hoạt động kinh doanh xuất khẩu ở Công ty Thương mại Hữu Nghị 2 - Pdf 70

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh Quốc tế đóng một vai trò quan trọng vào sự
thành công của công cuộc Công nghiệp hoá_Hiện đại hoá đất nước. Đặc
biệt là lĩnh vực hoạt động xuất khẩu từ lâu đã chiếm một sự quan trọng
hàng đầu trong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Báo cáo
chính trị của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại Đại hội lần thứ VIII
nhấn mạnh: “giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế,
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào các nguồn lực
trong nước là chính đi đôi tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng
một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất
khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản
xuất có hiệu quả”. Vai trò này đã được Đảng ta nhận thức rất sớm và nhấn
mạnh từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Đại hội đã khẳng
định: “xuất khẩu là một trong ba chương trình cốt lõi của nhiệm vụ kinh tế
xã hội trong 5 năm 1986-1990, không những có ý nghĩa sống còn đối với
tình hình trước mắt mà còn là những điều kiện ban đầu không thể thiếu
được để triển khai Công nghiệp hoá Xã hội Chủ nghĩa trong những chặng
đường tiếp theo”.
Xuất khẩu là cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh đem lại
lợi nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất
khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và xây dựng cơ sở
hạ tầng. Nhà nước ta luôn luôn coi trọng và hối thúc các nghành kinh tế
hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất
khẩu để giải quyết công ăn việc làm và nâng cao mức sống.
Nhận thức được sự phức tạp và tầm quan trọng của hoạt động xuất
khẩu, cũng như trước đòi hỏi thực tế của việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
của công tác xuất khẩu, cùng với những kiến thức được trang bị tại nhà
1
trường và những tìm hiểu thực tế trong đợt thực tập cuối khoá tại Công ty
Thương Mại Hữu Nghị II, để đi sâu nghiên cứu vấn đề em mạnh dạn chọn
đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh

phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia ( hay thị trường nội địa với các
khu chế xuất trong nước ).
Cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình
phát triển . Do khác nhau về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân
lực, các nguồn tài nguyên... dẫn đến sự khác biệt về lợi thế trong các lĩnh
vực khác nhau của các quốc gia . Để khai thác tối đa lợi thế và khắc phục
các hạn chế , tận dụng các cơ hội và hạn chế các thách thức tạo ra sự cân
bằng các yếu tố trong quá trình sản xuất và tiêu dùng , các quốc gia phải
tiến hành trao đổi các loại hành hoá và dịch vụ cho nhau.
Tuy nhiên, xuất khẩu không phải chỉ diễn ra giữa các quốc gia có những
lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác. Ngay cả khi các quốc gia không
có lợi thế về điều kiện tự nhiên , nguồn nhân lực , tài nguyên thiên nhiên...
3
thì quốc gia đó vẫn có thể thu được lợi ích không nhỏ khi tham gia vào hoạt
động xuất khẩu.
Cơ sở và lợi ích xuất khẩu đã được chứng minh qua lý thuyết lợi thế so
sánh.
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc
gia khác trong việc sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn
có thể tham gia hoạt động xuất khẩu để tạo ra lợi ích cho mình, nếu bỏ qua
thì quốc gia đó sẽ mất cơ hội phát triển. Khi tiến hành hoạt động xuất khẩu,
quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá vẫn có
thể thu được lợi ích cho mình bằng việc chuyên môn hoá vào sản xuất loại
hàng hoá, mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất để trao đổi với các
quốc gia khác, đồng thời nhập khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất
ra chúng là bất lợi nhất.
Mô hình so sánh của David Ricardo được xây dựng dựa trên 5 giả thiết
được đơn giản hoá sau đây:
1. Thế giới chỉ có hai quốc gia và hai hàng hoá. Mỗi quốc gia có lợi

đổi theo tỉ lệ này do đó họ sẽ không trao đổi. Tương tự như vậy, nếu trao
đổi 1m vải lấy 2 kg gạo thì Việt Nam cũng từ chối trao đổi này, bởi vì Việt
Nam sẽ không được lợi gì khi mà ngay trong nước tỷ lệ trao đổi này đang
được diễn ra. Do đó, tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm ở khoảng giữa tức là:
2
1
< Tỉ lệ trao đổi quốc tế vải/gạo <
4
6
Bây giờ giả sử trao đổi 1m vải lấy 1 kg gạo. Trong trường hợp này nếu
Nhật Bản trao đổi 6m vải lấy 6 kg gạo thì Nhật Bản sẽ được lợi 2kg gạo
5
hay tiết kiệm được
2
1
giờ công. Còn Việt Nam nhận được 6m vải mà bình
thường Việt Nam phải mất 6 giờ công mới sản xuất được. Nếu 6 giờ công
ấy Việt Nam dành để sản xuất gạo sẽ thu được 12 kg gạo và chỉ phải dùng
6kg gạo để đổi lấy 6m vải và như vậy Việt Nam đã lợi 6 kg gạo hay tiết
kiệm được 3 giờ công.
Qua phân tích ví dụ trên cho thấy, hoạt động xuất khẩu mang lại lợi ích
cho cả hai quốc gia bằng cách xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế so sánh
và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn
hoá sản xuất và trao đổi hàng hoá khai thác tốt lợi thế của mỗi quốc gia.
2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân.
Xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và
lưu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích
liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác. Hoạt động đó
không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn
bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của Nhà nước.

hiện đại từ bên ngoài nhằm trang bị cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập
khẩu thường dựa vào các nguồn chủ yếu sau đây: Vay, viện trợ, đầu tư
nước ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và
đầu tư nước ngoài thì có hạn, hơn nữa các nguồn này thường bị phụ thuộc
vào nước ngoài, vì vậy nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu thiết bị
chính là xuất khẩu. Ngược lại, nếu nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu làm
thâm hụt cán cân thương mại quá lớn sẽ có thể ảnh hưởng xấu đến nền kinh
tế quốc dân.
7
2.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển.
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới
đã và đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của các quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Ngày nay, đa số các nước đều lấy nhu cầu thị trường thế giới làm cơ sở
để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Điều đó có tác động tích cực đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này
thể hiện:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các nghành khác có cơ hội phát triển.
Chẳng hạn, khi phát triển nghành dệt-may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện
đầy đủ cho việc phát triển các nghành sản xuất nguyên liệu như trồng
bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy hấp... Cũng như vậy, sự phát triên của nghành
chế biến thực phẩm xuất khẩu cũng có thể kéo theo sự phát triển của
nghành công nghiệp trồng trọt , chăn nuôi và cả các nghành công nghiệp
khác như xay xát, chế biến thức ăn gia súc...
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp phần
làm cho sản xuất ổn định và phát triển, tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô
(hiệu quả kinh tế nhờ quy mô).
- Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, nâng cao hiệu quả
sản xuất của quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển

2.4 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống trên nhiều phương diện. Một mặt
sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và
có thu nhập ổn định. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật
9
phẩm tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng phong phú của
nhân dân.
2.5 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế với các
nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên thương trường quốc tế ...
xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng,
đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế... Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối
ngoại lại tạo tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu.
Có thể nói, xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát
triển kinh tế mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu như là yếu tố bên
trong trực tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền
kinh tế như : vốn, kỹ thuật, lao động, nguồn tiêu thụ thị trường...
Đối với nước ta hướng mạnh về xuất khẩu là một trong những mục tiêu
quan trọng trong phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, qua đó tranh thủ đón
bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại , rút ngắn sự chênh lệch
về trình độ phát triển của Việt Nam so với thế giới. Kinh nghiệm cho thấy,
bất cứ một quốc gia nào và trong thời kỳ nào đẩy mạnh được xuất khẩu thì
nền kinh tế của nước đó trong thời gian đó có tốc độ phát triển cao.
Tóm lại, thông qua xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất xã
hội bằng việc mở rộng trao đổi và thúc đẩy việc tận dụng các lợi thế, tiềm
năng và cơ hội của Đất nước.
3.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với các Doanh nghiệp.
Ngày nay, xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng

hàng hoá dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các
đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ
11
chức của mình. Về nguyên tắc, xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi
ro trong kinh doanh, song nó lại có những ưu điểm nổi bật sau: Giảm bớt
chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Có thể liên hệ
trực tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trường nước ngoài, biết được
nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng ở đó nên ta có thể thay đổi
sản phẩm và những điều kiện bán hàng trong trường hợp cần thiết.
2.Xuất khẩu uỷ thác.
Là hình thức kinh doanh, trong đó đơn vị ngoại thương đóng vai trò là
người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng mua
bán ngoại thương, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá
cho nhà sản xuất và qua đó thu được một số tiền nhất định ( thường là tỷ lệ
% của giá trị lô hàng xuất khẩu).
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là
không cần bỏ vốn vào kinh doanh, tạo được việc làm cho người lao động
đồng thời cũng thu được một khoản lợi nhuận đáng kể. Ngoài ra trách
nhiệm trong việc tranh chấp và khiếu nại thuộc về người sản xuất.
12
3.Xuất khẩu gia công uỷ thác.
Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra
nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia công, sau đó thu
hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nước ngoài. Đơn vị được hưởng phí uỷ
thác theo thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất.
Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp thương mại không cần bỏ vốn
vào kinh doanh nhưng vẫn thu được lợi nhuận, rủi ro ít hơn, việc thanh toán
chắc chắn hơn. Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải tiến hành nhiều công việc, nhiều
thủ tục xuất nhập khẩu, các cán bộ kinh doanh phải có kinh nghiệm và
nghiệp vụ kể cả trong quá trình giám sát và kiểm tra công việc.

công, ngoài việc tạo việc làm và thu nhập cho người lao động họ còn có
điều kiện cải tiến và đổi mới máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ nhằm
nâng cao năng lực sản xuất. Đối với nước đặt gia công họ cũng có lợi ích vì
lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia
công.
Hình thức xuất khẩu này, chủ yếu được áp dụng trong những ngành sản
xuất sử dụng nhiều lao động và nguyên vật liệu như dệt may, giày da...
Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế
mà có được một nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái
Lan, Xingapore...
7.Tái xuất khẩu.
Nội dung của hình thức xuất khẩu này là xuất khẩu những hàng hoá mà
trước đây đã nhập khẩu và chưa tiến hành các hoạt động chế biến. Ưu điểm
của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao
14
mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc thiết bị,
khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn.
Chủ thể tham gia hoạt động tái xuất khẩu nhất thiết phải có sự tham gia
của ba quốc gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất khẩu.
Hàng hoá là đối tượng xuất khẩu có thể đi thẳng từ nước xuất khẩu tới
nước nhập khẩu hoặc từ nước xuất khẩu sang nước tái xuất khẩu và sau đó
mới tới nước nhập khẩu. Sỡ dĩ có hoạt động tái xuất khẩu là do sự thuận lợi
và khó khăn trong quan hệ thương mại giữa các nước xuất khẩu và nước
nhập khẩu, chẳng hạn như bị cấm vận, trừng phạt kinh tế...
Tóm lại, các hình thức xuất khẩu có nhiều và rất đa dạng. Trong thực tế
hoạt động xuất khẩu, đối với một doanh nghiệp có thể thực hiện cùng một
lúc một hay một vài hình thức xuất khẩu khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện
và khả năng thực tế của từng doanh nghiệp cụ thể.
III.NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU.
Xuất khẩu là hoạt động hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều

chính. Phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp nghiên cứu tại hiện
trường. Thông thường nghiên cứu thị trường bao gồm các công việc sau
đây:
Một là, nghiên cứu thị trường bao gồm:
- Phân tích tình hình cung: trước hết cần biết rõ tình hình cung toàn bộ
khối lượng hàng hoá bán ra trên thị trường đối với một sản phẩm tương
tự cần xem xét giá cả trung bình, sự phân bố hàng hoá và tình hình bán
hàng, sản phẩm của hãng đang ở giai đoạn nào trên thị trường, xem xét
tính cạnh tranh của mặt hàng đó.
- Phân tích tình hình cầu: từ những thông tin về hàng hoá đang bán cần
xác định xem những sản phẩm nào có thể thương mại hoá được. Cần
xác định:
+Người tiêu dùng là ai, tuổi, giới tính, nghề nghiệp...
16
+Nhịp điệu mua hàng.
+Lý do mua hàng của khách hàng là gì?
+Ai có khả năng trở thành người tiêu dùng?
+Sản phẩm của ta liệu có kéo dài được chu kỳ sống hay không?
- Phân tích những điều kiện của thị trường: phải phân tích cẩn thận tất cả
những điều kiện mà việc thương mại hoá sản phẩm của ta có thể gặp
như về quy chế pháp lý, về tài chính kỹ thuật hoặc về con người và tâm
lý.
Hai là, lựa chọn đối tác buôn bán:
Để lựa chọn đối tác buôn bán có hiệu quả nên tìm hiều các nội dung sau:
+Quan điểm kinh doanh của thương nhân đó.
+Lĩnh vực kinh doanh của thương nhân đó.
+Khả năng vốn và cơ sở vật chất của họ.
+Uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ.
+Những người chịu trách nhiệm thay mặt để kinh doanh và phạm vi
trách nhiệm của họ đối với Công ty.

sản xuất kinh doanh cho đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết
hợp đồng, thực hiện hợp đồng, vận chuyển, bảo quản, sơ chế phân loại
nhằm tạo ra hàng hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu. Như
vậy công tác tạo nguồn hàng cho xuất khẩu có thể được chia thành hai loại
hoạt động chính:
- Loại những hoạt động sản xuất và tiếp tục sản xuất hàng hoá cho xuất
khẩu đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thì hoạt động này là cơ
bản và quan trọng nhất.
- Loại những hoạt động nghiệp vụ phục vụ cho công tác tạo ra nguồn
hàng cho xuất khẩu, thường do các tổ chức ngoại thương làm chức năng
trung gian cho xuất khẩu hàng hoá.
Thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là một hệ thống nghiệp vụ trong
kinh doanh mua bán trao đổi hàng hoá nhằm tạo ra nguồn hàng cho xuất
18
khẩu. Công tác thu mua tạo nguồn hàng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
của hàng xuất khẩu và tiến độ giao hàng, đến việc thực hiện hợp đồng xuất
khẩu, uy tín của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh. Thông qua hệ thống
các đại lý thu mua hàng xuất khẩu mà các doanh nghiệp chủ động và ổn
định được nguồn hàng. Đẩy mạnh công tác thu mua tạo nguồn hàng là một
trong những chiến lược của doanh nghiệp nhất là trong tình hình cạnh tranh
diễn ra gay gắt.
19
3.1. Các hình thức thu mua hàng xuất khẩu.
- Thu mua tạo nguồn theo đơn đặt hàng kết hợp với ký kết hợp đồng. Đơn
đặt hàng là văn bản yêu cầu về mặt hàng, quy cách, chủng loại, phẩm
chất, kiểu dáng, số lượng, thời gian giao hàng... Đơn hàng thường là căn
cứ để ký kết hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng. Đây là hình thức ưu việt
đảm bảo an toàn cho các doanh nghiệp, trên cơ sở chế độ trách nhiệm
chặt chẽ của đôi bên.
- Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu không theo hợp đồng : là hình thức

nghiên cứu tìm hiểu cặn kẽ thị trường, dự đoán được xu hướng biến
động của hàng hoá, hạn chế được rủi ro của thị trường, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp khai thác ổn định nguồn hàng trong khoảng thời gian hợp
lý, làm cơ sở chắc chắn cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng xuất
khẩu. Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn nhằm xác định mặt hàng
dự định kinh doanh xuất khẩu còn phù hợp và đáp ứng được những yêu
cầu của thị trường nước ngoài về những chỉ tiêu kinh tế_kỹ thuật
không? Trên cơ sở đó, doanh nghiệp ngoại thương có hướng dẫn kỹ
thuật giúp người sản xuất điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thị
trường nước ngoài.Mặt khác, nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu phải
xác định được giá cả trong nước của hàng hoá so với giá cả quốc tế như
thế nào? Sau khi đã tính đủ những chi phí mua hàng, vận chuyển, bao
gói... thì lợi nhuận thu về là bao nhiêu cho doanh nghiệp, chỉ tiêu này rất
quan trọng vì nó quyết định chiến lược kinh doanh của từng doanh
nghiệp ngoại thương.
- Tổ chức hệ thống thu mua hàng cho xuất khẩu. Xây dựng một hệ thống
thu mua thông qua các đại lý và chi nhánh của mình, doanh nghiệp
ngoại thương sẽ tiết kiệm được chi phí thu mua, nâng cao được năng
suất và hiệu quả thu mua. Lựa chọn và sử dụng nhiều kênh thu mua, kết
21
hợp nhiều hình thức thu mua, là cơ sở để tạo ra nguồn hàng ổn định và
hạn chế những rủi ro trong thu mua hàng xuất khẩu.
- Ký kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu: Phần lớn khối
lượng hàng hoá được mua bán giữa các doanh nghiệp ngoại thương với
nhà sản xuất hoặc các chân hàng đều thông qua hợp đồng thu mua, đổi
hàng gia công...Do vậy, việc ký kết hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng
trong công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu. Dựa trên những thoả
thuận và tự nguyện mà các bên ký hợp đồng, đây là cơ sở vững chắc
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra bình
thường.

phán này chỉ nên dùng trong những trường hợp chỉ còn chờ xác nhận
một cách chi tiết. Khi phải trao đổi bằng điện thoại cần chuẩn bị nội
dung chu đáo. Sau khi đã trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận
nội dung đã đàm phán.
4.2. Đàm phán và nghệ thuật đàm phán.
Đàm phán trong kinh doanh bất kỳ một loại hình nào , đều là một nghệ
thuật. Trong kinh doanh thương mại quốc tế, các chủ thể đàm phán từ các
quốc gia khác nhau, với ngôn ngữ và tập quán trong kinh doanh cũng khác
nhau làm cho việc đàm phán phức tạp hơn. Quá trình đàm phán về các điều
kiện của hợp đồng ngoại thương là cơ sở để đi đến ký kết hợp đồng. Bên
cạnh đó, những tranh chấp trong thương mại quốc tế đòi hỏi chi phí cao...
Chính vì vậy, đàm phán kinh doanh xuất nhập khẩu càng đòi hỏi phải tinh
tế, khéo léo.
4.3 Ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
Đối với quan hệ mua bán hàng hoá, sau khi các bên mua và bán tiến
hành giao dịch và đàm phán có kết quả thì phải thực hiện lập và ký kết hợp
đồng.
23
Hợp đồng thể hiện bằng văn bản là hình thức bắt buộc đối các đơn vị
xuất nhập khẩu ở nước ta. Đây là hình thức tốt nhất để bảo đảm quyền lợi
cho cả hai bên. Hợp đồng xác nhận trách nhiệm rõ ràng của bên mua và
bên bán tránh được những biểu hiện không đồng nhất trong ngôn từ hay
quan niệm.
Trước khi ký kết bất ký một hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu nào,
nhà xuất khẩu cần lưu ý đến các khía cạnh dưới đây.
Thứ nhất là, tính hợp pháp của hợp đồng xuất khẩu, thể hiện:
- Người ký kết hợp đồng phải có năng lực hành vi.
- Các chủ thể hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện.
- Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp.
- Đối với một số loại hợp đồng đặc biệt khi ký kết phải tuân thủ theo

trước giấy tờ.
- Điều khoản giá cả: Cần lưu ý đến các điểm sau đây:
+Đồng tiền tính giá, phương pháp định giá; Có thể xác định theo các
cách như: giá xác định hay giá cố định, giá quy định sau hay giá có thể
xem xét lại, giá di động hay giá trượt...Mỗi phương pháp xác định giá sẽ
có các mức giá khác nhau.
+Giảm giá: Cần quy định rõ ràng giá được giảm trong những trường hợp
nào? tỷ lệ phần trăm của mỗi lần giảm giá là bao nhiêu?
- Điều kiện cơ sở giao hàng:
Đây là một điều khoản phức tạp và quan trọng, có liên quan trực tiếp
đến giá cả. Việc xem xét điều kiện cơ sở giao hàng có đúng như đã đàm
phán hay không sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng
sau này, tránh những tranh chấp đáng tiếc xảy ra.
- Điều khoản thanh toán ( Settement payment ).
Thanh toán là vấn đề quan trọng trong hợp đồng mua bán ngoại thương
nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi cũng như mục đích của các bên
25

Trích đoạn Thựchiện hợp đồng xuấtkhẩ u. IV.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINHDOANH XUẤT KHẨU Nhóm nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINHDOANH XUẤTKHẨU CỦA CÔNG TY. Đánh giá chung về hoạt động xuấtkhẩu Công ty a) Ưu điểm :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status