VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM ANH QUÂN
PHẠM ANH QUÂN
NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỊA
ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
KHĨA IX
Hà Nội, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM ANH QUÂN
HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỊA ÁN
NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN TẤT VIỄN
1.2. Các căn cứ hủy bản án sơ thẩm hình sự………….…………………....
11
1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hủy bản án sơ thẩm trong tố
tụng hình sự…………………………………………………………………..
18
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỦY BẢN
ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA TỊA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.............................................................. .........
2.1.
32
Tình hình hủy bản án sơ thẩm hình sự tại Tịa án nhân dân cấp cao
Thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………………
32
2.2. Thực tiễn thi hành các quy định về căn cứ hủy bản án sơ thẩm tại Tòa
án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh..............................................
35
Chương 3: NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG SAI SÓT, VI PHẠM
TRONG HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Cơ quan điều tra
ĐTV
Điều tra viên
HĐXX
Hội đồng xét xử
KSV
Kiểm sát viên
TAND
Tịa án nhân dân
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
là việc Tịa án cấp trên không thể khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong
q trình áp dụng pháp luật của Tịa án cấp dưới hoặc do có những tình tiết
mới phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án mà ở giai đoạn xét xử sơ
thẩm khơng có tình tiết đó thì việc hủy bản án (trừ trường hợp hủy và đình chỉ
vụ án) chủ yếu là nhằm tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp
1
dưới khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng để tiến hành điều tra,
xét xử lại hoặc chỉ để xét xử lại vụ án một cách khách quan và đúng đắn.
Nếu đánh giá sửa bản án hay hủy bản án hình sự ở góc độ liên hệ cùng
với hiệu lực thi hành của bản án thì bản án bị sửa có hiệu lực ngay cho dù
quyết định sửa đúng hay sai nhưng đối với bản án bị hủy thì phải quay trở lại
giai đoạn tố tụng trước đó, có thể phải điều tra lại hoặc xét xử lại. Do đó, việc
để nhiều vụ án phải xử lý lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng không chỉ gây thiệt
hại lớn cho ngân sách của nhà nước, xã hội, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi
của người tham gia tố tụng và nhất là làm mất lòng tin của nhân dân vào cơng
lý. Ngồi ra, mặc dù vấn đề hủy bản án hình sự là rất quan trọng nhưng quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 và một số văn bản
hướng dẫn thi hành Bộ luật đối với vấn đề này vẫn chưa thật sự chặt chẽ, chưa
đồng bộ, nhất là quy định hủy bản án trong một số trường hợp cụ thể nên đã
tạo ra khơng ít khó khăn, lúng túng cho Tịa án cấp trên khi áp dụng và trong
một số ít trường hợp là kẽ hở gây ra nhũng nhiễu, tiêu cực.
Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có
thể các bản án hình sự bị hủy là yêu cầu đặt ra cấp thiết, có ý nghĩa rất quan
trọng, không chỉ giúp làm sáng tỏ về mặt khoa học mà còn là cơ sở để đánh
giá tính thực tiễn của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), hiệu quả về mặt xã
hội trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Tất cả những vấn đề nêu
trên là lý do mà học viên chọn đề tài “Hủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực
vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tịa án, số 8; Hồng Thị Liên (2005)
“Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để
điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bị cáo”, Tạp chí dân chủ và Pháp
luật, số 5.
Tuy nhiên các tài liệu, bài báo khoa học, luận văn trên do phạm vi
nghiên cứu nên chỉ phân tích, bình luận, giải thích một số vấn đề về hủy bản
án mà chưa đi sâu phân tích làm rõ q trình thực hiện hủy bản án sơ thẩm
3
như thế nào, cũng chưa có tài liệu nào đề cập đến hủy bản án sơ thẩm hình sự
từ thực tiễn Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
(TPHCM). Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và phù hợp với yêu cầu
nâng cao chất lượng xét xử án hình sự trong cải cách tư pháp hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hủy bản
án sơ thẩm, đánh giá việc hủy bản án sơ thẩm từ thực tiễn xét xử của Tòa án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra một số
kiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của tịa án nhân dân cấp dưới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hủy bản án, mục đích, ý nghĩa của hủy
bản án; các nguyên tắc áp dụng đối với hủy bản án sơ thẩm hình sự.
- Phân tích đánh giá từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền hủy bản án sơ
thẩm hình sự. Nêu kết quả và những hạn chế trong hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử của tòa án nhân dân cấp dưới thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nêu một số kiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của TAND cấp dưới
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, mục đích, ý nghĩa, các
nguyên tắc áp dụng đối với hủy bản án sơ thẩm hình sự. Từ đó làm rõ các căn
cứ, trình tự, thẩm quyền và thủ tục hủy bản án sơ thẩm hình sự của TAND
cấp cao TPHCM.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Qua việc phân tích các quy định của pháp luật TTHS, chỉ ra những bất
cập, tồn tại góp phần giải quyết những khó khăn vướng mắc phát sinh trong
thực tiễn công tác. Từ đó giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra nguyên
5
nhân để xảy ra tình trạng hủy bản án sơ thẩm hình sự và đưa ra kiến nghị
nhằm khắc phục tình trạng này trong thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn được sắp xếp gồm các chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về hủy bản án sơ thẩm
hình sự.
Chương 2. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về hủy bản án sơ
thẩm hình sự của Tịa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ
thẩm và các giải pháp khắc phục.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN ÁN SƠ
THẨM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hủy bản án sơ thẩm hình sự
Như vậy, trong trường hợp vụ án đó có đầy đủ các căn cứ theo luật quy
định thì cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện quyền hủy bản án, tức phải
tuân thủ các quy định mà pháp luật tố tụng hình sự đã đặt ra, khơng được làm
sai hoặc cố tình vi phạm những quy định đó khi áp dụng.
1.1.2. Mục đích
Thứ nhất, việc hủy bản án trong TTHS nhằm mục đích giúp cho các cơ
quan tiến hành tố tụng cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án phát hiện ra
những sai phạm, thiếu sót của mình qua đó có cách thức khắc phục, tạo điều
kiện để đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Đây được xem
là yếu tố quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được những
bản án có vi phạm, tính chất mức độ như thế nào, làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến các quyền lợi cơ bản của công dân ra sao để quyết định có tiếp tục
thi hành bản án hay hoãn thi hành bản án.
Thứ hai, Đối với trường hợp bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật hay Viện
Kiểm sát (VKS) có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu hủy bản án, sửa bản án
hay giữ nguyên bản án. Trong trường hợp này thì tịa án mới quyết định thủ
tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm để đảm bảo các quyền, lợi
ích hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật … cũng như nhằm xác định
các tình tiết cịn chưa đầy đủ trong vụ án, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án
được đầy đủ, đúng đắn, khách quan và cơng bằng.
Thứ ba, Tịa án là cơ quan nhân danh Nhà nước để thực thi pháp luật, vì
vậy đây được xem là chủ thể quan trọng góp phần làm sáng tỏ vụ án, chứng
minh được các tình tiết trong vụ án đó, ai là người có hành vi vi phạm, tính
8
chất, mức độ thiệt hại cũng như hậu quả xảy ra từ những hành vi đó như thế
nào và tất nhiên hình phạt đưa ra phải tương xứng với hành vi vi phạm đó mà
pháp luật quy định. Như vậy rõ ràng Tòa án phải xác định được những kháng
của Đảng, Nhà nước và đảm bảo tính cơng bằng về mặt xã hội được nêu cao.
Việc hủy bản án cũng góp phần khẳng định vai trị và đảm bảo uy tín của các
cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tịa án nói riêng, tránh để xảy ra tình
trạng oan sai hay bỏ lọt tội phạm.
- Về mặt pháp lý: Việc hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là căn cứ, cơ
sở pháp lý quan trọng để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyên
tắc cơ bản của luật TTHS, là cơ sở để hình thành nguyên tắc “Thực hiện chế
độ hai cấp xét xử”.
- Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức: Việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức luôn luôn được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đây được xem là một
trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước ta nhằm xây dựng một xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, việc tơn trọng và bảo đảm quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là một trong những
nhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như pháp luật TTHS nói riêng. Tại
Điều 8 BLTTHS năm 2015 [15, tr.4] quy định cụ thể và chi tiết trách nhiệm
của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo
vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Như
vậy, hủy bản án sẽ là căn cứ, điều kiện để các cơ quan thực thi pháp luật xem
xét, đánh giá lại TTLT-VKSNDTCTANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của VKS tối cao, TAND tối cao, Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra
bổ sung [24]. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu phát sinh khó khăn, vướng
64
mắc, không thống nhất về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, đường lối xử
lý hoặc nhận thức khác nhau về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng thì VKS cấp dưới cần chủ động trao đổi, thỉnh thị
nhiệm vụ được giao.
3.2.1.3. Đối với Tòa án
Để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xét xử các loại án, cần tiếp
tục tập trung thực hiện tốt 14 giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng công
tác xét xử mà TAND tối cao đã chỉ đạo.
Tăng cường đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực, trong đó nhiệm vụ trước
mắt cần có sự phân cơng, sắp xếp, ln chuyển công tác đối với một số cán
bộ, công chức đảm bảo bổ sung nguồn nhân lực cho một số vị trí như thư ký,
thẩm phán, thẩm tra viên. Bên cạnh đó, đối với cơng tác quy hoạch lãnh đạo
cần tập trung bồi dưỡng, rèn luyện và sắp xếp phù hợp, đảm bảo nguồn cán bộ
thuộc diện quy hoạch đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Không ngừng phát huy vai trò thanh tra, kiểm tra, giám sát việc xét xử
và hoạt động công vụ đối với Thẩm phán và các Phòng giám định kỹ thuật.
Tăng cường công tác quản lý cán bộ, Thẩm phán; nâng cao kỷ cương, kỷ luật
công vụ, kịp thời khen thưởng, vinh danh những tập thể, cá nhân có thành tích
xuất sắc trong công tác; đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
Kiến nghị với TAND tối cao đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó tập trung đổi mới về định mức chi, chế độ
chi, định mức trang bị cung cấp phương tiện làm việc, nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho TAND các cấp.
Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng, đề cao vai trò quản lý, chỉ
đạo, điều hành của Ban lãnh đạo cơ quan và lãnh đạo các bộ phận, Tịa Phịng
chun mơn. Cải tiến phương thức chỉ đạo, điều hành theo hướng phân công,
phân cấp hợp lý; phát huy tính sáng tạo và đề cao trách nhiệm người đứng
đầu; có các giải pháp đột phá để nâng cao hiệu quả công tác; đảm bảo gắn
66
việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của đơn vị với việc thực hiện các yêu
- Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
về thủ tục sơ thẩm
Hồn thiện cơ sở pháp lý cho việc huỷ án sơ thẩm có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động xét xử sơ thẩm cũng như phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm đảm bảo chất lượng, đạt hiệu quả cao. Trên cơ sở
nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp luật tại Chương 1, đánh giá thực tiễn
huỷ bản án sơ thẩm và nguyên nhân ở Chương 2, tác giả thấy cần tiếp tục
hoàn thiện một số quy định của BLTTHS liên quan đến huỷ bản án sơ thẩm
sau đây:
+ Hoàn thiện các Điều 292, Điều 293 BLTTHS theo hướng quy định hạn
chế xét xử sơ thẩm vắng mặt người tham gia tố tụng, nhất là bị hại, người làm
chứng làm hạn chế việc xác định chính xác, khách quan các tình tiết vụ án; bỏ
thủ tục công bố lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên tồ;
khơng cho phép bị cáo vắng mặt tại phiên toà trừ khi người tham gia tố tụng
khơng đến phiên tồ được vì các lý do đặc biệt như đã chết, ốm đau nặng...
Điều này đảm bảo cho việc xác định sự thật về vụ án khách quan, toàn diện
trong một phiên toà tranh tụng đầy đủ; khơng để xảy ra trường hợp huỷ án vì
“thiếu những chứng cứ quan trọng không thể khắc phục tại phiên toà phúc
thẩm”.
+ Cần sửa đổi Điều 298 BLTTHS về giới hạn xét xử: Thứ nhất, về tên
gọi của điều luật. Điều 298 với tên gọi là “giới hạn xét xử” theo tác giả là
chưa phù hợp với nội dung điều chỉnh của điều luật vì: Hiện nay, pháp luật
Việt Nam ghi nhận hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Đây
là hai giai đoạn riêng biệt trong các giai đoạn của TTHS và được quy định ở
hai chương khác nhau của BLTTHS. Tuy nhiên, Điều 298 lại nằm ở chương
XXI của BLTTHS quy định về xét xử sơ thẩm nên nếu nhà làm luật muốn
dùng một điều luật để điều chỉnh giới hạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm thì đặt
68
mới đảm bảo được sự độc lập của Tòa án trong xét xử. Chính vì những lý do
đó, tác giả kiến nghị sửa khoản 1 Điều 298 BLTTHS năm 2015 như
sau: “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố
và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”.
+ Tại khoản 2 Điều 298 BLTTHS 2015 quy định: “Trường hợp xét thấy
cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tịa
án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc
người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội
danh đã truy tố thì Tịa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.”
Việc Tịa án cấp sơ thẩm được phép xét xử bị cáo nặng hơn về tội danh
mà VKS đã truy tố có thể dẫn đến vượt quá thẩm quyền xét xử của Tịa án cấp
sơ thẩm. Đó là trường hợp TAND cấp huyện hoặc Tòa án quân sự cấp quân
khu đang là Tòa án xét xử sơ thẩm đối với bị cáo bị VKS truy tố về tội ít
nghiêm trọng; nghiêm trọng; rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm
xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc vào khoản nặng hơn hoặc tội nặng
hơn mà VKS đã truy tố và tội nặng đó lại thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng
thì sẽ khơng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện và Tòa án quân
sự cấp khu vực theo quy định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015.
Hơn nữa việc xét xử loại tội đặc biệt nghiêm trọng cũng dẫn đến sự thay
đổi rất nhiều về thủ tục tố tụng như sự thay đổi về thành phần Hội đồng xét
xử (Điều 254 BLTTHS 2015) và việc chỉ định người bào chữa. Trong trường
hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển vụ án theo quy định tại Điều 274
BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên Điều 298 quy định về giới hạn xét xử lại chưa
quy định cách giải quyết cụ thể đối với vấn đề này. Theo tác giả, nên bổ sung
khoản 3 Điều 298 theo hướng như sau: “Trường hợp xét thấy cần xét xử bị
cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tịa án trả hồ sơ
để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại
71
cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm” và chỉ quy định thêm là trước khi xét
hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ
án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị.
Khi tranh luận, KSV phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án.
Việc quy định như thế rất khó thực hiện, vì phải xác định rõ các quy định cụ
thể nào về thủ tục phiên tòa bắt buộc phải áp dụng khi xét xử phúc thẩm, bởi
có những hoạt động tố tụng chỉ có ở phiên tịa sơ thẩm mà khơng có ở phiên
tịa phúc thẩm. Cho nên, việc tn thủ trình tự thủ tục xét xử phúc thẩm, về cơ
bản cũng chỉ là vận dụng trên cơ sở các quy trình đã có về thủ tục xét xử sơ
thẩm, đó là điều bất hợp lý khi tổ chức phiên tịa phúc thẩm, dễ dẫn đến các
thiếu sót về thủ tục. Do vậy, cần sửa đổi, bổ sung Điều 247 BLTTHS hiện
hành theo hướng quy định chi tiết hơn về thủ tục và trình tự phiên tịa phúc
thẩm hình sự.
+ Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của TAND tối
cao về thủ tục tố tụng nói chung, trong đó có thủ tục phúc thẩm hình sự.
+ Bổ sung điều luật riêng quy định về các vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng hình sự làm căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
+ Nghiên cứu bổ sung thủ tục xét xử phúc thẩm theo thủ tục bút lục
trong một số trường hợp đặc biệt.
- Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
về thủ tục giám đốc thẩm
+ Sửa đổi BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ sung quy định về đối
tượng của thủ tục giám đốc thẩm:
Thứ nhất, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trong
đó bao gồm: Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm; Những bản án phúc thẩm.
73
388 và Điều 393 Bộ luật TTHS năm 2015 về thẩm quyền sửa bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Hội đồng giám đốc thẩm.
Đối với căn cứ để Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại, quy định tại Điều 391 Bộ luật
TTHS năm 2015 cần được bổ sung theo hướng: hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật để điều tra lại, truy tố lại hoặc xét xử lại.
Như vậy, trong cải cách tư pháp, cần phân định lại thẩm quyền xét xử
giữa Tòa án các cấp và tổ chức hệ thống Tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét
xử. Việc phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp hiện nay phải
tiếp tục theo hướng đảm bảo Tòa án mỗi cấp chủ yếu thực hiện một thẩm
quyền xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hạn chế tiến tới chấm dứt tình trạng
một Tịa án thực hiện cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm, biến giám đốc thẩm từ một thủ tục đặc biệt trở thành cấp xét xử thứ ba
và thuộc thẩm quyền của nhiều cấp Tòa án dẫn đến tố tụng lịng vịng, khơng
có điểm dừng. Cần tổ chức Tịa án theo thẩm quyền xét xử khơng phụ thuộc
hồn tồn vào địa hạt hành chính, theo đó, hệ thống Tịa án sẽ bao gồm các
toà sơ thẩm khu vực, các Tịa án phúc thẩm, các Tồ thượng thẩm và Tịa án
nhân dân tối cao. Kết hợp với tinh thần phân cấp mạnh mẽ trong cải cách
hành chính, thẩm quyền xét xử sơ thẩm cần được giao chủ yếu cho Tòa án cấp
thấp nhất trong hệ thống Tòa án; thẩm quyền xét xử phúc thẩm chủ yếu thuộc
về Tòa án cấp thứ hai.
Tiểu kết chương 3
Trong những năm qua với nhiều nổ lực và cố gắng không ngừng nghĩ,
các cơ quan tiến hành pháp luật nói chung và các cơ quan tố tụng nói riêng đã
có nhiều đổi mới. Thường xuyên xây dựng, chỉnh sửa và ban hành các văn
bản mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác. CBCS luôn nêu cao tinh