(Luận án tiến sĩ) tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh thái nguyên hiện nay - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––––––––––––––

VŨ THỊ THỦY

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỒN KẾT, BÌNH ĐẲNG,
TƯƠNG TRỢ GIỮA CÁC DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG
TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––––––––––––––

VŨ THỊ THỦY

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỒN KẾT, BÌNH ĐẲNG,
TƯƠNG TRỢ GIỮA CÁC DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG
TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
Chuyên ngành

: Hồ Chí Minh học

Mã số


Vũ Thị Thuỷ


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN ................................................................................................................ 7

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ......................................7
1.2. Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án đi
sâu nghiên cứu ..................................................................................................25
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỒN KẾT, BÌNH ĐẲNG, TƯƠNG
TRỢ GIỮA CÁC DÂN TỘC: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG .......................... 28

2.1. Một số khái niệm cơ bản............................................................................28
2.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đồn kết, bình đẳng,
tương trợ giữa các dân tộc ................................................................................35
2.3. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đồn kết, bình đẳng, tương trợ
giữa các dân tộc ................................................................................................61
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN
NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ................................................................ 74

3.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân cư và dân tộc ở tỉnh
Thái Nguyên hiện nay .......................................................................................74
3.2. Thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở
tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến nay ...........................................................78
3.3. Những vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái

dựng nước và bảo vệ Tổ quốc, tạo nên một cộng đồng chính trị - xã hội gắn bó keo
sơn vừa thống nhất, vừa đa dạng về văn hóa tộc người. Trải qua hàng nghìn năm
lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn thể hiện rõ là
bộ phận cư dân quan trọng, đoàn kết chặt chẽ, yêu nước nồng nàn, bất khuất chống
giặc ngoại xâm, cống hiến vẻ vang cho đất nước.
Tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, thấu hiểu lịch sử dân tộc Việt Nam,
sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã sớm
nhận thức được vị trí, vai trị to lớn của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp cách
mạng. Theo Người, “cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ
do Việt Bắc mà thắng lợi” [64, tr.239]; đồn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa
các dân tộc có mối quan hệ thống nhất hữu cơ khơng thể tách rời, bình đẳng, tơn
trọng nhau là cơ sở của đoàn kết giữa các tộc người, đồng thời muốn đạt được sự
bình đẳng giữa các dân tộc thì khơng có con đường nào khác là các tộc người phải
đồn kết, gắn bó, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau. Việc thực hiện đồn kết, bình đẳng,
tương trợ giữa các dân tộc sẽ tạo nên nguồn nội lực có ý nghĩa quyết định đảm bảo
cho thành cơng của tồn bộ sự nghiệp đấu tranh vì nước Việt Nam hịa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đồn kết,
bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc đã và đang là cơ sở lý luận chỉ đạo việc giải
quyết vấn đề dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.
Những thành tựu mà Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đạt được trong 87 năm
qua là kết quả của quá trình xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết, của
việc giải quyết tốt vấn đề dân tộc; thực hiện đồn kết, bình đẳng, tương trợ giữa
các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, tác động
không nhỏ đến vấn đề dân tộc trên bình diện quốc tế cũng như trong từng quốc

1


gia. Cùng với xu hướng chủ đạo là các quốc gia, các dân tộc cùng hợp tác, cạnh



Ý́ thức được điều đó, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt từ khi tái lập
tỉnh (1997) đến nay, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên rất coi trọng việc giải quyết vấn đề
dân tộc thông qua việc thực hiện các chính sách dân tộc, như gắn với xố đói giảm
nghèo, định canh định cư, chăm lo đời sống của nhân dân, bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hoá các dân tộc, củng cố hệ thống chính trị cấp cơ sở, v.v.. Do vậy, đời sống
nhân dân và bộ mặt nông thôn miền núi của tỉnh ngày càng đổi mới, quyền bình đẳng
giữa các dân tộc cũng được thể chế hóa đầy đủ và thực hiện trên thực tế, các dân tộc
đoàn kết chặt chẽ, tương trợ nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề
dân tộc có chỗ chưa thật sự tương xứng với tiềm năng và cũng chưa đáp ứng được yêu
cầu của nhân dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Đó là, khoảng cách giàu - nghèo,
chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, các nhóm dân tộc ngày càng lớn; tỷ lệ
nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi còn cao; chất lượng các cơng trình kết cấu hạ
tầng, như giao thơng, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa vẫn tồn tại một số bất cập;
bản sắc văn hoá các dân tộc đứng trước nguy cơ bị phai nhạt do tác động sâu sắc của
tồn cầu hóa, hội nhập và tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường; đội ngũ
cán bộ dân tộc vừa yếu về năng lực vừa bất hợp lý về cơ cấu; môi trường sinh thái bị đe
dọa nghiêm trọng; tín ngưỡng - tôn giáo diễn biến phức tạp, v.v.. Những vấn đề đó ảnh
hưởng trực tiếp đến an ninh và an sinh của đồng bào các dân tộc. Thực tế đó địi hỏi
vấn đề dân tộc của tỉnh Thái Nguyên cần được nhìn nhận khách quan, tồn diện
khơng chỉ từ góc độ của các nhà tổ chức thực tiễn, mà còn từ lăng kính của người
nghiên cứu và quan điểm đánh giá của các chủ thể văn hóa, từ đó cung cấp cơ sở
khoa học phục vụ quá trình hoạch định và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
dân tộc trên địa bàn tỉnh. Thực tiễn đó đang hối thúc mạnh mẽ việc nhận thức và
vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh chưa có cơng trình nghiên
cứu nào trực tiếp đề cập đến vấn đề này, tơi chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đồn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết
vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của của luận án

điểm tái lập tỉnh Thái Nguyên) đến nay, trong đó chú trọng tập trung vào thời
điểm hiện tại khi nghiên cứu sinh tiến hành điều tra xã hội học.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam.
- Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên đã
được Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (cũ) và Thái Nguyên tổng kết và qua kết quả điều tra xã

4


hội học do tác giả thực hiện; ngoài ra, luận án cịn được thực hiện trên cơ sở phân tích
dự báo xu thế biến động của vấn đề dân tộc trên địa bàn Thái Nguyên.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả luận án sử
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn, trong
đó đặc biệt chú trọng sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lơgíc.
Phương pháp lịch sử nhằm trình bày, phân tích các vấn đề có liên quan đến sự lãnh
đạo và thực hiện của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình lịch sử hiện thực.
Phương pháp lơgíc được sử dụng trong luận án nhằm khai thác, đánh giá những thành
tựu, hạn chế và những vấn đề được đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc và phân tích
dự báo xu thế ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng một số phương pháp khác, như phương
pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái
qt hóa, trừu tượng hóa, hệ thống - cấu trúc, phân tích văn bản, phân tích diễn
ngơn, v.v.. Trong đó, để góp phần cung cấp luận cứ thực tiễn cho việc thực hiện
luận án, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với 1 bộ phiếu hỏi
dành cho các chủ thể có liên quan: chủ thể hoạch định chính sách, chủ thể thực
hiện chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách, nhà khoa học (có mẫu phiếu, kết

liên quan đến vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 4 chương, 10 tiết.

6


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đồn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và
vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam nói chung và ở một địa
phương cụ thể nói riêng là một chủ đề khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc. Vì thế, vấn đề này được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tình hình
nghiên cứu vấn đề này được thể hiện trên những phương diện sau:
1.1.1. Tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; về
đồn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc
Chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng Hồ Chí
Minh là vấn đề dân tộc, đồn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Vì vậy, tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; đồn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân
tộc đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Nguyễn Dương Bình (chủ biên): “Chủ ti ̣ch Hờ Chí Minh và vấ n đề dân tộc”, Nxb
Khoa ho ̣c Xã hô ̣i, 1990. Cơng trình đã có những luận giải xác đáng về những quan
điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách dân tộc với tư tưởng
chủ đạo và xuyên suốt được Hồ Chí Minh nhất qn: Đồn kết, bình đẳng và tương trợ
lẫn nhau; vấn đề xây dựng, phát triển kinh tế - văn hóa miền núi và việc đạo tạo bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc: Tư tưởng bao trùm của Người là nhanh chóng
đưa miền núi thốt khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, làm cho miền núi tiến kịp miền xi.

Hội thảo khoa học: “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996. Cuốn sách tập hợp 40 bài
viết do Uỷ ban dân tộc và miền núi phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh tổ chức đầu năm 1995. Giá trị đặc biệt của cuốn sách đã phác họa sinh
động, đúng đắn di sản lý luận và giá trị phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Đây là nền tảng cơ sở quan trọng trong giải
quyết vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc trong quan hệ
dân tộc ở Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồng Trang - Phạm Ngọc Anh, trong cuốn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996. Cơng
trình đã đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc ở cấp độ
quốc gia - dân tộc trong quan hệ quốc tế; khẳng định thực chất vấn đề dân tộc là giải
phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc thực dân, thực
hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời, luận giải rõ việc giải
quyết vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong các giai đoạn cách mạng.
Nguyễn Bích Hạnh - Nguyễn Văn Khoan: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
kết và mặt trận đoàn kết dân tộc”, Nxb Lao động, 2001. Trong cuốn sách, hai tác giả đã
làm rõ toàn bộ hệ thống lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đồn kết; Hồ Chí Minh
với mặt trận đoàn kết dân tộc; đấu tranh giai cấp với tư duy của Nguyễn Ái Quốc. Từ

8


tầm vóc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, mặt trận đoàn kết dân tộc,
đấu tranh giai cấp, hai tác giả đã cho thấy giá trị to lớn, dẫn đường cho mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam trong tư tưởng của Người. Đúng như hai tác giả đã khẳng định:
“Bài học về đại đoàn kết, “đấu tranh giai cấp” này mãi mãi vẫn là một nhân tố quyết định
đồng hành với thắng lợi của đất nước ta, trong thế kỷ mới” [44, tr.84].
Bài viết của tác giả của tác giả Trần Kim Bình “Quan điểm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về cơng bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam” được


tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, bài viết cho thấy giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, tác giả khẳng định: “Đại đồn kết dân tộc khơng
chỉ là sức mạnh tinh thần, mà nó cịn là sức mạnh vật chất của dân tộc Việt Nam
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước..., việc khơi nguồn và phát triển
đến đỉnh cao sức mạnh của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan
trọng hơn bao giờ hết” [95, tr.21].
Cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” do Nguyễn Đức Ngọc (chủ biên), Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội năm 2007. Cơng trình đã luận chứng hai nội dung cơ bản trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về đồn kết dân tộc: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
đồn kết dân tộc; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và sự vận dụng trong
cách mạng Việt Nam. Với một hệ thống tri thức mang tính cách mạng và khoa học,
tập thể các tác giả đã khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đồn kết dân tộc là sự
kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống dân tộc và thời đại; là sự sáng tạo
những giá trị mới, làm phong phú kho tàng trí tuệ của dân tộc Việt Nam.
Là một trong những người có nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề dân
tộc, tác giả Phan Hữu Dật trong bài: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán
bộ dân tộc thiểu số ở nước ta”, đăng trên trang website Thi đua khen thưởng, năm
2007 đã nhận định và làm rõ những quan điểm định hướng mang tầm chiến lược của
Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số - một nhiệm vụ trọng yếu trong quan
điểm về chính sách dân tộc; mục tiêu của cơng tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số; về
chính sách cán bộ đối với cán bộ dân tộc thiểu số. Từ những quan điểm nền tảng của
Hồ Chí Minh, tác giả cho rằng, điều quan trọng nhất là Đảng và Nhà nước cần vạch ra
chiến lược về con người dân tộc thiểu số. Chỉ sau khi vạch được chiến lược con người
dân tộc thiểu số nước ta, thì mới có chỗ dựa vững chắc để xây dựng một đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm nước ta.
Trong bài “Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển kinh tế miền núi và vùng
đồng bào dân tộc thiểu số” của tác giả Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 11/2007. Bài viết đã làm rõ được những kiến giải và sự quan tâm đặc biệt của vị

đẳng giúp nhau giữa các dân tộc” và quyền bình đẳng đó được thực hiện trên tất cả các
lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục” [58, tr.39].
Năm 2012, Nxb Thơng tin và Truyền thông, Hà Nội đã xuất bản cuốn: “Hồ
Chí Minh về đại đồn kết xây dựng mặt trận và các đoàn thể quần chúng”. Cuốn sách
đã cung cấp một cách có hệ thống những thành tựu nghiên cứu lý luận và sự vận dụng
của Đảng ta về đại đoàn kết, xây dựng Mặt trận và các đoàn thể quần chúng theo tư
tưởng Hồ Chí Minh. Trong số các bài viết, tác giả Phạm Ngọc Anh với nội dung: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đồn kết dân tộc và mặt trận dân tộc thống nhất” từ việc
làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận
dân tộc thống nhất, tác giả kết luận: Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sức
sống kỳ diệu của tư tưởng đại đồn kết Hồ Chí Minh. Ngồi ra, tác giả Bùi Đình Phong
với bài viết: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận vào việc thực hiện đại đoàn
kết toàn dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới” từ những kiến giải về hệ thống lý

11


luận Dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã tập trung làm rõ những yêu cầu
cần thiết cần phải thấm nhuần và quán triệt tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh thì càng có
cơ hội về thực hiện đại đồn kết dân tộc trong tình hình mới.
Trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề các dân tộc bình đẳng, đồn kết
giúp đỡ nhau” được đăng trên website của Tạp chí Tuyên giáo (18/3/2014), tác giả
Trịnh Xuân Thắng đã làm rõ hai vấn đề: Hồ Chí Minh với vấn đề bình đẳng giữa
các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn
kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Từ những vấn đề được đặt ra, tác
giả khẳng định, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong chính sách dân tộc theo Hồ Chí
Minh là thực hiện bình đẳng, đồn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc.
Nghiên cứu về công tác dân tộc, tác giả Hoàng Xuân Lương trong bài “Suy
ngẫm tư tưởng Hồ Chí Minh về cơng tác dân tộc” đăng trên trang website của Tạp
chí Dân tộc, năm 2015 đã khẳng định, công tác dân tộc của nước ta đạt nhiều thành

và cấp bách thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi. Với các vấn đề: Vấn
đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta; thực trạng kinh tế - xã hội
và những vấn đề cấp bách hiện nay ở các dân tộc và miền núi; những nhận thức và
quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, tác giả đã
dành một chương đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở
nước ta. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội ở vùng dân
tộc thiểu số, tác giả đưa ra những kết luận khá tồn diện về chính sách dân tộc trong
thời kỳ mới, trong đó khẳng định: phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để thực hiện
chính sách dân tộc.
Cuốn sách: “Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta” (Tài liệu bồi
dưỡng cán bộ về công tác dân tộc) của Uỷ ban dân tộc và miền núi, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001. Xuất phát từ tầm quan trọng nội tại của vấn đề dân tộc và công tác
dân tộc, các tác giả cuốn sách đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc có ý
nghĩa quan trọng và to lớn trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân, trong toàn bộ sự
nghiệp cách mạng. Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm xây dựng quan hệ bình đẳng, đồn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát
triển giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Với những lập luận
mang tính khoa học, cuốn sách đã phân tích những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, những đặc điểm chủ yếu của
các dân tộc thiểu số; đồng thời, khái quát chính sách dân tộc của Đảng và Nhà và một
số công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay với nội dung xun
suốt là: thực hiện bình đẳng, đồn kết, tương trợ giữa các dân tộc.
Cuốn sách: “Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong
thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hố”, Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và
miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Cơng trình đã tập hợp nhiều bài
viết của các tác giả tham gia hội thảo khoa học về “Vấn đề dân tộc và định hướng
xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước”.

13


qua các thời kỳ từ 1930 đến nay. Mặt khác, các tác giả, thông qua khảo sát thực tế
tại vùng dân tộc như Tây Bắc, Tây Nguyên, đã rút ra những kết luận,với những
thành công và hạn chế trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước ta, xác định tổng quát những quan điểm chung và phương
hướng lớn về chính sách dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong thực tiễn nhằm

14


đảm bảo cơng bằng, bình đẳng, đồn kết, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển. Đặc
biệt, qua cơng trình nghiên cứu này, các tác giả cũng làm rõ: khái niệm “dân tộc” để
chỉ các dân tộc thiểu số mà chúng ta đang sử dụng chính thức và rộng rãi thực ra là
khái niệm “quốc gia dân tộc”, đúng ra nên dùng khái niệm “tộc người” để chỉ các
dân tộc, kể cả người Kinh và các “dân tộc thiểu số” trong quốc gia đa dân tộc Việt
Nam [87, tr.250].
Tác giả Hoàng Chí Bảo (chủ biên): “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp
tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009. Đây là cơng trình nghiên cứu cơng phu và có hệ
thống về bình đẳng, tăng cường hợp tác giữa các dân tộc, tác giả đã có những nhận
thức lý luận mới về dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc, đánh giá thực
trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc. Thông qua, những thành tựu
và hạn chế trong q trình thực hiện chính sách dân tộc từ thực tiễn, tác giả rất
khách quan nhận định: Những bất cập, hạn chế trong việc giải quyết các quan hệ
dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đều có thể làm phát sinh những mâu thuẫn,
những xung đột dân tộc và giữa các tộc người trong quá trình phát triển. Nó gây tổn
hại lớn tới khối đại đồn kết dân tộc, cản trở và kìm hãm sự phát triển của dân tộc
và của từng tộc người, đồng thời làm suy giảm và triệt tiêu nội lực, động lực phát
triển chung của đất nước, quốc gia - dân tộc. Từ việc tổng kết thực tiễn, tác giả đã
dự báo các xu hướng, đề xuất các giải pháp và nêu lên những kiến nghị về chính
sách và các vấn đề có liên quan tới sự phát triển của các tộc người, các quan hệ dân

quốc về vấn đề phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Vì vậy, chuyên khảo này
được hình thành như một đóng góp vào việc cung cấp luận cứ và giải pháp cho phát
triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số nước ta.
Cuốn sách: “phát triển bền vững văn hố tộc người trong q trình hội nhập ở
vùng Đơng Bắc”, Vương Xuân Tình - Trần Hồng Hạnh (Đồng chủ biên), Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2012. Cơng trình nghiên cứu được luận giải trong 5 chương.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chính được thể hiện tập trung ở chương 3,4,5. Trong
những chương này, trên cơ sở nhận diện q trình hội nhập của các tộc người vùng
Đơng Bắc, các tác giả đã phân tích thực trạng và đánh giá mức độ bền vững về văn
hoá của họ; đồng thời xem xét tác động của hội nhập đến sự bền vững đó. Trên cơ
sở đó, các tác giả đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để đảm bảo phát triển
bền vững văn hoá của các tộc người được nghiên cứu ở vùng Đông Bắc Việt Nam.
Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (đồng chủ biên, 2013) trong cuốn sách
“Một số vấn đề cơ bản về kinh tế - xã hội các tỉnh Biên giới Việt Nam”, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội đã tập trung nghiên cứu vấn đề cơ bản về kinh tế các vùng biên giới;
vấn đề nghèo đói, chênh lệch phát triển và ảnh hưởng của các yếu tố xã hội của tộc
người và phát triển các vùng biên giới; vấn đề tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự ở các
tỉnh biên giới; vấn đề cơ hội, thách thức cho sự phát triển về kinh tế - xã hội vùng biên
giới và khuyến nghị.
Cuốn sách “Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Sỹ Họa, Nxb Quân đội nhân dân, 2015.

16


Cuốn sách trình bày nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở
Việt Nam; đánh giá thực trạng, nêu ra những vấn đề cấp bách trong thực hiện bình
đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời chỉ ra
một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác này. Cuốn sách đã cho chúng ta
thấy được một vấn đề rất rộng lớn có giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì,

17


các quan hệ tộc người và quan hệ dân tộc: lý luận và lịch sử, những vấn đề của Việt
Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Quốc Phẩm đã làm rõ những vấn đề có tính lý luận
về khái niệm dân tộc và tộc người; quan hệ dân tộc, quan hệ tộc người; theo đó tác
giả đã đề cập đến vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, cơng tác dân tộc ở Việt Nam.
Cũng trong bài “Về bảo đảm công bằng, bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các
dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đa dân tộc ở miền núi nước ta hiện
nay”. Bài viết đã đề cập một cách khá chi tiết về vấn đề cơng bằng, bình đẳng, tăng
cường hợp tác; công bằng xã hội và tương trợ cùng phát triển giữa các tộc người và
những vấn đề đặt ra trong q trình thực hiện cơng bằng, bình đẳng, tương trợ nhau
cùng phát triển giữa các tộc người ở nước ta. Đặc biệt, trong khía cạnh nghiên cứu
của mình, hai tác giả đã phác họa một bức tranh khá tổng thể về thực trạng cơng
bằng, bình đẳng, tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã
hội tại các vùng đa dân tộc ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên càng cho thấy rằng,
nếu nhận thức, giải quyết không đúng quan hệ dân tộc, không xóa bỏ sự khác biệt
giữa các dân tộc, khơng thực hiện sự bình đẳng, đồn kết, hợp tác sẽ khơng thể tạo
ra sự ổn định chính trị và tất nhiên xung đột giữa các quốc gia sẽ diễn ra.
Trong bài: “Đánh giá sự phát triển bền vững chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh
Thái Nguyên trên quan điểm phát triển bền vững giai đoạn 2000 - 2009” của tác giả
Nguyễn Văn Sơn, Tạp chí Khoa học & Cơng nghệ Thái Nguyên, Tập 80, số 4/2011.
Mặc dù không nghiên cứu một cách chuyên biệt về vấn đề dân tộc hay bình đẳng
dân tộc song trong khía cạnh nghiên cứu của mình, tác giả đã gián tiếp đề cập đến
vấn đề phát triển bền vững chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên trên quan
điểm phát triển bền vững để tạo ra sự cơng bằng và bình đẳng cho các dân tộc trong
tỉnh Thái Nguyên. Từ việc xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá, làm cơ sở, tiền
đề chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu về kinh tế, xã hội và mơi trường, từ đó đề
xuất các giải pháp về hoạch định chính sách, phát triển vĩ mơ của hệ thống và sự
chuyển dịch các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo ổn định và

với những đối thoại giữa các cơ quan Chính phủ, các bên liên quan (bao gồm cả cộng
đồng xã hội), và các đối tác phát triển về các kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo và
phát triển bền vững tại vùng núi Việt Nam, để tìm ra hướng tiếp cận phát triển bền
vững và xóa đói giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số khu vực miền núi. Đặc biệt, hội
thảo này đã có nhiều bài viết của các tác giả nhằm chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về xóa
đói giảm nghèo cho dân tộc thiểu số tại những vùng núi và vùng xa xôi hẻo lánh, nhất
là các khu vực có điều kiện địa lí, kinh tế tương đồng; đưa ra các giải pháp lựa chọn
khác cho vùng núi phía Bắc để nhận được nhiều hơn và sâu sắc hơn những sự can
thiệp tích cực; xây dựng các chính sách và lựa chọn dự án về các sáng kiến giảm
nghèo có thể phổ biến rộng rãi trong khu vực. Điều này có một ý nghĩa rất lớn, nhằm
giải quyết một vấn đề cấp bách về phát triển bền vững và giảm nghèo cho đồng bào
các dân tộc thiểu số miền núi nước ta hiện nay.
Hồng Thu Thủy (2014) “Q trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở
một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010”, Luận án Tiến sĩ, Học
viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính

19


sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm
2010 và tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010.
Trong bài viết: “Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ dân tộc thiểu
số huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” được đăng tải ở Tạp chí Khoa học & Công
nghệ Thái Nguyên, Tập 145, số 15/2015, hai tác giả Trần Lệ Thị Bích Hồng và Đỗ
Anh Tài đã đi sâu vào việc phân tích một số yếu tố liên quan đến năng lực tự vươn
lên thoát nghèo và không tái nghèo của các hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên. Từ đó tác giả chỉ rõ mặt hạn chế, cũng như thuận
lợi, khó khăn của địa phương trong thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo. Giá
trị của bài viết tập trung ở việc đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ dân tộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status