VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------
LÝ ANH QUY
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------
LÝ ANH QUY
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI, năm 2020
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH............................. 61
3.1. Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ....................................................................... 61
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp....... 62
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm
thất nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. .......................................... 74
KẾT LUẬN......................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 81
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 86
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH
An sinh xã hội
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
Bộ LĐ-TB-XH
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Pháp luật lao động
Sở LĐ-TB-XH
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Phòng LĐ-TB-XH
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
TCTN
Trợ cấp thất nghiệp
TTDVVL
Trung tâm Dịch vụ Việc làm
Tp.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TCLĐQT
Tổ chức Lao động Quốc tế
01/01/2009, được quy định trong Luật BHXH năm 2006; tiếp theo Luật việc làm
năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 trong đó có quy định về pháp
luật BHTN nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ khi bị mất việc làm.
Thành phố Sài Gịn được hình thành từ năm 1623, nhưng đến năm 1698, Chúa
Nguyễn mới thành lập thành phố Sài Gòn. Vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến
Nhà rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi
đất nước thống nhất vào ngày 30/4/1975, thì Sài gịn được đổi tên là “thành phố Hồ
Chí Minh” từ ngày 02-7-1976 và từ đó đến nay tp.HCM là đơ thị lớn thứ hai của
VN về diện tích (chỉ sau thủ đơ Hà Nội) và đông nhất về dân số, đồng thời cũng là
một trong các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất
của VN; Hiện nay, Tp.HCM là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị
đặc biệt của VN, cùng với thủ đô Hà Nội. Tp.HCM nằm trong vùng chuyển tiếp
giữa đông nam bộ và tây nam bộ; phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, tây bắc giáp
tỉnh Tây Ninh, đông bắc và đông giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, đông nam
giáp Biển Đông và tỉnh Tiền Giang, nam và tây giáp tỉnh Long An; Tp.HCM cách Hà
Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo
1
đường chim bay. Tp.HCM hiện nay có 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với
322 phường, xã và thị trấn, tổng diện tích 2.095,06 km². Tp.HCM đang là một đơ
thị lớn có dân số tăng rất nhanh, chỉ trong chưa đến 2 thập kỷ, dân số TP.HCM đã
tăng gấp đôi, từ 4 triệu người năm 1990 lên 8 triệu người năm 2016. Cứ 5 năm, dân
số thành phố lại tăng hơn 1 triệu người.
Theo kết quả điều tra thỉ tổng dân số của Tp.HCM vào thời điểm 0 giờ ngày
01/4/2019 là 8.993.082 người, trong đó dân số nam là 4.381.242 người (chiếm
48,7%) và dân số nữ là 4.611.840 người (chiếm 51,3%); chiếm tỷ trọng 9,35% dân
số cả nước và 50,44% dân số vùng Đông Nam bộ. Dân số thành thị là 7.125.497
người (chiếm 79,23%), dân số nông thôn là 1.867.585 người (chiếm 20,77%). Kể từ
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật VN về
ASXH, quá trình thực thi BHTN đã phát huy vai trò to lớn đến sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nước. Vì thế, thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực
này, trong đó có những đề tài như:
- Đoàn Phương Thảo (2015), “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp qua thực tiễn
tại tỉnh Quảng Ninh”, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội.
- Dương Thị Nguyệt Khuê (2017), “Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật VN
hiện nay”, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội.
Ngồi ra, luận văn cịn tham khảo một số bài viết trên các tạp chí:
“Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội” đăng trên tạp
chí Cộng Sản số 789, ngày 12/7/2008 - Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - UVTW Đảng.
“Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng
phát triển” đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 26 tháng 4 năm
2010, của Ông Nguyễn Hữu Dũng - Trợ lý Bộ Trưởng Bộ LĐTB-XH.
“Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
nỗ lực bảo đảm an sinh xã hội giai đoạn hiện nay” - Bà Nguyễn Thị Kim Ngân UVTW Đảng - đăng trên tạp chí Cộng Sản điện tử ngày 27 tháng 5 năm 2011.
Ngồi ra cịn nhiều cơng trình nghiên cứu liên quan đến chính sách BHTN trên
cả nước. Hầu hết các cơng trình nghiên cứu đều đề cập tiếp cận lĩnh vực dưới nhiều
góc độ phát triển khác nhau ở tầm vĩ mô, được xem xét điều kiện thực tế ở các địa
phương khác nhau và những thời điểm khác nhau. Đây là nguồn tài liệu tham khảo
hữu ích để học viên hồn thành luận văn của mình.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu phân tích, làm rõ thêm về cơ sở lý luận và chính
sách, pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật về BHTN và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về BHTN, góp phần
+ Về mặt thời gian nghiên cứu: Pháp luật về BHTN, qua thực tiễn tại thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn từ 2015 - 2020.
+ Về nội dung nghiên cứu: Luận văn không nghiên cứu về giải quyết tranh chấp
cũng như xử lý vi phạm pháp luật BHTN về hành chính và hình sự.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu cùng với việc vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật, cũng như quan điểm của Đảng cộng sản VN về nhà nước và pháp luật nói chung
và về pháp luật BHTN nói riêng. Nội dung nghiên cứu bám sát đường lối, chủ trương
của Đảng về vấn đề ASXH, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa gắn với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong đó có quyền được BHTN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tại chương 1 luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng hợp,
phân tích lý thuyết, phân tích quy phạm, so sánh, đối chiếu thơng qua việc hệ thống
hóa văn bản quy phạm pháp luật là Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản, quy
định khác có liên quan.
Tại chương 2 luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tổng hợp,
thống kê, phương pháp so sánh, phân tích từ các Báo cáo tổng kết của các cơ quan
hành chính nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, số liệu thống kê, kết hợp với nguồn
thông tin từ cơ quan thông tin đại chúng, nguồn thông tin hợp pháp và tin cậy khác để
làm rõ thực trạng thi hành pháp luật về BHTN, nhằm đánh giá đúng thực trạng áp
dụng pháp luật BHTN tại địa phương.
Chương 3 luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, đánh
giá nhằm đề xuất các giải pháp mang tính khả thi đối với các đề xuất, giải pháp trình
bày trong luận văn để hồn thiện pháp luật về BHTN để cơng tác quản lý BHTN
được triển khai thi hành thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của VN.
5
1.1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục
hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp NTN tạm thời đảm bảo được cuộc sống và
tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung. Quỹ
này được hình thành qua sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ có sự hỗ trợ của nhà
nước, được sử dụng để trả trợ cấp thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp
nhằm nhanh chóng giúp NTN có được việc làm mới. Dưới góc độ pháp lý, BHTN là
tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi
trả cho TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện
pháp đưa NTN trở lại làm việc. BHTN vì thế thường được hiểu là một chế độ trong
hệ thống các chế độ BHXH, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập
do thất nghiệp. BHTN là một phạm trù kinh tế - xã hội gắn với sự ra đời của sản xuất
hàng hố và phân cơng LĐ xã hội, giúp cho NLĐ giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc
sống cho bản thân và gia đình khi bị mất việc làm, tái hoà nhập thị trường LĐ.
Theo ILO Convention (1952) và ILO Convention (1988): BHTN là một hình
thức BHXH nhằm đảm bảo chi trả một khoản trợ cấp tối thiểu trong một thời gian
giới hạn cho những cá nhân bị thất nghiệp mà không do lỗi của họ, gây ra việc mất
thu nhập mà họ và gia đình họ dựa vào đó. BHTN thường chỉ đảm bảo cho những
NLĐ có thu nhập định kỳ, bởi vì theo lý thuyết những đối tượng này dễ gặp phải rủi
ro thất nghiệp khơng tự nguyện.
Xuất phát từ những ý kiến trên, có thể xem khái niệm BHTN như sau: BHTN
là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung-quỹ BHTN-được hình thành do
sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm
đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình khi gặp rủi ro về việc làm. Mặt khác,
7
TCTN của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình
Đối tượng phải chịu ảnh hướng trực tiếp và cũng là ảnh hưởng nặng nề nhất của
tình trạng thất nghiệp chính là NLĐ. Họ khơng có việc làm đồng nghĩa họ khơng có
thu nhập. Khơng có tiền trong tay sẽ dẫn đến sự đói kém, gây sức khỏe giảm sút. Một
người trong gia đình khơng có thu nhập sẽ tạo ra gánh nặng cho những người cịn lại.
Cha mẹ khơng có cơng ăn việc làm thì con cái sẽ khơng có cái ăn, khơng được đi học
và cũng chẳng ai còn lo cho sức khỏe của chúng.
* Gây nguy hại đến trật tự xã hội
Thất nghiệp là một trong nhiều ngun nhân dẫn đến xã hội bất ổn. NLĐ khơng
có việc làm sẽ sinh ra tâm lý bất mãn, họ có thể tụ tập tiến hành biểu tình khiến sự
n bình trật tự xã hội thường ngày khơng cịn. Nhiều NTN đang là một NLĐ nghiêm
túc thì bỗng nhiên “nhàn cư vi bất thiện” trở nên có những tính xấu như trộm cắp
hoặc có thể dụ dỗ nghiện ngập hay mại dâm cũng chỉ vì “đói ăn vụng, túng làm liều”.
Tóm lại, thất nghiệp mang đến nhiều tác hại cho bản thân NLĐ, cho nền kinh tế
và cho cả xã hội. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng tận dụng kiến thức, kỹ năng của bản
thân để tìm cho mình cơng việc thích hợp nhất tránh rơi vào tình trạng thất nghiệp.
1.1.3. Ý nghĩa bảo hiểm thất nghiệp
BHTN có ý nghĩa rất thiết thực trong cuộc sống, đảm bảo mục tiêu ASXH và
phát triển kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia cụ thể như sau[17]:
* BHTN có chức năng bảo vệ, bù đắp những tổn thất về mặt tài chính cho NLĐ
bị thất nghiệp và giúp họ có khả năng cũng như cơ hội quay lại thị trường làm việc.
* BHTN không chỉ là công cụ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong xã hội mà cịn
là chính sách giúp ổn định xã hội một cách tốt nhất.
* Bảo hiểm thất nghiệp cịn có chức năng khuyến khích giúp hạn chế sự ỷ lại
của NLĐ, khuyến khích họ chăm chỉ làm việc, sẵn sàng làm việc.
* Sau những lợi ích trên thì BHTN vừa đóng vai trị quan trọng đối với DN, vừa
đóng vai trị tối ưu đối với Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề xã hội.
* Nhờ có BHTN, khi NLĐ bị mất việc, chủ DN khơng phải mất phí trợ cấp mất
việc làm cho NLĐ nên NSDLĐ sẽ sử dụng nguồn LĐ thoải mái và hợp lý hơn, tạo
động lực cho sản xuất phát triển.
Vai trò của BHTN đối với NLĐ là: động viên NLĐ hăng hái - tích cực hơn
trong q trình làm việc; là bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm,
10
giúp họ và gia đình ổn định cuộc sống; là phân phối lại thu nhập giữa những người
cùng tham gia BHTN; là Quỹ BHTN nhàn rỗi được tái đầu tư sẽ góp phần vào phát
triển kinh tế - xã hội
Các nguồn thu chủ yếu từ các đối tượng tham gia đã tồn tích, hình thành quỹ
BHTN, trong thời gian nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để
tạo lợi nhuận hợp lý, góp phần tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN. Khoản đầu tư
này vừa góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh cho nền kinh tế, vừa đảm bảo an
toàn cho quỹ BHTN không bị trượt rồi mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho NLĐ.
1.1.4.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động
Gánh nặng tài chính của NSDLĐ sẽ được chia sẻ khi những NLĐ tại DN bị mất
việc làm, NSDLĐ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết các chế độ cho
NLĐ. Khơng chỉ dừng ở đó BHTN cịn có vai trị hỗ trợ cho các DN khó khăn trong
việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho NLĐ để họ có thể duy
trì phát triển ngành nghề của mình. Như vậy NSDLĐ vừa tiết kiệm được một khoản
chi phí vừa có được một đội ngũ LĐ có tay nghề có kỹ thuật đã qua đào tạo để nâng
cao hiệu quả và giảm chi phí trong sản xuất vượt qua khó khăn ổn định DN.
1.1.4.3. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với nhà nước và xã hội
Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với nhà nước: Ngân sách nhà nước sẽ
giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo
sự chủ động về tài chính cho nhà nước. BHTN chia sẻ gánh nặng ngân sách và ổn
định tình hình chính trị xã hội khi tình trạng thất nghiệp xảy ra, thu hút đầu tư để xây
dựng phát triển đất nước.
Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp về mặt chính trị: Bất kỳ một quốc gia nào, vào
thời gian nào cũng luôn tồn tại một lực lượng thất nghiệp tuy mức độ và tỷ lệ có khác
để được thụ hưởng chế độ khi bị mất việc làm. Đồng thời pháp luật BHTN ln là
hình thức bảo hiểm bắt buộc, theo đó NLĐ và NSDLĐ khi đủ điều kiện bắt buộc phải
tham gia đóng phí vào quỹ BHTN, nhằm để tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho
NLĐ khi bị mất việc làm khơng có thu nhập.
Từ đó có thể thấy, việc điều chỉnh pháp luật đối với thất nghiệp và BHTN trước
hết là việc Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho việc
giải quyết các mối quan hê ̣khi xuất hiện thất nghiệp, để các cơ quan có thẩm quyền
ra các văn bản áp dụng pháp luật. Thông qua việc xây dựng và ban hành các văn bản
12
quy phạm pháp luật về thất nghiệp, Nhà nước định hướng cho những quan hê ̣xã hội
trong lĩnh vực thất nghiệp phát triển phù hợp với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Như vậy, cùng với quan niệm về BHTN đã phân tích ở trên, có thể
hiểu pháp luật về BHTN là tổng thể các quy định của Nhà nước nhằm điều chỉnh các
quan hê ̣xã hội phát sinh trong lĩnh vực của BHTN như: việc đóng góp và sử dụng
quỹ BHTN, chi trả TCTN và thực hiện các biện pháp đưa NTN trở lại làm việc.
BHTN ra đời mang tính tất yếu khách quan, gắn liền với nền kinh tế thị trường,
khi sức LĐ được coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Nhà nước với tư cách là chủ thể
quản lý phải sử dụng các công cụ quản lý nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược
phát triển của đất nước, trong đó có pháp luật BHTN.
Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp là sự tác động của Nhà nước tới các đối tượng
tham gia BHTN thông qua các biện pháp, công cụ pháp luật nhằm mục tiêu ASXH,
ổn định và phát triển kinh tế.
Với khái niệm nêu trên về pháp luật BHTN, thì có ba đặc điểm cần lưu ý:
Thứ nhất, pháp luật BHTN là một chính sách pháp luật cơng. Do vậy, chủ thể
pháp luật là Nhà nước.
Thứ hai, đối tượng của pháp luật là những NLĐ tham gia đóng BHTN và
NSDLĐ. Chỉ những NLĐ tham gia đóng BHTN bị thất nghiệp mới được hưởng lợi
Nguyên tắc thứ hai, chế độ BHTN được xây dựng trên cơ sở quan hệ hữu cơ
giữa mức hưởng của BHTN với mức đóng góp và thời gian đóng BHTN.
Nguyên tắc này dựa trên mối quan hệ giữa sự đóng góp và hưởng thụ của NLĐ,
có đóng thì mới có hưởng. Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ thực hiện chức
năng quản lý đối với các hoạt động kinh doanh, do đó khi xây dựng pháp luật BHTN
cần có tỷ lệ tương xứng giữa đóng góp và thụ hưởng của NLĐ, hạn chế tới mức thấp
nhất sự bù đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN. Tuy nhiên, việc quy định tỉ lệ này
phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người lao động, xuất phát từ vai trò quan
trọng của BHTN đó là hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ khi bị mất thu nhập do mất việc
làm. Việc xác định mức hưởng trợ cấp BHTN phải đảm bảo được khả năng chi trả
của quỹ bảo hiểm và tính khuyến khích NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thốt
khỏi tình trạng thất nghiệp. Nếu quy định tỉ lệ hưởng trợ cấp BHTN quá thấp, thời
gian được hưởng quá ít sẽ không bảo đảm được mức sống tối thiểu cho NLĐ, làm
14
mất đi ý nghĩa của BHTN. Nhưng nếu quy định mức trợ cấp BHTN quá cao, thời
gian hưởng trợ cấp kéo dài lại dẫn đến khó cân đối nguồn tài chính giữa thu và chi
BHTN, thì sẽ gây lãng phí tiền quỹ trong việc chi trả BHTN cũng như sẽ tạo ra tâm
lý ỷ lại trông chờ vào sự trợ giúp của BHTN và tư tưởng lười LĐ sẽ không tích cực
tìm việc làm của ở NLĐ. Ngồi ra, ngun tắc này cũng có mối quan hệ khắng khít
với ngun tắc chia sẽ rủi ro, lấy số đông bù số số ít. BHTN khơng chỉ mang tính
chất kinh tế thơng qua các khoản trợ cấp thất nghiệp mà nó cịn mang tính chất xã hội
sâu sắc, có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng nhằm giúp NLĐ vượt qua được
khó khăn sau khi rơi vào tình trạng mất việc làm.
Nguyên tắc thứ ba, là mức đóng BHTN dựa trên cơ sở tiền lương của NLĐ.
Khác với các loại bảo hiểm dân sự hay thương mại, thì BHTN mang tính chất của chế
độ an sinh - xã hội. Trong khi các loại bảo hiểm khác thì bảo đảm về tài sản hay tính
mạng thì BHTN lại đảm bảo cho nguời lao động về vấn đề tài chính mà cụ thể là
quỹ BHTN, áp dụng các biện pháp để bảo toàn giá trị quỹ và làm cho quỹ tăng
trưởng. Ngoài ra, Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý sự nghiệp BHTN cho tồn xã
hội nhưng khơng bao cấp, khơng lấy ngân sách để chi trả mà chỉ hỗ trợ một phần.
Nguyên tắc thứ sáu, pháp luật BHTN đảm bảo nguyên tắc lành mạnh hóa thị
trường lao động. Để giải quyết thất nghiệp địi hỏi phải có một pháp luật tổng thể,
được thiết kế để kích thích nền kinh tế. Xu hướng chung của các nước hiện nay là,
ngoài trợ cấp cho NLĐ, khi thất nghiệp, có điều kiện sinh sống, người ta còn thực
hiện thêm biện pháp đào tạo lại NLĐ để họ có điều kiện dễ tìm việc làm mới. Vì vậy,
BHTN được liên kết chặt chẽ với các biện pháp thị trường LĐ tích cực như tạo ra chỗ
làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nâng cao năng lực cho NLĐ, giới thiệu việc làm
cho NTN. Các biện pháp này luôn gắn liền với pháp luật và chương trình việc làm
quốc gia. BHTN thường được thống nhất với chương trình việc làm quốc gia. Đây
như một biện pháp, pháp luật hỗ trợ LĐ nhằm đẩy lùi thất nghiệp, nhanh chóng đưa
NTN trở lại làm việc.
1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Pháp luật BHTN đối với mỗi quốc gia khi xây dựng hệ thống chính sách pháp
luật về BHTN, đều cần những nội dung cơ bản làm nền tảng. Các nội dung này
thường đề cập xoay quanh các vấn đề sau đây:
1.2.3.1. Đối tượng tham gia pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
16
Đối tượng tham gia là nội dung được quan tâm đầu tiên, mang tính chất bắt
buộc, nhằm xác định chủ thể đủ điều kiện tham gia vào pháp luật BHTN. Tùy theo
tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước mà có những quy định về việc làm khác nhau,
có thể mở rộng thêm cũng như thu hẹp lại đối tượng tham gia BHTN. Có có ba chủ
thể tham gia BHTN là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước.
Về phía NLĐ: Theo Điều 2 Công ước số 44 của ILO về “Công ước về bảo đảm
tiền cấp cho NTN không tự nguyện” năm 1934, BHTN được áp dụng tới tất cả những
HĐLĐ, về việc nộp hồ sơ hưởng BHTN, và khoảng thời gian chưa tìm được việc làm
sau khi đã nộp hồ sơ trên. Còn NLĐ tham gia BHTN thì khơng nhất thiết NLĐ đã là
người được hưởng các chế độ của BHTN, vì họ có thể thiếu một trong các điều kiện
do pháp luật quy định như NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hay
không nộp hồ sơ hưởng TCTN đúng thời hạn quy định của pháp luật về BHTN.
Theo Công ước số 44 của ILO thì NLĐ chỉ đươc hưởng BHTN khi đáp ứng đủ
các yêu cầu đã được đặt ra, như về khả năng LĐ và sẵn sàng làm việc khi được giới
thiệu việc làm, về thời gian đóng, về nguyên nhân thất nghiệp, đã đăng ký tìm việc tại
trung tâm giới thiệu việc làm hoặc tại các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quản
lý. Hay như tại Đan Mạch, để NLĐ được hưởng TCTN thì họ phải đáp ứng đủ điều
kiện như sau: NLĐ phải đóng bảo hiểm ít nhất 52 tuần trong vòng 3 năm trước khi bị
thất nghiệp; NLĐ phải đăng ký tìm việc làm tại các trung tâm LĐ và phải sẵn sàng
làm việc khi được giới thiệu một công việc phù hợp; Không những vậy, việc thất
nghiệp của NLĐ không phải xuất phát từ việc tự ý rời việc, chấm dứt HĐLĐ trái
pháp luật hay tranh chấp LĐ khác. Nhìn chung để được hưởng BHTN thì NLĐ cần
phải đáp ứng ít nhất các điều kiện về thời gian tham gia BHTN; nguyên nhân thất
nghiệp; thủ tục hưởng BHTN; khả năng LĐ và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu
việc làm mới.
Muốn được hưởng trợ cấp BHTN, NTN phải có đủ các điều kiện sau (theo
Cơng ước số 44 của ILO): Có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại
khơng có việc làm; Có đăng ký tìm việc tại một phịng tìm việc do cơ quan có thẩm
quyền xác nhận hay tại một trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm do Nhà nước
quản lý; Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng BHTN đủ thời hạn quy định
của thời kỳ dự bị; Trước đó khơng tự ý nghỉ việc vô cớ hoặc không phải bị nghỉ việc
18
vì kỷ luật hay tranh chấp nghề nghiệp; Có giấy chứng nhận mức lương hay thu nhập
trước khi bị thất nghiệp (trường hợp trả trợ cấp theo mức lương).