, sự mất mát tài sản có thể có nếu hồn cảnh diễn ra bình thường [48]. Như
vậy về cơ bản thì luật La Mã xác định thiệt hại là những tổn thất, mất mát về
tài sản đang có và sẽ có trong tương lai `- thiệt hại mang tính tài sản, bởi bản
chất của các quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ mang tính tài sản.
Ngày nay, những tư tưởng pháp lý này của các luật gia La Mã đã được các
nhà lập pháp kế thừa. Ví dụ, Điều 1149 của BLDS Cộng hoà Pháp quy định
“những thiệt hại phải bồi thường cho người có quyền gồm những khoản mà
họ mất và mức lợi mà họ không được hưởng” [27]. Hơn nữa, các nhà lập
pháp ngày nay còn phát triển, và xác định thêm thiệt hại còn bao gồm cả thiệt
hại phi vật chất (thiệt hại về tinh thần). BLDS Nhật Bản quy định tại Điều 707
thì một người chịu trách nhiệm BTTH cả những thiệt hại phi vật chất bất kể
thiệt hại như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín hay tài sản của người khác [20].
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu hiểu thơng thường thì “thiệt hại
là những mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của” [25, tr. 1570]. Theo
quan điểm pháp lý của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thì: “thiệt hại là
9
tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức
được pháp luật bảo vệ” [47, tr. 118].
Ở Việt Nam thì truớc khi có BLDS chính thức quy định về vấn đề này
thì tồn tại hai quan điểm trái ngược về xác định thiệt hại phi tài sản - thiệt hại
thứ VII SCN), pháp luật đã quy định “chế độ phục cừu” là nguyên tắc trả thù
ngang bằng như máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng, tính mạng trả tính
mạng…Ngồi chế độ phục cừu, việc BTTH ngồi hợp đồng cịn tn theo
những ngun tắc pháp luật ấn định trước như “chế độ phục kim” (bồi thường
bằng tiền) [31, tr. 10, 11]. Khi áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng, lợi ích
của người bị thiệt hại khơng được bảo đảm, hơn nữa lại có một thiệt hại khác
phát sinh. Đây chính là lý do để sau đó người ta xem xét vấn đề BTTH. Như
vậy, xét về nguồn gốc lịch sử, trách nhiệm BTTH ngồi hợp đồng là một
trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự. Tuy nhiên,
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng là chế định gây nhiều tranh cãi, có
nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu luật pháp cũng như các cán bộ làm
công tác thực tiễn.
Ở nước ta, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đã được qui định trong
Quốc triều Hình luật và Hồng Việt luật lệ. Pháp luật mỗi nước có thể có
những qui định khác nhau liên quan đến xác định mức bồi thường, tuy nhiên
một nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại - đó là: Người gây thiệt hại phải có trách
nhiệm BTTH cho người bị thiệt hại. Bộ luật Hồng Đức [41] và Bộ luật Gia
Long [17] đều chưa có sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Sự phân biệt rạch rịi giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự chỉ ra
đời trên cơ sở ba bộ dân luật đầu tiên Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Bộ Dân luật Trung
Kỳ, Bộ Dân luật Sài Gòn đề cập về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Tại BLDS năm 1995, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng: “Người nào
do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm
11
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây
thiệt hại, thì phải bồi thường” [33, Điều 609]. Như vậy, người gây thiệt hại
hoạt động có tính nghề nghiệp cho mình [30, tr. 6].
Tại Hoa Kỳ, các quy định về bảo vệ NTD nằm cả trong pháp luật của
liên bang và pháp luật của các bang. Tuy không có một đạo luật chung thống
nhất về BVNTD mà trong đó khái niệm NTD được giải thích rõ ràng, nhưng
theo các chuyên gia pháp luật của Hoa Kỳ, khái niệm NTD chỉ được quan
niệm là cá nhân NTD tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá
nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình.
Việc bảo vệ NTD ở Canada chủ yếu được quy định trong các đạo luật
về bảo vệ người tiêu dùng của các bang ở quốc gia này. Trong các đạo luật
này, NTD cũng chỉ được giải thích là các cá nhân.
Luật Tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải
chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ
khơng nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho
gia đình hoặc bản thân” [32, tr.24].
“NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia
đình hoặc hộ gia đình mà khơng có ý định bán lại; là một tự nhiên nhân sử
dụng sản phẩm phục vụ mục đích cá nhân, khơng phải nhằm mục đích kinh
doanh” [59, tr. 311].
“NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích cuối cùng
tiêu dùng hoặc sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình” [60, tr.3].
Như vậy, nhìn chung, để xác định một chủ thể có phải là NTD hay
khơng, pháp luật các nước thường dựa vào các điều kiện sau:
Thứ nhất, đối tượng của giao dịch là những hàng hóa, dịch vụ được
phép lưu thông và đáp ứng được các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần
của cá nhân con người. Đây là một điều kiện rất khó xác định bởi nhu cầu
sinh hoạt của con người trong điều kiện hiện nay rất đa dạng. Những hàng
14
NTD, người mua phải chứng minh mục đích sử dụng là tiêu dùng của mình.
Tuy vậy, chúng ta nên nhìn nhận đây là một đối xử tương đương như là NTD
của pháp luật đối với trường hợp cá biệt này. Bởi lẽ, pháp luật BVQLNTD
được đặt ra để hỗ trợ luật dân sự và thương mại, để khắc phục những hạn chế
của quyền tự do khế ước khi có sự khơng cân xứng về điều kiện kinh tế, trình
độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ pháp luật BVQLNTD không
thay thế luật dân sự và thương mại.
Thứ ba, việc mua hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh
hoạt cho cá nhân, hộ gia đình.
Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây có nghĩa là NTD mua hàng hóa,
dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu của cá nhân và gia đình mình. Mục đích
tiêu dùng, sinh hoạt không phải là phục vụ cho việc bán lại, hoạt động sản
xuất kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp. Việc mua sản phẩm
phục vụ tiêu dùng nhằm bán lại (ví dụ: mua bánh mỳ từ nhà sản xuất để về
bán lẻ), hoặc chế biến thành sản phẩm khác để bán (ví dụ: mua bánh mỳ từ
nhà sản xuất, thêm các gia vị, thức ăn khác tạo thành các món ăn mới rồi đem
bán) khơng được coi là hành vi tiêu dùng và chủ thể thực hiện chúng không
phải là NTD. Cũng cần lưu ý là NTD có thể khơng có quan hệ trực tiếp với
nhà cung cấp. Họ có thể được người mua tặng, cho, cấp phát. Chẳng hạn
người cha mua sữa cho con uống, đứa con khơng tham gia giao dịch mua bán
nhưng nó vẫn là NTD.
Luật BVQLNTD của Việt Nam không quy định về hàng hóa, dịch vụ
tiêu dùng. Tuy vậy, có thể hiểu được rằng, đó là những gì được phép lưu
thơng và được người ta mua về để sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, tiêu
dùng cá nhân và cho gia đình. Cũng tương tự như các nước, điều kiện về mục
đích cũng được sử dụng để xác định NTD theo Luật BVQLNTD. NTD mua,
sử dụng hàng hóa cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng. Luật BVQLNTD đã đưa
16
17
3. Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa khơng bảo đảm an tồn
cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức
khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó
được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện
hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa
được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm:
a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết
kế kỹ thuật;
b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ q trình sản
xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ;
c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an tồn trong q trình
sử dụng nhưng khơng có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người
tiêu dùng [40, Điều 3].
Như vậy, quan điểm của pháp luật Việt Nam về hàng hóa có khuyết tật
đã thể hiện nội dung cơ bản là hàng hóa khơng đảm bảo an tịan cho NTD vì
những khuyết tật của hàng hóa phát sinh do thiết kế, sản xuất hay việc hướng
dẫn, cảnh báo, sử dụng.
Theo Chỉ thị số 85/374/EEC ngày 25 tháng 7 năm 1985 của Cộng đồng
Châu Âu về sự tương quan hóa các bộ luật, quy định và các điều khoản hành
chính của các quốc gia thành viên liên quan đến trách nhiệm pháp lý đối với
các sản phẩm khuyết tật (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 85 về trách nhiệm sản
phẩm) thì một sản phẩm được coi là khiếm khuyết khi nó khơng an tồn mà
người có liên quan mong đợi [9].
Theo Luật trách nhiệm đối với sản phẩm Nhật Bản, sản phẩm khuyết
tật xuất phất từ sự thiếu an toàn mà sản phẩm ban đầu mang lại, phải kể đến
bản chất của sản phẩm, cách thức sử dụng sản phẩm có thể nhìn thấy trước
19