Chuyên đề tốt nghiệp
- Lời mở đầu
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV đến nay, nớc ta đã có nhiều
đổi mới quan trọng, đặc biệt là việc chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mở cửa vận hành theo cơ chế thị
trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Nền kinh tế mở cửa đã tạo điều kiện cho thơng
mại quốc tế phát triển nhằm đảm bảo sự lu thông hàng hoá thông thơng với nớc
ngoài, khai thác tiềm năng và thế mạnh của nớc ta và của thế giới trên cơ sở phân
công lao động quốc tée.
Đối với Việt Nam cũng nh tất cả các nớc trên thế giới, hoạt động xuất khẩu
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng đất
nớc. Nó nh là một phơng tiên phục vụ nhu cầu nhập khẩu, cải tiến công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, nâng cao chất lợng sản phẩm. Hơn thế, hoạt động xuất khẩu còn là
một yếu tố không thể thiếu trong việc triển khai thực hiện chơng trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Trong cơ cấu hàng công nghiệp xuất khẩu thì hàng dệt may chiếm tỉ trọng đáng
kể, xuất khẩu chủ lực. Hơn nữa sự thành công về xuất khẩu trong ngành dệt may
thờng mở đờng cho sự xuất hiện của một chiến lợc phát triển định hớng xuất khẩu
có cơ sở rộng hơn vì đây là một ngành công nghiệp quan trọng: sự tăng trởng của
ngành này cho thấy kết quả hoạt động kinh tế một cách tổng thể hơn.
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn, trong quá trình thực tập tại Công ty Dệt may Hà
nội, em đã nghiên cứu hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công ty và chọn đề tài
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công
ty Dệt may Hà nội với mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận về hoạt động xuất
khẩu và thực tiến hoạt động xuất khẩu của Công ty để đề xuất một số giải pháp
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Công ty.
Chuyên đề đợc chia làm 3 phần:
Chơng 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Chơng 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu ở Công ty Dệt may
Hà nội
Chơng 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất khẩu
đồng tiền thanh toán mạnh, các quốc gia khác nhau tham gia vào hoạt động giao
dịch, buôn bán này phải tuân thủ theo những tập quán, thông lệ quốc tế cũng nh
của các địa phơng.
Hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện, từ
xuất nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến t liệu sản xuất, máy móc thiết bị và cả
công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi này đều nhằm mục đích đem
lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động xuất nhập khẩu còn diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian
lẫn thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, song cũng có thể kéo dài
hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ một nớc hany nhiều nớc khác
nhau. Nó không phải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các
quan hệ mua bán trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài.
Song hoạt động mua bán ở đây có những sự khác biệt phức tạp hơn mua ban trong
nớc, các chủ thể thực hiện hành vi mua bán có quốc tịch khác nhau và hàng hoá
đựơc mua ban đợc đa tới một quốc gia khác.
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
2
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Vai trò của hoạt động kinh doanh xuất khẩu
2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hóa đất nớc.
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất yếu để
khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nớc ta. Để công nghiệp hoá đất
nớc trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ các nguồn nh:
- Đầu t nớc ngoài
- Vay nợ, viện trợ
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ
- Xuất khẩu
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nớc.
- Xuất khẩu tạo điều kiện đa hàng hoá tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị tr-
ờng thế giới về giá cả, chất lợng.
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
2.3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân.
Nhờ mở rộng xuất khẩu mà một bộ phận ngời lao động có công ăn việc làm và
có thu nhập. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng
của nhân dân.
2.4. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nớc ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn
nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Có thể hoạt động xuất khẩu có
sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ
đối ngoại phát triển nh: quan hệ tín dụng, đầu t, mở rộng vận tải quốc tế Mặt
khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này tạo điều kiện mở rộng xuất khẩu.
Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cờng sự hợp tác quốc tế giữa các n-
ớc, nâng cao địa vị và vai trò của nớc ta trên trờng quốc tế.
2.5. Xuất khẩu có vai trò tác động kích thích đổi mới trang thiết bị và công
nghệ sản xuất.
Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trờng thế giới về quy cách chất lợng sản phẩm
thì một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác ngời lao động
phải nâng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.
Tóm lại đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển
kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc.
ii. những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh doanh xuất
khẩu
2.1. Theo nghị định th
Xuất khẩu theo nghị định th là hình thức xuất khẩu hàng hoá (hàng trả nợ) đợc
ký theo nghị định th của Chính phủ.
Xuất khẩu theo hình thức này có u điểm: khả năng thanh toán chắc chắn (do
Nhà nớc trả cho đối tác xuất khẩu), giá cả hàng hoá dễ chấp nhận.
2.2. Xuất khẩu trực tiếp
Giống với các hoạt động mua bán thông thờng ở trong nớc, phơng thức xuất
khẩu trực tiếp trong kinh doanh xuất nhập khẩu có thể đợc thực hiện ở mọi lúc mọi
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
5
Chuyên đề tốt nghiệp
nơi trong đó ngời bán và ngời mua trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt
hoặc qua th từ, điện tín để bàn bạc và thoả thuận với nhau về hàng hoá, giá cả và
các điều kiện giao dịch. Những nội dung này đợc thoả thuận một cách tự nguyện,
không có sự ràng buộc với lần giao dịch trớc, việc mua không nhất thiết phải gắn
liền với việc bán.
Tuy nhiên, hoạt động mua bán theo phơng thức này vẫn khác với hoạt động nội
thơng ở chỗ: bên mua và bên bán là những ngời có trụ sở ở các quốc gia khác nhau:
đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc đối với cả
hai bên; hàng hoá là đối tợng của giao dịch đợc di chuyển qua khỏi biên giới một
nớc.
Xuất khẩu trực tiếp thờng đòi hỏi chi phí cao hơn và ràng buộc nguồn lực lớn để
phát triển thị trờng. Tuy vậy, công ty đạt đợc nỗ lực bán và xúc tiến hiệu quả hơn
và cho phép công ty duy trì đợc sự kiểm soát ở mức độ lớn tất cả các điều kiện mà
trong đó sản phẩm đợc bán ở thị trờng quốc tế. Mặt khác, xuất khẩu trực tiếp còn
cho phép công ty có sự liên hệ trực tiếp với thị trờng, nắm bắt đợc phản ứng của thị
trờng để tìm ra những cơ hội mới và những xu hớng mới của thị trờng, quản lý các
hoạt động, nắm bắt hiểu biết các đối thủ cạnh tranh để điều chỉnh những kế hoạch
thích ứng.
2.3. Xuất khẩu gián tiếp
Trong trờng hợp này công ty thoả thuận hợp tác với một công ty khác để phối
hợp các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thơng mại, vận tải, phân phối và các hoạt
động khác liên quan đến thị trờng xuất khẩu. Hình thức này đợc áp dụng đối với
công ty bị hạn chế nguồn lực hoặc khối lợng bán không đủ lớn để thiết lập một bộ
phận xuất khẩu.
Một dạng khác của hợp đồng hợp tác xuất khẩu trong marketing quốc tế là dựa
vào một công ty khác, trong đó một công ty tiếp thị sản phẩm của mình thông qua
tổ chức phân phối của một công ty khác ở thị trờng nớc ngoài. Nhìn chung những
sản phẩm đợc bán bởi 2 công ty phải phù hợp với mức độ cạnh tranh để sản phẩm
của công ty góp phần mở rộng danh mục sản phẩm của công ty phân phối.
2.5. Buôn bán đối lu
Đây là phơng thúc giao dịch buôn bán mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng trao đổi luôn có giá trị t-
ơng đơng nhau. ở đây mục đích xuất khẩu không nhằm thu một khoản ngoại tệ,
mà nhằm thu về một lợng hàng hoá có giá trị xấp xỉ lô hàng xuất. Có nhiều loại
hình buôn bán đối lu nh:
- Hình thức hàng đổi hàng: hai bên trao đổi trực tiếp hàng hoá, dịch vụ có giá
trị tơng đơng, không dùng tiền làm trung gian.
- Hình thức trao đổi bù trừ: đây là hình thức xuất khẩu liên kết với nhập khẩu
ngay trong hợp đồng, có thể bù trừ trớc hay song song.
- Nghiệp vụ buôn bán đối lu: thờng một bên giao thiết bị cho bên kia rồi mua
thành phẩm hay bán thành phẩm.
2.6. Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh sản xuất hoạt động xuất khẩu,
trong đó một bên, gọi là bên đặt gia công ở nớc ngoài cung cấp máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trớc. Ngời nhận
gia công ở trong nớc tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
7
Chuyên đề tốt nghiệp
hoạt động
buôn bán
Chuyên đề tốt nghiệp
cần phải nhận biết hàng hoá kinh doanh, nắm vững thị trờng và lựa chọn đối tác
kinh doanh.
+ Nhận biết hàng hoá
Hàng hóa xuất khẩu phải đợc tìm hiểu kỹ về thơng phẩm để hiểu rõ giá trị, công
dụng, nắm đợc những đặc tính của nó và những yêu cầu của thị trờng về hàng hoá
đó nh: quy cách phẩm chất bao bì, cách trang trí bên ngoài, cách chọn lựa phân
loại .
Cũng cần nắm vững tình hình sản xuất của mặt hàng đó nh: thời vụ, khả năng về
nguyên vật liệu, nhân công, tay nghề, nguyên lý chế tạo
Ngoài ra cũng phải biết mặt hàng định lựa chọn đang ở giai đoạn nào của chu
kỳ sống của nó trên thị trờng; nếu sản phẩm đang ở giai đoạn thâm nhập hay phát
triển thì việc xuất khẩu gặp thuận lợi lớn.
Để lựa chọn mặt hàng kinh doanh, một căn cứ nữa cũng đợc xét tới là tỷ suất
ngoại tệ của các mặt hàng. Tỷ suất này, trong trờng hợp xuất khẩu, là tổng số chi
tiêu (có tính cả lãi định mức) bằng tiền Việt Nam để có đợc một đơn vị ngoại tệ.
+ Nắm vững thị tr ờng n ớc ngoài
Đối với những đơn vị kinh doanh đối ngoại việc nghiên cứu thị trờng nớc ngoài
có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trong việc nghiên cứu đó, những nội dung cần
nắm vững về một thị trờng ngoài nớc là: những điều kiện chính trị - thơng mại
chung, luật pháp và chính sách buôn ban, điều kiện về tín dụng, điều kiện vận tải
và tình hình giá cớc
Ngoài ra đơn vị kinh doanh cần nắm vững những điều có liên quan đến mặt
hàng kinh doanh của mình trên trị trờng nớc ngoài nh: dung lợng thị trờng, tập
quán và thị hiếu tiêu dùng, những kênh tiêu thụ (các phơng thức tiêu thụ), sự biến
động giá cả
+ Lựa chọn đối tác kinh doanh
Việc nghiên cứu tình hình thị trờng giúp cho đơn vị kinh doanh lựa chọn thị tr-
+ Những mục tiêu quảng cáo chủ yếu
Tuỳ theo điều kiện của các doanh nghiệp mà mục tiêu quảng cáo có thể khác
nhau:
Thâm nhập thị trờng mới
Giới thiệu sản phẩm mới
Củng cố uy tín của nhãn hiệu hàng hoá
+ Các hình thức quảng cáo:
Báo chí và tập san
Các loại ấn loát phẩm
Quảng cáo ngoài trời
Tham gia hoặc tổ chức triển lãm, hội chợ quốc tế
Phát thanh, vô tuyến truyền hình và điện ảnh
Gửi tặng phẩm và quà biếu
Tuỳ theo tình hình và đặc điểm cụ thể của từng mặt hàng, của từng thị trờng tiêu
thụ và tuỳ theo khả năng quảng cáo của mình mà quyết định lựa chọn hình thức,
phơng tiện, phơng pháp quảng cáo nào cho thích hợp nhất, hiệu quả nhất, nghĩa là
chi phí quảng cáo ít tốn kém nhất mà số lợng ngời có thể là ngời mua hàng nhận đ-
ợc tin quảng cáo đạt tới mức cao nhất.
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
10
Chuyên đề tốt nghiệp
3.1.3. Lập phơng án kinh doanh
Trên cơ sở những kết quả thu lợm đợc trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị tr-
ờng, đơn vị kinh doanh lập phơng án kinh doanh. Phơng án này là kế hoạch hoạt
động của đơn vị nhằm đạt đến những mục tiêu xác định trong kinh doanh.
Việc xây dựng phơng án kinh doanh bao gồm những bớc sau:
- Đánh giá tình hình thị trờng và đối tác kinh doanh nhằm rút ra những nét
tổng quát về tình hình, phân tích thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phơng thức kinh doanh.
Fax và Internet ở hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu. Đây là một trong những hình thức phổ biến nhất.
+ Giao dịch đàm phán qua điện thoại
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp ngời giao dịch tiến hành đàm
phán một cách khẩn trơng, đúng vào thời cơ cần thiết.
Những phí tổn điện thoại giữa các nớc rất cao, các cuộc trao đổi bằng điện thoại
thờng phải hạn chế về mặt thời gian, các bên không thể trình bày chi tiết. Mặt khác
trao đổi bằng điện thoại là trao đổi bằng miệng, không có gì làm bằng chứng cho
những thoả thuận, quyết định trong trao đổi.
Bởi vậy điện thoại chỉ đợc dùng trong những trờng hợp thật cần thiết, thật khẩn
trơng, sợ lỡ thời cơ, hoặc trong những trờng hợp mà mọi điều kiện đã thoả thuận
xong, chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết
+ Giao dịch đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp.
Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi về mọi điều kiện giao dịch, về
mọi vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán là một hình
thức đàm phán đặc biệt quan trọng.
Hình thức này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi
là lối thoát cho những đàm phán bằng th tín hoặc điện thoại đã kéo dài quá lâu mà
không có kết quả.
Hình thức đàm phán này thờng đợc dùng khi hai bên có nhiều điều kiện phải
giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhau, khi đàm phán về những hợp đồng lớn, những
hợp đồng có tính chất phức tạp
3.2.2. Các bớc đàm phán
Trong buôn bán quốc tế có những bớc giao dịch chủ yếu sau:
+ Phát giá( chào hàng)
Phát giá là chào hàng, là việc ngời xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của
mình. Đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng và nh vậy phát giá có thể do ngời bán
hoặc ngời mua đa ra. Nếu lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía ngời mua
còn đợc gọi là đặt hàng.
Trong chào hàng ngời ta nêu rõ: tên hàng, quy cách phẩm chất, số lợng, giá cả,
dõi, kiểm tra việc ký kết và thực hiện hợp đồng.
Trong hợp đồng không đợc có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành ở nớc
ngời bán hoặc ở nớc ngời mua.
- Ngời đứng ra ký kết hợp đồng phải đúng là ngời có thẩm quyền ký kết.
- Ngôn ngữ dùng để xây dựng hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên
cùng thông thạo.
Một hợp đồng mua bán ngoại thơng thờng gồm những phần nh sau:
- Số hợp đồng
- Ngày và nơi ký hợp đồng
- Tên và địa chỉ của các bên ký kết
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Các điều khoản của hợp đồng nh: tên hàng, quy cách phẩm chất, số lợng,
bao bì, ký mã hiệu; giá cả, đơn giá, tổng giá; điều kiện thanh toán; điều kiện
khiếu nại, trọng tài; điều kiện bất khả kháng; điều kiện cấm tái xuất
- Chữ kỹ của hai bên.
3.3. Thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thơng đã đợc ký kết, đơn vị kinh doanh xuất
khẩu với t cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là
một công việc rất phức tạp. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc tế,
đồng thời bảo đảm đợc quyền lợi quốc gia và bảo đảm uy tín kinh doanh của đơn
vị.
Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các
khâu công việc sau đây: dục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử
dụng phơng thức tín dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá,
thuê tàu hoặc lu cớc, kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục hải quan,
giao hàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại
(nếu có).
3.3.1. Xin giấy phép xuất khẩu
chất, số lợng, trọng lợng, bao bì (tức kiểm nghiệm) hoặc, nếu hàng hoá xuất khẩu
là động vật, thực vật, phải kiểm tra về khả năng lây lan bệnh (tức kiểm dịch động
vật, kiểm dịch thực vật).
Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch đợc tiến hành ở hai cấp:
- ở cơ sở: ở đơn vị sản xuất, thu mua, chế biến nh ở các nông trờng, xí nghiệp,
trạm, trại v.v Việc kiểm tra ở cơ sở có vai trò quyết định nhất và có tác
dụng triệt để nhất; do tổ chức kiểm tra chất lợng sản phẩm (KCS ) tiến
hành
- ở cửa khẩu có tác dụng thẩm tra lại kết quả kiểm tra ở cơ sở và thực hiện
thủ tục quốc tế.
3.3.4. Thuê tàu lu cớc
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng việc thuê tàu chở hàng
đợc tiến hành dựa vào ba căn cứ sau đây: những điều khoản của hợp đồng mua bán,
đặc điểm hàng mua bán, và điều kiện vận tải.
Nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng xuất khẩu là CIF hoặc C and F
(cảng đến) thì chủ hàng xuất khẩu phải thuê tàu biển để chở hàng.
Nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng xuất khẩu là CPT (cảng đến) hoặc
CIP (cảng đến) thì chủ hàng xuất khẩu phải thuê con-tê-nơ hoặc tàu Ro/Ro để chở
hàng.
Việc thuê tàu, lu cớc đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình
hình thị trờng thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu.
3.3.5.Mua bảo hiểm
Hàng hoá chuyên chở trên biển thờng gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo hiểm
hàng hoá đờng biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thơng.
Hợp đồng bảo hiểm có thể là
- Hợp đồng bảo hiểm bao (open policy): chủ hàng kí hợp đồng từ đầu năm,
còn đến khi giao hàng xuống tàu xong chủ hàng chỉ gửi đến cơ quan mà
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
15
(Cargo-list).
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
16
Chuyên đề tốt nghiệp
- Xuất trình bản đăng ký hàng chuyên chở cho ngời vận tải (Đại diện hàng
hải, hoặc thuyền trởng hoặc Công ty Đại lý tàu biển) để đổi lấy sơ đồ xếp
hàng (Stowage plan).
- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng.
- Bố trí phơng tiện đa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.
- Lờy biên lai thuyền phó (mates receipt) và đổi biên lai thuyền phó lấy vận
đơn đờng biển.
Nếu hàng hoá đợc giao bằng đờng sắt, chủ hàng phải kịp thời đăng ký với cơ
quan Đờng sắt để xin cấp toa xe phù hợp với tính chất hàng hoá và khối lợng hàng
hoá. Khi đã đợc cấp toa xe, chủ hàng tổ chức bốc xếp hàng, niêm phong cặp chì và
làm các chứng từ vận tải, trong đó chủ yếu là vận đơn đờng sắt.
3.3.8. Làm thủ tục thanh toán
Thanh toán bằng th tín dụng
Nếu hợp đồng xuất khẩu qui định việc thanh toán bằng th tín dụng, đơn vị kinh
doanh xuất khẩu phải đôn đốc ngời mua ở nớc ngoài mở th tín dụng (L/C) đúng
hạn và sau khi nhận đợc L/C phải kiểm tra L/C và khả năng thuận tiện trong việc
thu tiền hàng xuất khẩu bằng L/C và khả năng thuận tiện trong việc thu tiền hàng
xuất khẩu bằng L/C đó. Nếu L/C không đáp ứng đợc những yêu cầu này, cần phải
buộc ngời mua sửa đổi lại, rồi ta mới giao hàng.
Thanh toán bằng ph ơng thức nhờ thu
Ngay sau khi giao hàng đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải hoàn thành việc lập
chứng từ và phải xuất trình cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng việc thu đòi
tiền. Chứng từ thanh toán cần đợc lập hợp lệ, chính xác và đợc nhanh chóng giao
cho ngân hàng nhằm nhanh chóng thu hồi vốn.
3.3.9. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Nếu chủ hàng xuất khẩu bị khiếu nại đòi bồi thờng, cẩn phải có thái độ nghiêm
mại; phải nắm vững và tiến hành theo quy trình; không thể nóng vội, đốt cháy giai
đoạn.
Nếu không tôn trọng nguyên tắc trên để dẫn đến thua thiệt trong kinh doanh.
Dù là có kinh nghiệm sành sỏi lão luyện hay ngời mới vào nghề, đều phải
nghiêm chỉnh tuân thủ các bớc đi. Đó là việc quan trọng nhất của các nhà kinh
doanh xuất nhập khẩu.
4. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
Trong quá trình hoạt động thơng mại, bất kỳ một hình thức kinh doanh nào
cũng đều chịu sự ảnh hởng sâu sắc của môi trờng kinh doanh theo hai chiều tích
cực và tiêu cực. Đối với xuất khẩu, một nội dung quan trọng của thơng mại quốc tế
thì ảnh hởng của môi trờng kinh doanh là mạnh mẽ hơn, bởi vì trong thơng mại
quốc tế, các yếu tố về môi trờng kinh doanh phong phú và phức tạp hơn hẳn so với
với thơng mại trong nớc. ở đây phải kể đến các nhân tố:
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
18
Chuyên đề tốt nghiệp
4.1. Quan hệ đối ngoại
Trong hoạt động kinhdoanh thơng mại quốc tế, các mối quan hệ quốc tế có ảnh
hởng trực tiếp, mạnh mẽ đối với hoạt động xuất khẩu. Cũng vậy, khi xuất khẩu
hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác, ngời xuất khẩu phải đối mặt với hàng
rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan. Các hàng rào này chặt chẽ hay lỏng phụ
thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phơng giữa nớc nhập khẩu và nớc xuất
khẩu.
Khi đó, với xu hớng toàn cầu, nền kinh tế hiện nay nhiều liên minh kinh tế ở
mức độ khác nhau đợc hình thành. Nhiều hiệp định thơng mại song phơng và đa
phơng giữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế cũng đợc ký kết với mục tiêu thúc đẩy
hoạt động thơng mại trong khu vực và toàn thế giới. Nếu một quốc gia tham gia
vào các liên minh kinh tế và các hiệp định thơng mại ấy sẽ là một tác nhân tích cực
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của một quốc gia. Nếu không, chính nó lại trở
vực xuất khẩu những công cụ chính sách chủ yếu thờng đợc sử dụng để điều tiết
hoạt động này.
- Chính sách tiền tệ
- Chính sách tài chính
- Vấn đề lạm pháp
- Thuế quan: là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế
xuất khẩu đợc chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều hớng
có lợi nhất cho nền kinh tế trong nớc và mở rộng các quan hệ đối ngoại.
Thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nớc tăng
lên không có hiệu quả và do mức tiêu dùng trong nớc giảm. Nhìn chung
công cụ này chỉ đợc áp dụng đối với một số ít mặt hàng xuất khẩu bổ sung
nguồn thu cho ngân sách nhà nớc.
Trên thế giới ngày nay với sự đa dạng hoá và đa phơng hoá quan hệ để ngoại th-
ơng phát triển thì các công cụ về thuế quan phải mềm dẻo và linh hoạt, xoá bỏ dần
dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo ra các liên kết kinh tế quốc dân ở
tầm khu vực và thế giới.
4.4. Pháp luật
ở mỗi quốc gia đều có những bộ luật riêng, trình độ lập pháp, hành pháp, t pháp
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ở các quốc gia đó. Các yếu tố luật pháp
chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động của nền kinh tế và xã hội đang tồn tại trong
nớc đó. Nó quy định phạm vi, nội dung và mức độ hoạt động của tất cả các doanh
nghiệp không chỉ trong một quốc gia mà còn chi phối tới tất cả các hoạt động kinh
doanh quốc tế. Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hởng mạnh mẽ các mặt sau:
- Các quy định về thuế, hạn ngạch, chủng loại, khối lợng, quy cách
- Quy định về hợp đồng, giao dịch, bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ.
- Các quy định về quy chế sử dụng lao động, tiền lơng, tiền thởng, bảo hiểm,
phúc lợi.
- Quy định về cạnh tranh, độc quyền.
- Quy định về tự do mậu dịch hay xây dựng nên các hàng rào thuế quan chặt
chẽ.
Đây là yếu tố có ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp bao gồm các vấn đề:
- Cơ cấu tổ chức bộ máy
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ loại trừ các nhiễu trong sự truyền tải thông tin từ
ban lãnh đạo đến các thành viên trong công ty.
Ban lãnh đạo doanh nghiệp là bộ phân đầu não của doanh nghiệp, là nơi xây
dựng chiến lợc kinh doanh cho doanh nghiệp để đề ra các mục tiêu, chiến lợc phát
triển công ty, đồng thời giám sát, kiểm tra, và đánh giá việc thực hiện kế hoạch đề
ra.
Cần xây dựng đợc một cơ cấu tổ chức hợp lý để phat huy đợc sức mạnh của ban
lãnh đạo tránh sự chồng chéo trong quản lý tạo hiểu quả trong hoạt động kinh
doanh.
- Nguồn nhân lực
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Hoạt động xuất khẩu chỉ có thể tiến hành khi đã có sự nghiên cứu về thị trờng
nh: nghiên cứu hàng hoá, về bạn hàng, phơng thức giao dịch, đàm phán ký kết hợp
đồng. Do đó vấn đề ở đây là phải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có chuyên
môn trong lĩnh vực này, họ có khả năng phân tích và giải quyết các thủ tục hành
chính trong xuất khẩu.
Đồng thời doanh nghiệp cần có một đội ngũ cán bộ có khả năng, kinh nghiệm
trong việc thu gom đóng gói bảo quản hàng hóa, kết hợp với đội ngũ cán bộ thị tr-
ờng để tìm kiếm bạn hàng, quảng cáo tạo ra một sức mạnh thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu phát triển.
Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần có một đội ngũ công nhân lành nghề trong
hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lợng, đáp ứng đợc nhu cầu
của bạn hàng. Bên cạnh đó một đội ngũ cán bộ quản lý tốt sẽ đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
- Năng lực tài chính
nhập khẩu.
III. vai trò của xuất khẩu hàng dệt may trong phát
triển kinh tế của Việt Nam
1. Sự cần thiết phải xuất khẩu hàng dệt may
Công nghiệp dệt may là ngành có ý nghĩa trọng tâm trong giao đoạn chuyển đổi
của Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng. Dệt
may là một phần cấu thành quan trọng trong chính sách định hớng xuất khẩu của
đất nớc, và nói một cách chung hơn, là một trong những nỗ lực của Việt Nam để
hoà nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Công nghiệp dệt may tất yếu là một trong các ngành chủ yếu xuất khẩu trong
giai đoạn đầu phát triển của các nớc. Sự thành công về xuất khẩu trong ngành này
thờng mở đờng cho sự xuất hiện của một chiến lợc phát triển định hớng xuất khẩu
có cơ sở rộng hơn. Sự thất bại về xuất khẩu của ngành này bao giờ cũng là triệu
chứng của những trở ngại có tính thâm căn cố đế trong nớc và của sự bất lực,
không phát huy đợc lợi thế so sánh tiềm năng. Vì vậy, đây là một ngành công
nghiệp quan trọng không chỉ với t cách là một nguồn xuất khẩu và tạo việc làm
chính, mà còn vì sự tăng trởng của ngành này cho thấy kết quả hoạt động kinh tế
một cách tổng hợp hơn.
Trong quá trình phát triển chúng ta đã chọn con đờng tăng trởng công nghiệp
may hớng vào xuất khẩu. Thực tế cho thấy con đờng dẫn đến phát triển nhanh và
bền vững không phải qua việc chuyên môn hoá ngày càng sâu để sản xuất ra những
sản phẩm sơ chế, mà là thông qua việc mở rộng các ngành sản xuất chế tạo hớng
về xuất khẩu là chính, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nớc sản
xuất có hiệu quả hơn để khai thác tốt nhất các lợi thế so sánh về nguồn nhân lực,
tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật công nghệ, thị trờng cho sự phát triển.
Hiện nay, kim nghạch xuất khẩu của ngành từ vị trí trong top-ten, rồi vơn lên
thứ 3 (1993), rồi thứ 2 (1994) cho đến nay. Điều đó chứng tỏ việc phát triển ngành
Dệt may chẳng những là nỗ lực chủ quan của chúng ta, mà nó còn có tính tất yếu
khách quan trong điều kiện đặc thù của đất nớc, có lao động dồi dào, và thu nhập
ngời lao động đang còn thấp. Đây là lợi thế hàng đầu để phát triển ngành Dệt may
lơng nhân công rẻ mạt) những khâu kỹ thuật thấp, đa số là gia công hàng may mặc
với mẫu mã và nguyên phụ liệu đợc cung cấp sẵn. Các nớc đang phát triển tham gia
vào hệ thống sản xuất hàng may mặc quốc tế ở dạng gia công với giá trị đóng góp
rất thấp vào nền kinh tế quốc gia.
Ngày nay, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan
trọng trong sự nghiệp phát triển kinh đất nớc vì nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu
thiết yếu của con ngời mà còn là ngành giải quyết đợc nhiều việc làm cho lao động
xã hội, có thế mạnh trong xuất khẩu, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu
của đất nớc. Là ngành đòi hỏi nguồn vốn đầu t ban đầu không quá lớn, công nghiệp
dệt may thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia, từ những công ty dệt may lớn của
nhà nớc đến các công ty liên doanh, các công ty 100% vốn nớc ngoài, các hợp tác
xã, các hộ gia đình Hầu nh ở các tỉnh, thành phố, cho đến các thị xã, thị trấn, các
huyện lỵ, từ trung ơng đến địa phơng, mỗi nơi đều có các nhà máy, các xí nghiệp,
các cơ sở sản xuất sản phẩm dệt may.
Với đờng lối mở cửa và hội nhập vào cộng đồng thế giới nói chung và các nớc
trong khu vực nói riêng để cùng với quá trình chuyển dịch công nghệ đang diễn ra
sôi động, ngành công nghiệp may Việt Nam phải trực tiếp tham gia hợp tác về các
lĩnh vực lao động, mậu dịch; tham gia tiến trình cắt giảm thuế quan của khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và tham gia các tổ chức quốc tế khác. Trong nhiều
năm qua, ngành may Việt Nam đã phát triển nhanh với tốc độ tăng trởng trung
bình hàng năm cao, thâm nhập ngày càng sâu vào các thị trờng lớn là EU, Mỹ,
Bùi thị cẩm tú qlkt40b trờng kinh tế quốc dân
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhật Bản, các nớc SNG và Đông Âu... Hiện nay chúng ta đang tiếp cận thị trờng
Trung Cận Đông và Mỹ Lating. Với chi phí sản xuất thấp, công nhân cần cù sáng
tạo, cùng với việc nâng cao chất lợng, đặc biệt là quan tâm đến thị hiếu, mẫu mốt
thời trang của thị trờng thế giới, Việt Nam sẽ phát triển sản phẩm may mặc của
mình trong quá trình tự do hóa mậu dịch và thích ứng đợc với xu thế chuyển dịch
hàng dệt may thế giới.