hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hóa chất - Bộ Thuơng mại - Pdf 70

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
2
lời mở đầu
Theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nền kinh tế
nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong
điều kiện mới của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cần phải năng
động, nhạy bén mới có thể tồn tại và phát triển. Doanh nghiệp kinh doanh
tồn tại hay không là kết quả của hệ thống các chiến lược kinh doanh, chính
sách, biện pháp với các hoạt động cụ thể như: mua, bán, tồn kho, dự trữ, tổ
chức lao động, sử dụng vốn...
Chính vì vậy tôi chọn đề tài "Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động
sản xuất kinh doanh ở Công ty Hoá Chất - Bộ Thương Mại".Trong đề tài
này tôi xin trình bày một số vấn đề sau:
+ Kinh doanh hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại trong nền kinh
tế thị trường.
+ Thực trạng kinh doanh tại Công ty Hoá Chất - Bộ Thương Mại.
+ Một số biện pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công
ty Hoá Chất - Bộ thương Mại.
Do thời gian thực tập hạn chế nên bài viết này không tránh khỏi thiếu sót
mong được sự góp ý sửa chữa để bài viết hoàn thiện hơn. Tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn Trần Thăng Long và các cô chú trong
Công ty Hoá Chất - Bộ Thương Mại đã tận tình giúp tôi hoàn thành chuyên
đề này.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
3
chương I
kinh doanh hàng hoá của các doanh nghiệp
thương mại trong nền kinh tế thị trường.
I. Kinh doanh hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại
trong nền kinh tế thị trường.
1. Mục tiêu của kinh doanh thương mại.

vào một giỏ. Các quyết định kinh doanh phải được đưa ra nhanh, nhạy và
kịp thời nếu không cơ hội sẽ trôi qua nhưng các quyết định đó cũng cần phải
được cân nhắc mặt lợi, mặt hại. Chính vì vậy, bản lĩnh và khả năng nhìn xa
trông rộng của người lãn đạo hết sức quan trọng đối với sự sống còn của
doanh nghiệp.
Ngày nay, nền kinh tế thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Chính vì
điều đó mà các doanh nghiệp cần phải hoạch định chiến lược cho đúng đắn.
Điều quan trọng là phải chiếm lĩnh được thị trường và tạo chỗ đứng vững
chắc trên thị trường. Mục đích chính của công việc kinh doanh là lợi nhuận
nhưng không phải lúc nào mục đích này cũng được thực hiện nên doanh
nghiệp cần phải có sự lựa chọn mục tiêu. Doanh nghiệp cần phải xác định
được đâu là mục tiêu quan trọng nhất, có khả năng thực hiện lớn nhất và sẽ
được doanh nghiệp thực hiện trước nhất để đặt đó là mục tiêu hàng đầu. Việc
lựa chọn mục tiêu có thể biểu diễn thông qua mô hình tháp mục tiêu. Trong
mô hình này, các mục tiêu quan trọng và dễ thực hiện được đặt trên nhất và
tuần tự là các mục tiêu lâu dài hơn.
Mục tiêu quan trọng nhất
Mục tiêu lâu dài hơn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
5
Nhìn chung, các doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu
thông hàng hoá thường có ba mục tiêu cơ bản là: lợi nhuận, an toàn và vị thế
của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp mới bắt đầu bước vào kinh
doanh thì yếu tố an toàn được đặt lên hàng đầu và chỉ khi nào mục tiêu an
toàn được thực hiện thì các mục tiêu tiếp theo là vị thế và lợi nhuận của
doanh nghiệp mới đựoc thực hiện. Mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu lâu dài và
để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy luật của
thị trường nếu không muốn phải trả giá đắt bởi thị trường cũng có quy luật
riêng của nó đó là:
+ Quy luật hàng hoá vận động từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá trị cao

nên có một số đặc điểm sau:
- Chức năng lưu chuyển hàng hoá trong nền kinh tế nhằm thoả mãn nhu
cầu của xã hội. Đây là chức năng xã hội của doanh nghiệp thương mại. Để
tực hiện tốt chức năng này thì doanh nghiệp phải nghiên cứu nắm vững thị
trường, huy động và sử dụng tốt các nguồn hàng, tổ chức các mối quan hệ
giao dịch thương mại, đảm bảo việc phân phối hàng hoá thông qua các kênh
phân phối.
- Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. Chức năng
này thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thực hiện phân loại hàng hoá,
đóng gói bao bì hàng hoá, ghép đồng bộ sản phẩm, bảo quản và vận chuyển
hàng hoá. Khi thực hiện chức năng này, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao
giá trị sử dụng hàng hoá, thoả mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
và nâng cao khả năng thâm nhập thị trường của hàng hoá.
- Chức năng tiếp theo của các doanh nghiệp thương mại là chức năng thực
hiện hàng hoá. Mục đích của các doanh nghiệp thương mại không phải là
mua hàng hoá mà là mua để bán. Khi mua hàng hoá, các doanh nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
7
thương mại đã làm chức năng tiêu thụ hàng hoá cho sản xuất. Mục đích của
doanh nghiệp là thu lợi nhuận, muốn thu được lợi nhuận thì phải bán được
hàng hoá và giá bán phải cao hơn giá mua cộng với chi phí khác. Nếu không
bán được hàng hoá hoặc bán với giá thấp hơn giá mua thì doanh nghiệp sẽ bị
thua lỗ có thể dẫn tới phá sản.
Chức năng cuối cùng của doanh nghiệp thương mại là tổ chức sản xuất.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hoá sẽ không chỉ tác động đến quá
trình lưu thông hàng hoá mà thông qua các hoạt động mua bán đó doanh
nghiệp tác động đến quá trình tái sản xuất. Hoạt động thương mại có thể tác
động thúc đẩy tái sản xuất hoặc gây đình trệ sản xuất.
b) Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại.
Để thực hiện các chức năng đó thì doanh nghiệp thương mại cần làm tôt

cao.
- Khi mặt hàng kinh doanh không chiếm được lợi thế nữa và doanh
nghiệp muốn chuyển hướng kinh doanh thì sự chuyển hướng này diễn ra
chậm.
b) Kinh doanh tổng hợp.
Kinh doanh tổng hợp là loại hình kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác
nhau, kinh doanh không lệ thuộc vào thị trường truyền thống, bất cứ hàng
hóa nào có thể kiếm được lợi nhuận thì doanh nghiệp kinh doanh.
Loại hình kinh doanh này có những ưu điểm sau:
- Hạn chế được rủi ro trong kinh doanh và dễ dàng chuyển hướng kinh
doanh(Khi kinh doanh một loại hàng hóa nào nào đó bất lợi thì doanh nghiệp
có thể nhanh chong chuyển sang kinh doanh loại hàng hóa khác).
- Vốn kinh doanh không bị ứ đọng vì mua nhanh, bán nhanh và doanh
nghiệp thường đầu tư cho những mặt hàng có khả năng lưu chuyển nhanh
nên khả năng quay vòng vốn nhanh.
- Thị trưòng kinh doanh rộng lớn và luôn phải đối đầu với vấn đề cạnh
tranh của các doanh nghiệp khác nên kích thích tính năng động của các
doanh nghiệp.
Loại hình kinh doanh này cũng có những nhược điểm sau:
- Khó trở thành độc quyền trên thị trường và ít có điều kiện tham gia vào
các liên minh độc quyền.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
9
- Mỗi ngành hàng kinh doanh chỉ là những ngành hàng kinh doanh nhỏ
nên không thể tìm kiếm được lợi nhuận siêu ngạch.
- Không bộc lộ sở trường kinh doanh. Do không chuyên môn hóa nên
khó đào tạo về chuyên môn và bồi dưỡng được những chuyên gia giỏi.
II. Nội dung việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ở doanh
nghiệp thương mại.
1. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh ở doanh nghiệp thương

- Cách gián tiếp là các hoạt động hàng ngày thông qua giao tiếp với
khách hàng, thông qua các dịch vụ phục vụ khách hàng để nâng cao tín
nhiệm của sản phẩm và danh tiếng của sản phẩm trên thị trường.
+ Chiến lược thích nghi với môi trường
Môi trường của doanh nghiệp bao gồm môi trường bên trong và môi
trường bên ngoài. Môi trường cạnh tranh bên ngoài thực sự nhiều phức tạp vì
doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp khác. Để thích nghi
với môi trường thì doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện sau:
- Đáp ứng những nhu cầu khách hàng, đáp ứng những thay đổi trong
nhu cầu kế hoạch của khách hàng.
- Xác định đối thủ cạnh tranh, tích luỹ và thực hiện lợi thế cạnh tranh,
lựa chọn vũ khí cạnh tranh hợp lí.
- Tiếp cận được với khoa học kĩ thuật hiện đại. Đó là giới hạn về năng
lực kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có những phương
thức ứng xử hợp lí với sự phát triển của khoa học công nghệ, tìm ra
giải pháp mới trong việc ứng dụng khoa học kĩ thuật.
+ Chiến lược marketing thương mại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
11
Marketing là quá trình hoạch định và thực hiện một số công việc để thoả
mãn nhu cầu của khách hàng về hàng hoá và dịch vụ thông qua việc lưu
chuyển hàng hoá và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Đối với các doanh nghiệp thương mại thì việc nắm bắt được bản chất của
marketing và thực hiện tôt công tác marketing có một ý nghĩa quan trọng vì
marketing là một công cụ quản lí kinh tế, kế hoạch hoá kinh doanh. Nhiệm
vụ của marketing trong doanh nghiệp thương mại là làm cho kinh doanh phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường và thông qua đó doanh nghiệp bán
được nhiều sản phẩm và thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Marketing thương mại trong các doanh nghiệp có vai trò hỗ trợ cho quá
trình kinh doanh, là vũ khí của nhà kinh doanh, làm cho công việc tiêu thụ

+ Doanh số bán hàng.
+ Doanh số mua vào.
+ Dự trữ hàng hoá đầu kì và cuối kì kế hoạch.
+ Tốc độ chu chuyển vốn lưu động kì kế hoạch.
Trong các doanh nghiệp thương mại, kế hoạch lưu chuyển hàng hoá được
xây dựng bằng hai phương pháp
Phương pháp thống kê - kinh nghiệm.
Phương pháp này chủ yếu dựa trên cơ sở là các số liệu báo cáo hoạt động
kinh doanh trong thời gian gần nhất, căn cứ vào thời gian lên kế hoạch và
ước tính thực hiện của thời kì còn lại để ước tính thực hiện kế hoạch lưu
chuyển trong năm. Ước tính thực hiện của một số năm làm cơ sở kế hoạch
lưu chuyển cho năm sau. Phương pháp này có nhược điểm là: không phản
ánh chính xác số lượng hàng hoá lưu chuyển kì kế hoạch, không thâu tóm
hết những thay đổi trong cơ cấu tổ chức bán hàng cho khách và những thay
đổi trong danh mục sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
13
Phương pháp kinh tế - kĩ thuật.
Đây là phương pháp kế hoạch hoá lưu chuyển hàng hoá được coi là đúng
đắn hơn. Cơ sở xây dựng kế hoạch lưu chuyển hàng hoá theo phương thức
này dựa trên nhu cầu của khách hàng và khả năng khai thác nguồn hàng để
thoả mãn nhu cầu đó của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tính tổng mức bán hàng hóa theo công thức sau:
t = p + (Dđk Dck)
Trong đó: t : là tổng doanh số bán
P : là lượng hàng hoá thu gom
Dđk : là dự trữ hàng hoá đầu kì
Dck : là dự trữ hàng hoá cuối kì
Sau khi xác địng doanh số bán doanh nghiệp cần tính lượng hàng hoá lưu
chuyển thẳng. Lượng hàng hoá lưu chuyển thẳng tính bằng lượng hàng hoá

động. Trong nền kinh tế thị trường nước ta, do tồn tại nhiều thành phần kinh
tế nên tồn tại nhiều hệ thống lợi ích khác nhau. Thực chất của việc huy động
sử dụng các thành phần kinh tế khác nhau chính là sự kết hợp hài hoà các lợi
ích. Nguyên tắc các bên cùng có lợi sẽ chi phối sự kết hợp hay chia rẽ hoạt
động kinh doanh giữa các doanh nghiệp.
Sử dụng đòn bẩy kinh tế là nội dung của phương pháp kinh tế. Các đòn
bẩy kinh tế như: tiền lương, tiền thưởng, giá cả, lợi nhuận, chi phí ...có tác
động rất lớn đến người lao động. Nó kích thích hay hạn chế động lực làm
việc của mỗi người. Các đòn bẩy kinh tế phải được sử dụng đồng bộ, bên
cạnh đó cần sử dụng các biện pháp hành chính như xử phạt và các trách
nhiệm về vất chất khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
15
2.3 Phương pháp tuyên truyền giáo dục.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục là các cáh tác đọng đén tinh thần và
năng lực chuyên môn của người lao động để nâng cao ý thức và hiệu quả
công tác.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục bao gồm những nội dung chủ yếu
sau:
+ Tác động thông qua hệ thống thông tin đa chiều tới toàn bộ hệ thống
quản lí và người lao động. Hệ thống thông tin đa chiều có định hướng, chính
xác và tác động kịp thời sẽ có tác động kích thích chủ thể theo khuynh hướng
dự kiến. Qua hệ thống thông tin tác động đến tư tưởng người lao động, nắm
bắt và sửa chữa, uốn nắn các tư tưởng sai lạc, thiếu lành mạnh, phát huy tinh
thần trách nhiệm của người lao động.
+ Phương pháp tuyên truyền giáo dục thể hiện sự khen, chê rõ ràng, nêu
gương trước tập thể là cách quan trọng tác động gây sự chú ý và thuyết phục
người khác làm theo, xử phạt nghiêm minh để giữ vững kỉ cương và ngăn
chặn các khuynh hướng xấu.
+ Bồi dưỡng, đào tạo và nâng cao tay nghề, trình độ nghiệp vụ chuyên

Để thành công trong nhập hàng thì chúng ta phải lên kế hoạch nhập hàng
dựa trên các cơ sở khoa học gồm những nội dung sau:
- Nguyên tắc thu gom được, bán được và đảm bảo có lãi.
- Cơ cấu thu mua phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng như: mẫu mã,
chủng loại, kiểu dáng, quy cách...đồng thời phải chú ý đến hàng hoá
chủ lực theo nguyên tắc 8.2 trong kinh doanh (tức là đảm bảo thu được
80% doanh thu từ 20% mặt hàng chủ lực). Vì vậy khi lập kế hoạch
mua hàng bao giờ cũng phải xác định hàng hoá chủ lực là những hàng
hoá nào.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
17
- Số lượng hàng hoá thu gom: Về nguyên tắc thì số lượng hàng hoá thu
gom bao giờ cũng lớn hơn hoặc bằng số lượng hang hoá tiêu thụ theo
kế hoạch. Cụ thể là:
* Nếu nhập hàng theo lô, phải dưa trên cơ sở lượng hàng hoá có nhu cầu
trong thời gian nhất định. Căn cứ vào một số đặc điểm ta có thể xác định
được số lượng hàng hoá tối ưu cần nhập vào.
Nếu gọi C là tổng chi phí.
C1: là tổng chi phí mua hàng hoá một lần.
C2: là chi phí bảo quản một đơn vị hàng hoa trong một thời gian nhất
định.
D: là số lượng hàng hoá cần trong một đơn vị thời gian.
Q: là số lượng hàng hoá thu mua một lần.
Giả thiết rằng Q không thay đổi và số lượng hàng hoá lưu kho luôn bằng
Q/2 thì ta có:
Q = 2 * C1 *D / C2.
C = C2 * Q / 2 + C1 * D / Q.
* Nếu nhập hàng có giới hạn: Trong kho lúc nào cũng cần một lượng
hàng nhất định, khi nào lượng hàng trong kho giảm tới số lượng đó thì tiếp
tục nhập hàng vào và số lượng hàng mới nhập đó chỉ bằng số lượng bán ra.

Trong cơ chế thị trường, hoạt động bán hàng văn minh bao gồm những
nội dung sau:
+ Khối lượng và chất lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ phải đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
19
+ Phải không ngừng cải tiến, thiết kế quầy hàng và các cơ sở kinh doanh.
Đối với các loại thiết bị công cụ bảo quản, trưng bày để bán, đảm bảo cho
khách hàng bao giờ cũng được phục vụ một cách tốt nhất, kết hợp bán hàng
với quảng cáo thúc đẩy việc bán hàng và tạo điều kiện cạnh tranh trên thị
trường.
+ Tổ chức tốt lao động bán hàng sao cho thời gian làm việc của nhân
viên bán hàng đạt hiệu quả cao.
+ Xây dựng thái độ bán hàng văn minh, lịch sự, tất cả vì khách hàng với
phương châm Khách hàng là thượng đế.
+ Nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp trong kinh doanh.
* Chuẩn bị và bổ xung hàng hoá
Hàng hoá trước khi đem bán phải được chuẩn bị kĩ lưỡng. Có như vậy thì
uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng ngày càng được nâng cao và góp
phần đẩy mạnh tốc độ bán hàng.
Trước khi đem hàng hoá bán thì phải làm những công việc chuẩn bị như:
vệ sinh, kiểm tra chất lượng để loại bỏ những hàng hoá hư hỏng, kém chất
lượng, lắp ghép đồng bộ và bao gói...Cần có các phương án dự trữ tại điểm
bán hàng để làm căn cứ cho việc định lượng và bổ xung hàng hoá cho các
cửa hàng, quầy hàng. Các dơn vị kinh doanh cần phải được bổ xung hàng
hoá kịp thời. Khối lượng hàng hoá bổ xung sao cho tại đơn vị kinh doanh
mức dự trữ luôn đảm bảo ở mức ổn định. Tuỳ thuộc vào mức bán bình quân
một ngày đêm mà ta quy định số lượng hàng hoá dự trữ lớn nhất cho từng
loại mặt hàng. Khi nào nhu cầu thị trường thay đổi thì số lượng đó mới thay
đổi, số lượng quy định mỗi mặt hàng tại thời điểm kinh doanh không được

Công ty Hoá Chất-Bộ Thương Mại tiến hành tính giá theo quy trình sau:
Giá bán = Giá mua + Thuế NK(nếu có) + Chi phí khác
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
21
Lãi bán hàng thường được xác đinh bằng % so với giá bán, việc tính lãi
bán hàng bình quân như sau:
Lãi bán hàng bình quân = Tiền bán hàng(chi phí trực tiếp)/Giá bán
Quy trình bán hàng:
Đây là hệ thống các thao tác kĩ thuật và các công việc phục vụ có liên
quan đến nhau trong quá trình bán hàng, được sắp xếp theo một trình tự nhất
định tuỳ thuộc vào sự khác nhau về phương thức bán, về đặc điểm nhu cầu
khách hàng.
Các thao tác kĩ thuật và các công việc phục vụ gồm có từ khâu tiếp
khách, tìm hiểu nhu cầu, giới thiệu hàng hoá đến thu tiền và giao hàng cho
khách. Khi xây dựng quy trình bán hàng cần dựa trên cơ sở lợi dụng những
lợi thế về địa điểm, cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ nghiệp vụ của người bán
hàng mà lựa chọn phương án tiết kiệm nhất nhằm đảm bảo nâng cao năng
suất lao động bán hàng và chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng.
4. Phân tích hiệu quả kinh doanh.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh ở doanh nghiệp thương mại chính
là lợi nhuận hay nói một cách khác lợi nhuận chính là mục đích kinh doanh
của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước cững phải lấy lợi nhuận làm mục đích hoạt động
của mình. Lợi nhuận của công ty phải được thu từ các nguồn chính đáng và
hợp pháp. Nhìn nhung, với tất cả các doanh nghiệp thì lợi nhuận không phải
chỉ tính trên một đơn vị hàng hoá kinh doanh mà là tổng lợi nhuận tối đa. Lợi
nhuận tối đa thu được do bán được nhiều hàng hoá và do thu được từ nhiều
lĩnh vực hoạt động khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
22

hàng độc hại và nguy hiểm đối với con người nên đòi hỏi cần phải có kho
tàng dự trữ và bảo quản cẩn thận tránh bị thất thoát ra ngoài môi trường. Do
tính chất nguy hiểm của mặt hàng này nên việc sử dụng hoá chất vào sản
xuất, tiêu dùng đòi hỏi phải hết sức cẩn thận để không xảy ra những tai nạn
đáng tiếc.
2. Đặc điểm của kinh doanh hoá chất
Trước đây, hoá chất là một ngành hàng độc quyền của nhà nước và chỉ có
một số công ty có thẩm quyền mới được phép kinh doanh ví dụ như: Công ty
Hoá Chất - Bộ Thương Mại. Hiện nay, dưới tác động của cơ chế thị trường
nhiều công ty được phép kinh doanh mặt hàng này khiến sự cạnh tranh của
ngành hàng hoá chất trên thị trường diễn ra ngày càng gay gắt. Cũng trong
những năm trước đây, mặt hàng hoá chất trên thị trường nước ta chủ yếu là
hàng nhập ngoại từ Trung Quốc, Liên Xô cũ và một số quốc gia khác. Ngày
nay, một số công ty hoá chất trong nước tiến hành ngày càng nhiều mặt hàng
có thể sở dĩ cạnh tranh với hàng nhập ngoại khiến cho thị trường hoá chất
ngày càng đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại và giá cả cũng được
giảm nhiều. Thị trường kinh doanh chứa đựng đầy sự cạnh tranh gay khó
khăn cho những doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực kinh doanh hoá chất.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
24
chương ii
thực trạng hoạt động kinh doanh ở công ty
hoá chất bộ thương mại.
I. Tổng quan về Công ty Hóa Chất.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty Hoá Chất Bộ Thương Mại có tên giao dịch quốc tế là
CHEMCO có nguồn gốc ban đầu là trạm hoá chất thuộc công ty Ngũ Kim
Bộ nội thương được thành lập tháng 6 năm 1958. Công ty có mạng lưới kinh
doanh, quy mô lớn, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về
tài chính, có tài khoản tại ngân hàng, được sử dụng con dấu theo thể thức nhà

Để có thể tồn tại và phát triển, Công ty đã mở rộng nhiệm vụ của mình từ
chỗ chuyên doanh hoá chất đa ngành trong đó vẫn lấy ngành hoá chất công
nghiệp làm chủ đạo. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là nhập khẩu và xuất
khẩu. Công ty nhập khẩu chủ yếu là hoá chất công nghiệp và xuất khẩu chủ
yếu là cao su, khoáng sản và nông sản.
Hiện nay, Công ty Hoá Chất có trụ sở chính tại 135 Nguyễn Văn Cừ-
Quận Long Biên Hà Nội.
Điện thoại: 8271762 8271944.
Fax: 8271764.
Email:
Đây là trung tâm giao dịch của Công ty với cả nước.
2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.
2.1 Chức năng của Công ty.
Chức năng chính của Công ty là chuyên doanh các mặt hàng hoá chất,
xuất nhập khẩu trên 200 mặt hàng nhằm đáp ứng nhu cầu về hoá chất cho
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
26
các doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố và các tỉnh trong cả nước, góp
phần ổn định thị trường và tạo ra lợi nhuận cho Công ty, đóng góp vào ngân
sách nhà nước ,cải thiện cho đời sống cán bộ công nhân viên.Các mặt hàng
kinh doanh chủ yếu của công ty là:NaOH, CaCO3, Na2CO3, các loại axít
như:HCl, H2SO4, HNO3... hay nhựa: PE, PVC... Ngoài ra còn có các mặt
hàng ngoài ngành như:Mn, Si,..., oxit các loại như:TiO2, MgO,...,các loại
muối như:NaNO3, NH4Cl..trong đó hàng nhập khẩu chiếm 90% còn lại là
10% hàng mua trong nước. Hàng nhập khẩu của Công ty chủ yếu là hàng của
Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Thái Lan. Hàng mua trong nước
của Công ty từ : Công ty Supe Phốt Phát Hoá Chất Lâm Thao, Công ty Hoá
Chất Đức Giang. Khách hàng chủ yếu của Công ty là các doanh nghiệp sản
xuất, chủ yếu là các doanh nghiệp phía Bắc như:
+ Các nhà máy dệt: Nhà máy dệt 8/3,dệt Vĩnh Phú.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status