NHỮNG CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI - Pdf 70


CHƯƠNG 1:
NHỮNG CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI

I. Những thuế quan nhập khẩu
1. Những thuế quan được tính theo số lượng hàng hóa
2.
Thuế quan được tính theo giá trị hàng hóa
II.
Những loại thuế quan khác
1. Thuế quan nhân nhượng
2. Thuế quan đánh trên những nước được hưởng chế độ "tối huệ quốc" (MFN)
3. Thuế quan đối với những hàng hóa lắp ráp tại các công ty đặc ở nước ngoài
(OAP)
III. Tính toán mức thuế
1. Mức thuế bình quân
2. Tỷ suất thuế "hữu hiệu" và tỷ suất thuế "danh nghĩa"
IV.
Thuế xuất khẩu và trợ cấp xuất khẩu
V.
Những hàng rào phi thuế quan đối với thương mại tự do
1.
Hạn ngạch nhập khẩu
2.
Hạn chế xuất khẩu song phương

Chương này sẽ giới thiệu những công cụ chính sách khác nhau được các quốc gia
sử dụng để can thiệp vào việc phân phối nguồn lực trong thương mại tự do. Mặc dầu
những lợi ích được mang lại từ thương mại tự do đã được khẳng định trong lý thuyết
cũng như trong thực tế, nhưng những nhà hoạch định chính sách đã cố gắng đưa ra những
công cụ chính sách nhằm hạn chế những luồng hàng hóa và dịch vụ tự do thương mại

trong nước, nhưng vẫn có những khó khăn đi cùng nó bởi vì những nhân viên thuế quan
cần có những nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá giá trị tiền tệ của những hàng hóa nhập
khẩu. Biết được thực tế này, những nhà xuất khẩu thường ghi giá thấp trên hóa đơn. Mặt
khác, những nhân viên hải quan lại có xu hướng đánh giá trị cao cho những hàng hóa
nhập khẩu. Tuy vậy, loại thuế này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới.

II. NHỮNG LOẠI THUẾ QUAN KHÁC
1/ Thuế quan nhân nhượng
Là loại thuế được áp dụng cho một loại hàng hóa nhập khẩu được tính theo vị trí
địa lý của quốc gia tham gia thương mại; một quốc gia được hưởng loại thuế này thường
chi mức thuế quan thấp hơn. Thí dụ như ở Liên bang Anh, ở đây họ sẽ đánh một mức
thuế quan thấp cho những hàng hóa nhập khẩu từ các nước Uïc, Canada, Ấn Ðộ. Hiện tại,
loại thuế này ở Liên Minh Châu Âu (EU) giúp cho một hàng hóa đi vào một trong những
nước trong khối từ những nước nằm trong khối này không phải chịu thuế hải quan. Một
thí dụ khác là Hệ thống ưu đãi tổng quát, với loại thuế này nhiều nước phát triển cho
phép nhập khẩu không đóng thuế đối với một danh mục các mặt hàng đã được lựa chọn,
nếu như những hàng hóa đó được nhập khẩu từ một số nước đang phát triển. (Xem tình
huống 2).
2/ Thuế quan đánh trên những nước được hưởng chế độ Tối huệ quốc (MFN)
Một loại thuế quan đang được sử dụng rộng rãi là thuế quan đối với các nước
được hưởng chế độ tối huệ quốc. Loại thuế này dành cho một quốc gia có được những ưu
đãi đặc biệt so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, loại thuế này cũng có nghĩa ngược lại là
: nó là một yếu tố không phân biệt trong chính sách thuế quan.
Giả sử rằng, Mỹ và Ấn Ðộ đi đến một thỏa thuận thuế quan song phương, tại đó
Ấn Ðộ sẽ giảm thuế quan trên mặt hàng máy vi tính của Mỹ và Mỹ sẽ giảm thuế quan đối
với những mặt hàng quần áo của Ấn Ðộ. Chính sách thuế này cũng sẽ được áp dụng đối
với một nước thứ ba nào đó mà Mỹ có một thỏa thuận thuế quan tương tự đối với mặt
hàng quần áo. Mặt khác, nếu nước thứ ba này có một thỏa thuận thuế quan song phương
với Ấn Ðộ, thì quốc gia này cũng nhận được cùng mức giảm thuế trên mặt hàng máy vi
tính từ Ấn Ðộ (nếu như quốc gia này xuất máy vi tính sang Ấn Ðộ) như Mỹ. Những sự

Một cách đo lường cho mức thuế bình quân này là Mức thuế quan bình quân
không tính đến tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu. Giả sử rằng, chúng ta chỉ có 3 hàng
hóa nhập khẩu với những mức thuế sau đây: 10%, 15% và 20% cho 3 sản phẩm A, B và
C tương ứng. Lúc đó, mức thuế bình quân sẽ là
(10% + 15% + 20%)/3 = 15%
Nhược điểm của phương pháp tính này là nó không tính toán đến mức độ quan trọng
tương đối của những hàng hóa nhập khẩu: Nếu một quốc gia nhập khẩu phần lớn sản
phẩm A, thì mức thuế bình quân này quá cao. Do vậy, một cách tính khác sẽ khắc phục
nhược điểm này là tính Mức thuế quan bình quân có tính đến tổng giá trị hàng hóa nhập
khẩu. Mức thuế của mỗi hàng hóa sẽ được nhân với giá trị hàng hóa đó. Giả sử rằng,
quốc gia sẽ nhập khẩu 500.000 đô la sản phẩm A, 200.000 đô la sản phẩm B, và 100.000
đô la sản phẩm C. Lúc đó, mức thuế bình quân sẽ được tính toán như sau

Cách tính này cũng có nhược điểm liên quan đến qui luật cầu hàng hóa. Giả sử
những độ co giãn cầu giống nhau với tất cả những hàng hóa, lúc đó việc mua những hàng
hóa với mức thuế quan tương đối cao có xu hướng giảm xuống, trong khi việc mua
những hàng hóa với mức thuế quan thấp có xu hướng giảm ít hơn. Do vậy, mức thuế
quan chính nó sẽ làm thay đổi lượng nhập khẩu do việc đưa ra tầm quan trọng cao hơn
đối với những hàng hóa có mức thuế quan thấp.
Mức thuế quan được tính theo cách này có thể được chứng minh trong một hình
thức đặc biệt với những thuế quan ngăn cắm nhập khẩu, một thuế quan ngăn cắm nhập
khẩu có một mức thuế cao để ngăn chặn việc nhập khẩu. Trong thí dụ ở trên, mức
thuế quan này sẽ tồn tại nếu như hàng hóa D có mức thuế là 200%, lúc đó sẽ không có
hàng hóa D được nhập khẩu bởi mức thuế quá cao này. Mức thuế quan bình quân như đã
được tính vẫn sẽ là 12,5%, bởi vì với mức thuế quan 200% không có hàng hóa được nhập
khẩu. Trong trường hợp đặc biệt khác, một quốc gia nhập khẩu với một lượng rất ít hàng
hóa coó mức thuế quan bằng 0, nhưng có mức thuế quan ngăn cắm nhập khẩu trên tất cả
các hàng hóa nhập khẩu khác sẽ có mức thuế quan bình quân bằmg 0%, và quốc gia này
giống như là một quốc gia tự do thương mại!
Trong thực tế, mức thuế quan bình quân không tính đến tổng giá trị hàng hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status