THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH Ở CÔNG TY ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIÊP.
2.1. Giới thiệu sơ lược về công ty Điện tử công nghiệp:
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty điện tử công nghiệp:
- Tên doanh nghiệp: Công ty Điện tử công nghiệp.
- Tên giao dịch: Industrial electronic company
- Tên viết tắt: CDC
- Trụ sở giao dịch: 444- Bặch Đằng – quận Hoàn Kiếm- Tp Hà Nội
- Tên cơ quan sáng lập: Viện máy và dụng cụ công nghiệp
- QĐ thành lập: 269 QĐ/TC NSĐT ngày 22/05/93 thuộc Bộ Công nghiệp
nặng
- Loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp Nhà nước
Công ty Điện tử công nghiệp tiền thân là công ty dịch vụ điện tử
VESCOI, là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh công nghiệp trực thuộc
Tổng công ty điện tử và tin học Việt Nam được thành lập ngày 24 tháng 10 năm
1984 theo QĐ số 160 thuộc Tổng cục Trưởng Tổng cục điện tử và kỹ thuật tin
học.
Năm 1993, thành lập lại công ty điện tử 1. Tên giao dịch quốc tế lúc này
là VIECO. Trụ sở giao dịch ở 11B-Phan Chu Trinh- quận Hoàn Kiếm - Tp Hà
Nội, đặt chi nhánh riêng ở Tp HCM và thị xã Lạng Sơn; chi nhánh có con dấu
riêng, tròn theo quy định hiện hành.
Đến ngày 22/06/1996 theo QĐ số 1719/QĐ-TCCB của Bộ trưởng Bộ
Công nghiệp, công ty được đổi tên thành công ty điện tử công nghiệp.
Sau 20 năm thành lập, cùng với sự phát triển chung của cả nước cũng như của
ngành, công ty đã lớn mạnh không ngừng về doanh số, cơ sở vật chất, tài sản và
nhân sự nhờ việc tăng cường sức mạnh cả về quản lý và thay đổi máy móc thiết
bị hiện đại, sản phẩm của công ty được khách hàng tín nhiệm. Từ chỗ mới thành
lập, công ty không có địa điểm sản xuất kinh doanh, phải đi thuê địa điểm tại
phố Huế, nay đã có địa điểm sản xuất kinh doanh riêng của mình tại 444-Bạch
Đằng-quận Hoàn Kiếm-Tp Hà Nội khang trang, rộng rãi, diện tích 2500m2 với
đầy đủ trang thiết bị. Nhân sự công ty đã tằng từ 07 người nay lên 225 người.
sách của Nhà nước đối với người lao động.
- Phòng tài chính- kế toán: có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động kinh
doanh của công ty. Là phòng có chức năng tham mưu đắc lực cho ban lãnh đạo
công ty. Thông qua tình hình mua sắm, nhập máy móc, thiết bị; tổ chức công tác
hạch toán kế toán, thực hiện công tác quản lý đầu tư dự án, các chương trình kế
toán theo chuẩn mực kế toán hiện hành.
- Phòng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu: phụ trách các vấn đề liên
quan đến xuất nhập khẩu. Như nhập khẩu linh kiện theo đơn đặt hàng, theo dõi
đầu ra đầu vào.
- Phòng khoa học, nghiên cứu và phát triển: có nhiệm vụ nghiên cứu các
sản phẩm mới, thiết bị mới để ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
của công ty, tăng được uy tín của công ty trên thị trường.
* Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của công ty:
Phòng tài chính-kế toán có 7 người, gồm: 1 kế toán trưởng, 1 kế toán
thanh toán, 1 kế toán giá thành và tiêu thụ, 1 kế toán ngân hàng, 2 phó phòng và
1 thủ quỹ.
- Kế toán trưởng là người giúp giám đốc trong tổ chức điều hành tổng
hợp công tác kế toán tài chính toàn công ty.
- 2 phó phòng và các nhân viên kế toán còn lại chịu trách nhiệm giúp kế
toán trưởng trên các lĩnh vực cụ thể do kế toán trưởng giao.
- Kế toán thanh toán: phụ trách theo dõi thu, chi, tạm ứng các khoản
BHXH, KPCĐ.
- Kế toán giá thành và tiêu thụ: phụ trách theo dõi tình hình tiêu thụ sản
phẩm, giá thành các loại sản phẩm.
- Kế toán ngân hàng: trực tiếp giao dịch với ngân hàng.
- Thủ quỹ: quản lý hóa đơn chứng từ, cấp phát tiền và các công việc có
Kế toán trưởng
Kế toán ngân hàngKế toán thanh toán Kế toán giá thành Thủ quỹ Phó phòng Phó phòng
Nhân viên kế toán ở các trung tâm và xí nghiệp thành viên
liên quan…
kỹ thuật số.
- Tư vấn thiết kế xây dựng các công trình điện có cấp điện áp đến 35
KW
* Quy trình sản xuất:
Công ty điện tử công nghiệp là doanh nghiệp vừa sản xuất vừa kinh
doanh thương mại khi có khách hàng đặt hàng như: xây lắp các trạm biến thế,
lắp ráp các phần mềm tin học theo từng đặc thù mà khách hàng yêu cầu. Doanh
nghiệp phải lên hạch toán mua các chi tiết (nếu có thể sản xuất được thì mua
nguyên vật liệu) sao cho phù hợp với đơn đặt hàng sau đó đưa về phân xưởng
để tiến hành sản xuất và lắp ráp.
Công ty chủ yếu đi đấu thầu hợp đồng, nếu thắng thầu công ty đi mua một số
linh kiện về lắp giáp thành sản phẩm rồi bán ra thị trường.
* Các yếu tố đầu vào:
Để kinh doanh có hiệu quả công ty thường xuyên tìm nguồn cung ứng
cho mình đáp ứng cho hoạt động kinh doanh.
Với đặc thù và điều kiện kinh doanh của công ty hiện nay, nguồn hàng vào của
công ty đã được cải thiện nhờ có nguồn hàng nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài
như một số mặt hàng điện tử điện lạnh.
* Cơ sở vật chất:
Hoạt động của công ty là sản xuất và kinh doanh, nhưng chủ yếu công ty
chú trọng vào hoạt động thương mại nhiều hơn, phần sản xuất do cơ sở vật chất
và yếu tố con người cho hoạt động này còn hạn chế nên chưa thực sự phát triển.
Do đặc thù kinh doanh nên công ty không có kho chứa hàng lớn để sản xuất
hàng hóa vì thế mảng sản xuất hàng hóa của công ty còn hạn chế. Tuy nhiên
trong những năm gần đây, công ty đã chú trọng đầu tư đổi mới trang thiết bị
hiện đại nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên
thị trường.
2.1.3: Tình hình thị trường:
Với phương châm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, thị trường của công
ty rất lớn. Ban lãnh đạo công ty đã đề ra phương án tiếp cận thị trường có hiệu
6
251,236,117,49
4
3. Tổng lợi nhuận trước thuế
Đồng
3,646,351,412 4,177,428,882
4. Lợi nhuận sau thuế
Đồng
2,625,373,017 3,007,748,796
5. TSLN VKD (trước thuế)
%
1.55 1.66
6. TSLN VCSH
%
49.09 56.11
7. Số lao động
Người
225 230
8. Thu nhập bình quân 1
CNV
đ/ng/thán
g
1,720,000 1,850,000
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy, doanh thu của công ty liên tục tăng lên
trong hai năm 2005 và 2006. Doanh thu năm 2006 đã tăng so với năm 2005 là
23.816.203.968đ với tỷ lệ tăng là 10,47%. Đây là kết quả của sự nỗ lực của
công ty trong thời gian qua. Công ty đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu,
khai thác triệt để khả năng và tiềm lực sẵn có để mở rộng thị trường, phong
cách phục vụ khách hàng, nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm thỏa mãn nhu
cầu thị hiếu tiêu dùng. Bên cạnh đó, công ty còn sử dụng các khoản chi phí một
doanh thêm nhiều lĩnh vực mới, xây dựng được nhiều mối quan hệ mật thiết với
những doanh nghiệp, công ty lớn ở nước ngoài như SIEMENS, TOSHIBA,
OMRON…
- Hiện nay, nền kinh tế đang bước vào giai đoạn hội nhập và phát triển đã
tạo điều kiện cho công ty áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật có trình độ kỹ thuật cao thường xuyên được đào tạo và đào tạo lại, có kiến
thức thực tế, năng động và sáng tạo trong công việc. Đội ngũ cán bộ quản lý của
công ty có trình độ và kinh nghiệm trong công tác quản lý và yên tâm công tác
dưới sự lãnh đạo của ban giám đốc, chi bộ Đảng và công đoàn vững mạnh.
- Kinh tế thị trường đã làm tăng số lượng các công ty xuất nhập khẩu, tiêu
thụ sản phẩm trực tiếp; do đó tạo ra sự cạnh tranh đòi hỏi các công ty phải
không ngừng phát huy tính năng động và sáng tạo, không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm, coi hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu
- Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong vấn đề tiêu thụ sản
phẩm thông qua việc tổ chức liên tục các hội chợ triển lãm với quy mô lớn để
các doanh nghiệp có cơ hội tìm đến đối tác ký HĐ SX và tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời các doanh nghiệp có thể trao đổi học hỏi kinh nghiệm của đối tác,
qua đó để tìm hiểu thị trường.
- Công ty luôn có sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Bộ Công nghiệp, ban
giám đốc cùng với sự hợp tác chặt chẽ của các chi nhánh và trung tâm trực
thuộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của công ty.
* Khó khăn:
- Các sản phẩm điện tử, điện lạnh của công ty đang gặp phải sự cạnh
tranh gay gắt của các doanh nghiệp trong ngành. Ngày nay, đồ dùng gia đình
ngày càng được ưa chuộng, có thể nói là nhu cầu không thể thiếu được, nhiều
loại sản phẩm cùng nhiều loại mẫu mã khác nhau được tung ra thị trường. Các
hãng khác cũng gia nhập ngành. Vì thế công ty phải tìm cách tạo cho mình đặc
trưng riêng, khác biệt – một điều không phải dễ dàng.
- Do kinh phí hạn hẹp nên công tác Marketing, quảng cáo sản phẩm còn
5 99.12
B. Tài sản dài hạn 2,878,468,188 1.6 2,869,314,214 0.88
TỔNG NGUỒN VỐN 179,611,234,20 100 325,171,009,96 100
7 9
A. Nợ phải trả
174,266,274,60
3 97.02
319,795,528,35
6 98.35
B. Vốn chủ sở hữu 5,344,959,604 2.98 5,375,481,613 1.65
Tổng giá trị tài sản của công ty tính đến ngày 31/12/2006 là
325.171.009.969đ tăng 145.559.775.762đ so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó:
Tài sản ngắn hạn là 322.301.695.755đ chiếm tỷ trọng 99,12% trong tổng giá trị
tài sản; Tài sản dài hạn là 2.869.314.214đ chiếm tỷ trọng là 0,88%. Tỷ trọng tài
sản dài hạn trong năm nay giảm so với năm trước (từ 1,6% xuống 0,88%) là do
trong năm 2006 công ty không thực hiện dầu tư nhiều vào TSCĐ mà chú trọng
hơn vào việc khai thác sử dụng công suất của các tài sản được đầu tư từ năm
ngoái, phần giá trị khấu hao nhiều hơn.VLĐ chiếm lớn trong VKD là do đặc
điểm kinh doanh của công ty chủ yếu chú trọng vào hoạt động thương mại hơn
là sản xuất sản phẩm, thực hiện theo hợp đồng là chủ yếu nên đòi hỏi VLĐ rất
lớn.
Về nguồn vốn kinh doanh trong năm 2006 số nợ phải trả của công ty là
319.795.528.356đ chiếm tỷ trọng 98,35% tổng nguồn vốn, phần còn lại là vốn
CSH 5.375.481.613đ chiếm tỷ trọng 1,65%.
Ta đi phân tích chi tiết về nguồn vốn của công ty qua số liệu ở bảng 3:
* Đối với nợ phải trả:
So với đầu năm, tổng nợ phải trả của công ty tăng 145.529.253.753đ với
tỷ lệ tăng là 83,51% so với năm 2005, trong đó nợ ngắn hạn tăng
15.382.637.5326đ với tỷ lệ là 92,77% còn nợ dài hạn giảm 8.297.121.573đ
tương ứng với tỷ lệ 98,11% chiếm tỷ trọng 0,05%. Nguyên nhân này là do nhu
thể chiếm dụng tạm thời vào múc đích sản xuất kinh doanh mà không phải trả
lãi. Tuy nhiên khoản này lại chiếm tỷ trọng nhỏ, trong những năm tới công ty
cần có biện pháp sử dụng triệt để hơn nữa các khoản này.
Các khoản khác như phải trả nội bộ và phải trả phải nộp khác cũng tăng
cao tương ứng với tỷ lệ là 136,53% và 370%
Việc tăng các khoản nợ cho thấy công ty đã tận dụng tốt lợi thế của
người đi mua huy động các khoản chiếm dụng vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Sự tăng lên hoàn toàn hợp lý bởi đây là những khoản nợ mà doanh
nghiệp được chiếm dụng sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không
phải trả lãi. Tuy nhiên tỷ trọng của các khoản vay và nợ ngắn hạn, các khoản
phải trả phải nộp khác nên ở mức độ vừa phải để tránh làm ảnh hưởng đến khả
năng thanh toán của công ty.
* Đối với nguồn vốn chủ sở hữu: Cuối năm tăng lên so với đầu năm là
30.522.009đ tương ứng với tỷ lệ 0,57%, chiếm tỷ trọng là 1,65% trong tổng
nguồn vốn. Trong đó, VCSH tăng 102.712.715đ với tỷ lệ 1,93% là do lợi nhuận
chưa phân phối tăng 163610735đ với tỷ lệ 83,35%. Còn quỹ đầu tư và phát
triển, nguồn và kinh phí khác giảm tương ứng với tỷ lệ 5,63% và 52,02%.
VCSH tăng là do công ty cho phép giữ lại một phần lợi nhuận chưa phân phối
để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Để phân tích chính xác hơn về tính hợp lý trong công tác tổ chức vốn
kinh doanh của công ty trong năm 2006, ta đi xem xét một số chỉ tiêu sau: