VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGỒI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI -2020
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGỒI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên Ngành
: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mãsố : 8 38 01 02
QĐ
UBND
Viết đầy đủ
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bộ luật Lao động
Chính phủ
Tổng sản phẩm trong nước địa phương
Hội đồng Nhân dân
Lao động nước ngoài
Nghị định
Nghị quyết
Nhà xuất bản
Quyết định
Ủy ban Nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………… …1
2.Tình hình nghiên cứu ................................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ...................................... 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 6
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ...................................... 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ............................................... 6
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................ 6
Chương 1 .................................................................................................... 7
ngoài………. .................................................................................................... 22
1.3. Pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
của một số quốc gia và kinh nghiệm với Việt Nam ........................................... 23
- Hàn Quốc………………………………………………………23
- Đài Loan (Trung Quốc) ...................................................................... 25
- Malaysia ............................................................................................. 27
- Singapore ............................................................................................ 28
- Cộng hòa Liên bang Đức.................................................................. 489
- Cộng hòa Pháp..................................................................................... 49
Tiểu kết chương 1 ...................................................................................... 33
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI
LAO ĐỘNG NƯỚC NGỒI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH..34
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế-xã hội, lao động – việc làm của người
lao động nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh .............................................. 34
2.1.1. Khái qt về tình hình kinh tế -xã hội của thành phố Hồ Chí
Minh…………………………………………………………………………34
2.1.2. Khái quát về lao động- việc làm của người lao động nước ngồi
tại thành phố Hồ Chí Minh…………………………………………………36
2.1.3. Nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, sự phát triển của thị
trường lao động đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.45
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại
Thành phố Hồ Chí Minh................................................................................... 46
2.2.1. Thực trạng quản lý nhà nước đối với việc cấp giấy phép lao động
cho người lao động nước ngoài theo pháp luật Việt Nam: ................................ 46
2.2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về thu hồi giấy phép lao động đối với
người lao động nước ngoài theo pháp luật Việt Nam ........................................ 49
2.2.3. Thực trạng về hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối
với người lao động nước ngoài ......................................................................... 51
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước
Trên thế giới, các quốc gia đã chú trọng vấn đề di cư, trong đó có di cư với
mục đích làm việc và thiết lập khung pháp lý chặt chẽ quản lý lao động nước ngoài.
Đối với pháp luật Việt Nam, chúng ta đã có những qui định liên quan đến quản lý lao
động là người nước ngoài và được hoàn thiện dần hệ thống pháp lý để đảm bảo cơ
chế quản lý của cơ quan nhà nước chặt chẽ hơn. Bộ luật Lao động 1994 đã tạo bước
khởi đầu cho việc xác lập cơ chế quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam. Tiếp theo là Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002, Bộ luật Lao động năm
2012, Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2021) bổ sung,
hồn thiện các quy định về quản lý lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt
Nam. Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản nhằm tăng
cường công tác quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; các văn bản
pháp luật được ban hành tương đối kịp thời, phù hợp, trong đó một số văn bản từng
bước được bổ sung, hồn chỉnh theo hướng tăng cường quản lý và giảm bớt thủ tục
hành chính, phù hợp với thơng lệ quốc tế. Tuy nhiên, thị trường lao động luôn biến
động, các yêu cầu đặt ra cho công tác phát triển nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy sự gia tăng tính phức
tạp và biến động của vấn đề lao động nước ngồi làm việc tại nước ta. Do đó các văn
bản pháp luật có liên quan cần phải được rà sốt, hồn chỉnh để phù hợp với thực
tiễn cũng như đảm bảo quyền lợi đối với công dân nước ngoài tham gia thị trường
lao động của Việt Nam. Vì vậy, nhu cầu hồn thiện pháp luật là một tất yếu trong
giai đoạn hiện nay.
Hiện nay, số lao động nước ngồi tại TP. Hồ Chí Minh được cấp giấy phép
cịn hiệu lực và số lao động có xác nhận không thuộc diện cấp phép là 19.534 người
đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà thầu. Một số quốc gia và
vùng lãnh thổ có số lượng lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động nước
ngoài làm việc tại thành phố, gồm: Nhật Bản: 3.017 người (15,5%); Hàn Quốc: 3.041
người (15,5%); Trung Quốc: 1.993 người (10,2%); Anh: 1.532 người (7,8%); Đài
Loan: 1.614 người (7,6%); Hoa Kỳ: 1.393 người (5,9%), Pháp: 1.014 người (5,2%),
Nội dung được chọn nghiên cứu là vấn đề nhận được sự quan tâm không nhỏ
của các chuyên gia pháp lý, các chuyên gia kinh tế, các hiệp hội doanh nghiệp các
nước hoạt động tại Việt Nam cũng như người sử dụng lao động. Đã có nhiều bài viết
nghiên cứu liên quan đến tính pháp lý như “Một số vấn đề pháp lý về người nước
ngoài đến làm việc tại Việt Nam” của TS. Lưu Bình Nhưỡng đăng tải trên Tạp chí
Luật học, Số 9/2009 [21]; bài viết mang tên “Thực trạng sử dụng lao động nước
ngoài trong các doanh nghiệp” của ThS. Nguyễn Thị Thu Hương và ThS. Nguyễn
Thị Bích Thúy đăng tải trên Tạp chí Lao động và Xã hội, số 462/2013 [17]; bài viết
“Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm
việc ở Việt Nam hiện nay” của ThS. NCS. Trần Thị Bích Nga (Giảng viên Khoa
Chính trị - Luật, Trường Đại học Hà Tĩnh); hội thảo năm 2019 của Ban Kinh tế
Trung ương về “Thực trạng và giải pháp quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam”
[10].
Tác giả Phạm Mạnh Hùng với bài viết "Lao động nước ngoài tại Việt Nam Góc nhìn khác" (Báo Điện tử, Đài Tiếng nói Việt Nam – VOV.VN, ngày 16/8/2011)
đã đề cập đến hiện tượng người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam một cách
khách quan, tránh tạo ra những tâm lý cực đoan trong xã hội thực trạng lao động
nước ngoài tại Việt Nam, những bất cập trong công tác quản lý và đề xuất chính sách
với người lao động tại Việt Nam, lao động Việt Nam ra nước ngoài. Tác giả Sally
Baber và Max Tunon, Văn phịng Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Lao
động Quốc tế với bài viết "Hội nhập ASEAN tác động đến lao động di cư Việt Nam
như thế nào?" (tại trang web: www.ilo.org ngày 27/12/2013) đã đề cập đến vấn đề di
cư lao động và cơ hội khi Việt Nam gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, vai trò của
Tổ chức lao động quốc tế trong việc cam kết với Chính phủ, Tổ chức sử dụng lao
động và bảo vệ người lao động di cư. Tác giả Lê Quốc Lý, Lê Văn Cương (Tạp chí
kinh tế và dự báo số 24 (440), tháng 12/2008) "Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề
việc làm ở Việt Nam" đã đề cập đến những thuận lợi, thách thức đối với các doanh
nghiệp Việt Nam về vấn đề việc làm, cạnh tranh thị trường lao động...Từ đó đề xuất
9 giải pháp liên quan đến sử dụng, quản lý lao động di cư vào Việt Nam và xuất khẩu
phải có sự quan tâm nghiên cứu chuyên sâu để có những đề xuất phù hợp cho từng
địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu các quy định về quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài như cấp, cấp lại giấy phép lao động và thanh tra, kiểm tra sau khi cấp giấy
phép lao động từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở nghiên cứu sẽ nhận
thấy được những yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý
người lao động nước ngoài và từ đó có nhận định về thực trạng thực hiện pháp luật
quản lý nhà nước từ thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh. Từ những bất cập trong
thực tiễn thực hiện pháp luật đối với nguời lao động nước ngoài như: cấp, cấp lại
giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, thanh tra,
kiểm tra và xử lý vi phạm đối với người lao động nước ngồi; cơng tác phối hợp
trong việc quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó, có những đề xuất xây dựng, khắc phục những hạn chế, bất cập còn vướng
mắc khi thực hiện pháp luật và từng bước nâng cao hiệu qủa quản lý nhà nước trong
việc thực hiện, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực về lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với
người lao động nước ngoài, nêu việc thực hiện pháp luật về lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về lao động nước
ngồi tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
- Phân tích, đánh giá các quy định về quản lý lao động nước ngồi nói chung
và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng; chỉ ra những bất cập, hạn chế của hệ thống
văn bản pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hồn thiện pháp
luật về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn làm sáng tỏ hơn những vấn đề về quản lý nhà nước
đối với người lao động nước ngồi: Vừa quản lý chặt chẽ, vừa khuyến khích lao
động có trình độ và tay nghề cao, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Về thực tiễn, Đề tài luận văn sẽ giúp cho cán bộ quản lý nhà nước các sở, ban
ngành của Thành phố Hồ Chí Minh về các biện pháp tăng cường quản lý nhà nước
đối với lao động nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo, cụ thể:
- Chương 1: Khái quát chung và quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
đối với người lao động nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật và tăng cường
quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
1.1. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với người
lao động nước ngoài
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài
Hiện nay, trong xu thế tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế, với chính sách đối
ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng và nhà nước
ta, nhu cầu về lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày càng tăng. Di
động của các cơ quan, tổ chức hay toàn bộ nhà nước nhằm đạt được mục đích mà
nhà nước đề ra[4, tr.22]. Từ khái niệm này, có thể hiểu, quản lý nhà nước được tiếp
cận ở hai nghĩa (tương ứng hai phạm vi), theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là sự tác động của các chủ thể mang quyền
lực nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại
của nhà nước (bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp vận hành như một
thể thống nhất nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước) [5, tr.207].
Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chính là hoạt động hành chính nhà nước hay
đơi khi cịn được gọi là hoạt động chấp hành - điều hành do các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện, nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này là khái niệm quản lý nhà
nước theo nghĩa hẹp. Theo đó, quản lý nhà nước bao gồm tồn bộ các hoạt động từ
ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt
động của đối tượng bị quản lý và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với đối tượng
quản lý của nhà nước.
Ở góc độ khoa học, hiện nay có hai quan điểm phổ biến khi xác định nội hàm
của khái niệm “quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài”.
Quan điểm thứ nhất cho rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài là một bộ phận của quản lý nhà nước đối với người nước ngồi nói chung.
Theo đó, quản lý nhà nước đối với người nước ngoài là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các hoạt động xuất cảnh, nhập
cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động của người nước ngoài nhằm bảo đảm trật tự pháp luật,
góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là hoạt
động quản lý bằng pháp luật của nhà nước mà chủ yếu là bằng các luật, pháp lệnh,
nghị định, thông tư, hướng dẫn về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động
(trong đó có lao động) của người nước ngồi tại Việt Nam. Hoạt động này do nhiều
cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền cùng thực hiện.
Quan điểm thứ hai cho rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước
khai thác, sử dụng hiệu quả, ngăn chặn những vấn đề phức tạp phát sinh từ nguồn
lao động nước ngồi cũng như bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ khi làm việc
tại Việt Nam”.
Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi có các đặc điểm nổi bật
sau:
Một là, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi là một q trình
gắn bó chặt chẽ với việc bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc. Có quan
điểm cho rằng về cơ bản quyền con người trong lao động là những quyền con người
liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm,
tiền lương, an tồn lao động, hoạt động cơng đồn, an sinh xã hội nói chung và bảo
hiểm nói riêng. Nếu hiểu mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao
động bao gồm các nội dung liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng
lao động thì quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi là q trình tác
động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các điều kiện lao động và sử dụng lao
động của những người lao động nước ngoài. Như vậy có thể thấy rằng quản lý nhà
nước đối với người lao động nước ngồi có liên quan đến các mối quan hệ quốc tế và
việc bảo vệ quyền con người. Ở Việt Nam hiện nay vấn đề lao động di trú có tầm
quan trọng lớn trong chính sách kinh tế và chính sách ngoại giao. Thực hiện các cam
kết quốc tế về lao động, hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài ở Việt Nam hướng đến bảo vệ quyền của những người lao động nước ngồi
Đây là đặc điểm quan trọng khơng chỉ liên quan đến thiết kế chính sách, thiết lập cơ
chế quản lý, xây dựng pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngồi mà cịn liên quan đến các hoạt động tác nghiệp quản lý cụ thể.
Hai là, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi là một q trình
liên quan tới nhiều ngành, tất cả các địa phương và nhiều quan hệ lao động. Để bảo
đảm người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có nhiều vấn đề quản lý
nhà nước phải đặt ra như: nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, cấp phép lao động, điều kiện
lao động và sử dụng lao động, việc làm, giáo dục, y tế, cơng đồn, bảo hiểm xã hội,
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ
và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong
các nhà nước bóc lột) [8, tr.204].
Để hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi đạt được
hiệu quả địi hỏi nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật để tạo ra các quy tắc
xử sự chung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc quản lý người lao
động nước ngoài tại Việt Nam. Việc xây dựng các quy định pháp luật tạo ra hành
lang pháp lý vững chắc và cụ thể để các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản
lý người lao động nước ngoài với các nội dung cụ thể về thực hiện thủ tục xin giấy
phép lao động, xác lập quan hệ lao động, thực hiện hợp đồng lao động… Qua đó góp
phần bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài đạt
hiệu quả.
Về mặt khái niệm, “pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài là tổng thể các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc nhà nước tác động vào đối tượng bị
quản lý là những người lao động nước ngoài nhập cư vào một quốc gia để làm ăn,
sinh sống với tư cách cá nhân hoặc gia đình của họ với các nguyên tắc cơ bản là tôn
trọng quyền con người, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm
hiệu quả kinh tế và bảo vệ việc làm của người lao động trong nước; đồng thời tơn
trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài nhằm mục tiêu
đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý và gắn với việc sử
dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của
tồn xã hội”.
Xuất phát từ tính chất quốc tế trong việc quản lý người lao động nước ngồi
có thể thấy đối tượng bị quản lý khá phức tạp với nhiều chủ thể đến từ các quốc gia
khác nhau địi hỏi trong những tình huống nhất định phải có quy chế pháp lý khác
nhau để điều chỉnh. Do đó có thể thấy rằng nguồn của pháp luật quản lý nhà nước
đối với người lao động nước ngoài khá phong phú, có thể bao gồm: (i) Văn bản quy
vấn đề quốc gia tiếp nhận lao động cần chú trọng. Do vậy, các quy định pháp luật về
quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài giúp kiểm soát nguồn lao động
nhập cư để loại trừ các hiểm họa về dịch bệnh, bạo lực, lao động trái phép, tệ nạn xã
hội đối với xã hội trong nước.
Hai là, pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngồi góp
phần bảo vệ việc làm của người lao động trong nước và bảo đảm hiệu quả kinh tế
Số lượng người lao động nước ngoài gia tăng đồng nghĩa với việc số lượng và
cơ hội việc làm của người lao động trong nước bị thu hẹp. Vì vậy, nếu khơng kiểm
sốt nguồn lao động nước ngồi có thể tạo ra sức ép về giải quyết nhu cầu việc làm
của người lao động trong nước, từ đó làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp khi
tình trạng thất nghiệp gia tăng. Khơng ai có thể phủ nhận việc gia tăng số lượng
người lao động nước ngồi làm cho người sử dụng lao động có thêm nhiều cơ hội
trong việc lựa chọn nguồn nhân lực phù hợp và thúc đẩy cạnh tranh. Nhu cầu sử
dụng lao động có trình độ chun mơn cao có thể được đáp ứng qua đó cải thiện và
nâng cao hiệu quả lao động, gia tăng lợi ích về mặt kinh tế. Ở một số quốc gia khi cơ
cấu dân số có xu hướng dịch chuyển sang dân số già thì việc thu hút người lao động
nước ngoài giúp nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động. Trong khi đó ở Việt
Nam hiện nay cơ cấu dân số đang ở giai đoạn lý tưởng khi độ tuổi lao động chiếm tỷ
lệ cao, vì thế việc bảo đảm nhu cầu việc làm của người lao động trong nước là vấn đề
nhà nước phải thực hiện. Do vậy, pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao
động nước ngồi có vai trò trong việc thiết lập các điều kiện lao động của người
nước ngồi tại Việt Nam, hạn chế tình trạng người lao động nước ngồi thực hiện các
cơng việc phổ thơng mà người lao động trong nước cũng có thể đáp ứng. Do đó,
pháp luật nước ta hiện nay chỉ khuyến khích những người lao động nước ngồi có
trình độ cao để đáp ứng các công việc mà lao động trong nước chưa thể đáp ứng yêu
cầu về chuyên mơn hoặc người nước ngồi làm việc tại Việt Nam thông qua hoạt
động đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp, thực hiện dự án đầu tư để góp phần phát
triển kinh tế của đất nước.
1.2.1. Q trình phát triển các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với
người lao động nước ngoài tại Việt Nam
Ở nước ta, tính từ thời kỳ đổi mới năm 1986 cho đến nay, Đảng ta đã ban
hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về phát triển kinh tế thị trường, hội
nhập quốc tế. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI cho đến Đại hội Đảng lần thứ XII, trong
mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn Đảng ta đều có những chủ trương, chính sách, đường lối
đúng đắn, phù hợp. Từ những định hướng của các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh
quan hệ lao động đối với người nước ngoài cư trú, làm việc tại Việt Nam. Theo đó,
Luật Đầu tư nước ngồi tại Việt Nam năm 1987 là văn bản đầu tiên tạo ra môi trường
pháp lý cho đối tượng là người lao động nước ngoài. Từ năm 1990, Luật được nhiều
lần chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam cũng như bảo
đảm các cam kết với cộng đồng quốc tế, hiện nay là Luật Đầu tư năm 2014, Luật
Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và trên cơ
sở các văn bản hướng dẫn.
Đặc biệt, các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động
nước ngoài được quy định trong các văn bản pháp luật về lao động qua các thời kỳ.
Đầu tiên là Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành đã đưa lao động là người
nước ngoài vào một mục riêng – Mục V chương 11 với 5 điều (từ Điều 131 đến Điều
135). Tính đến nay, cơ sở pháp lý cho người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam
đã trải qua gồm: Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002,
2006, 2007) và Bộ luật Lao động năm 2012. Ngồi ra, cịn có nhiều luật, pháp lệnh,
nghị định, thơng tư có liên quan hướng dẫn về quản lý nhà nước đối với người nước
ngoài lao động tại Việt Nam. Có thể kể ra một số văn bản nổi bật như Cụ thể như:
Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 08/7/2014 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ
thường kỳ tháng 6/2014; Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về LĐNN tại Việt
Nam; Thông tư số 41/2014/TT-BCT ngày 05/11/2014 của Bộ Công Thương quy