Giám đốc thẩm án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TUẤN

GIÁM ĐỐC THẨM ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TUẤN

GIÁM ĐỐC THẨM ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- BLHS

:

Bộ luật hình sự

- BLTTHS

:

Bộ luật tố tụng hình sự

- CQĐT

:

Cơ quan điều tra

- HĐXX

:

Hội đồng xét xử

- KSV

:

tiễn, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích của xã hội, các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định nhiệm vụ: “Từng bước hoàn thiện thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và
quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan,
thiếu căn cứ”. Trên tinh thần đó, BLTTHS năm 2015 đã hoàn thiện thủ tục giám
đốc thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị, nhằm khắc phục
tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ, qua đó nâng cao hiệu quả áp dụng thủ
tục giám đốc thẩm, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn giải quyết vụ án hình sự.
Mặc dù các quy định của BLTTHS về thủ tục giám đốc thẩm đã từng bước
được hoàn thiện. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các quy định của BLTTHS
năm 2015 về thủ tục giám đốc thẩm, đối chiếu với thực tiễn áp dụng, nhận thấy quy
định này vẫn còn không ít tồn tại, hạn chế, gây khó khăn, vướng mắc cho các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc nhận thức và áp dụng. Bên cạnh đó, trong khoa
học pháp lý nước ta, thủ tục giám đốc thẩm được một số tác giả nghiên cứu từ các
góc độ và với các mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung lý luận về thủ tục giám đốc
thẩm so với các vấn đề khác của tố tụng hình sự chưa phát triển. Đặc biệt là chưa có
công trình nào nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm từ thực tiễn xét xử của TAND
cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Mảng tri thức về đề tài này hiện còn nhiều nội
dung cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
1


Thực tiễn áp dụng thủ tục giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố
Hồ Chí Minh cơ bản đáp ứng yêu cầu đặt ra. Số lượng và chất lượng kháng nghị của
Tòa án và VKS ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên vẫn có trường hợp do nhận
thức không đúng dẫn đến kháng nghị chưa chính xác và tạm đình chỉ thi hành bản
án, sau đó HĐXX giám đốc thẩm không chấp nhận.

(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luật văn Thạc sĩ Luật học, bảo
vệ tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Quản Thị Ngọc Thảo (2007), Giám đốc
thẩm: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luật văn Thạc sĩ Luật học, bảo vệ tại
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ngoài còn một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như:
Nguyễn Quang Hiền, “Một số vấn đề về thủ tục giám đốc thẩm”, Tạp chí TAND, số
7/2009; Vũ Gia Lâm, Lê Kim Quế, “Một số vấn đề về giám đốc thẩm hình sự”, Tạp
chí TAND, số 14/2006; Nguyễn Văn Trượng, “Thực trạng thi hành quy định của
BLTTHS về phạm vi giám đốc thẩm và những vấn đề cần hoàn thiện”, Tạp chí
TAND, số 7/2011; Đinh Văn Quế, “Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về “dân sự”
trong vụ án hình sự”, Tạp chí TAND, số 9/2005; Đinh Văn Quế, “Căn cứ kháng
nghị giám đốc thẩm theo BLTTHS năm 2003”, Tạp chí TAND, số 22/2004.
Qua nội dung các công trình nghiên cứu dưới góc độ Luận án Tiến sĩ Luật
học, Luận văn Thạc sĩ Luật học và các bài viết nêu trên cho thấy đề tài về thủ tục
giám đốc thẩm đã được một số nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu và những người
làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu. Các tác giả đã nghiên cứu những vấn
đề cơ bản về giám đốc thẩm và có những kiến nghị, đề xuất có giá trị về mặt lý luận
và thực tiễn. Nhưng xét về nội dung, một số công trình có phạm vi nghiên cứu quá
rộng, ngược lại một số công trình chỉ nghiên cứu một số khía cạnh nhất định liên
quan thủ tục giám đốc thẩm, như phát hiện một số bất cập trong luật thực định cũng
như một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Một số vấn đề về mặt lý
luận liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm chưa được làm rõ, còn nhiều vấn đề lý
luận và thực tiễn, nhiều khía cạnh pháp lý cần được tiếp tục nghiên cứu một cách
toàn diện và sâu sắc hơn. Mặt khác, thực tiễn hoạt động xét xử giám đốc thẩm chưa
đáp ứng được yêu cầu đặt ra, một phần là do các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự liên quan đến vấn đề này còn nhiều bất cập, chưa phù hợp trong tình hình
hiện nay, cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.

3


thành phố Hồ Chí Minh.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn áp dụng
thủ tục giám đốc thẩm, trên cơ sở tiếp cận các văn bản pháp luật có liên quan, chủ
yếu là văn bản pháp luật tố tụng hình sự ban hành từ năm 1988 đến nay. Tập trung
chủ yếu vào thủ tục giám đốc thẩm trong mối liên hệ với các chế định khác của tố
tụng hình sự.
- Về không gian: Thực tiễn xét xử của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí
Minh, trên cơ sở các vụ án được TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử
theo giám đốc thẩm.
- Về thời gian: từ khi thành lập TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
(ngày 01/6/2015) đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là Phép biện
chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam, về cải cách tư pháp.
5.2. Phương nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp được sử dụng trong
quá trình phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và so sánh với các quy
định của pháp luật trước đó.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng trên cơ sở nghiên cứu một
số vụ án điển hình đã xét xử.
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng trên cơ sở tham khảo ý kiến đánh
giá của các chuyên gia có trình độ cao trong ngành Tòa án và VKS để xem xét,

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm hình sự
1.1.1. Khái niệm thủ tục giám đốc thẩm hình sự
Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo
quy định của pháp luật. Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ
quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy
định của luật tố tụng hình sự.
Ở các nước trên thế giới, do truyền thống pháp luật khác nhau mà quan niệm
về thủ tục giám đốc thẩm cũng có sự khác nhau. Ở các nước theo truyền thống luật
dân sự (civil law), thường thực hiện chế độ “hai cấp xét xử”. Theo đó, sau khi vụ án
được xét xử theo thủ tục sơ thẩm (xét xử lần đầu), bản án, quyết định của Toà án
cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, đương sự, bị cáo có quyền kháng cáo,
VKS/Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật
định để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết
định của Toà án cấp sơ thẩm chỉ có hiệu lực khi đã hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị. Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc
thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án (có tính chung thẩm). Tuy nhiên,
kể cả sau khi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp trên
vẫn có quyền xét lại bản án, quyết định đó theo thủ tục luật định nhằm khắc phục vi
phạm của bản án, quyết định đó. Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án thường được gọi là thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục phá án.
Trái lại, ở các nước theo truyền thống thông luật (common law), thường
không thực hiện chế độ “hai cấp xét xử”. Sau khi vụ án được xét xử, nếu không
đồng ý với phán quyết của Toà án, bị cáo có quyền kháng cáo. Việc kháng cáo có
thể tiến hành ở Toà án các cấp. Như vậy thủ tục tố tụng chỉ bao gồm: thủ tục tố tụng
tại Toà sơ thẩm và thủ tục tố tụng tại Toà kháng cáo. Tuy nhiên, ở mỗi cấp Toà án,

7

hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi

8


phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án”. Điểm khác biệt của BLTTHS
năm 2003 là phải có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì mới xem xét theo thủ tục
giám đốc thẩm. Đồng thời, xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử, BLTTHS năm
2003 đã quy định bỏ thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc sửa bản án
hoặc quyết định đã có hiệu lực. Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có quyền bác kháng
nghị, giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc huỷ bản án, quyết
định đó để điều tra lại hoặc xét xử lại theo quy định của pháp luật.
Điều 370 BLTTHS năm 2015 giữ nguyên quy định về tính chất của giám đốc
thẩm nhưng có một số sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
trong việc sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực, tương tự như BLTTHS năm
1988. Quy định của BLTTHS năm 2015 về thủ tục giám đốc thẩm là phù hợp,
tương đồng với pháp luật các nước.
Trong những năm gần đây, khoa học luật tố tụng hình sự nước ta đã có một
số nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đưa ra
khái niệm về giám đốc thẩm, ngoài quy định trong BLTTHS về “tính chất của giám
đốc thẩm”, được xem là định nghĩa về giám đốc thẩm như đã nêu trên. Những định
nghĩa nêu trên của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015
đã nêu được tính chất, căn cứ và nội dung của việc kháng nghị để bản án có hiệu lực
pháp luật được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, định nghĩa này
còn thiếu những đặc điểm quan trọng của giám đốc thẩm với tư cách là một thủ tục
đặc biệt của tố tụng hình sự nhằm khắc phục những vi phạm, sai lầm trong quá trình
giải quyết vụ án.
Tính chất của thủ tục giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng trong việc xử lý vụ án. Tính chất này của giám đốc thẩm là một trong những

bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án bị kháng nghị
thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc thẩm tra, xem xét những bản
án, quyết định bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm được tiến hành theo các
qui định của luật tố tụng hình sự nhằm xác định lại sự thật khách quan vụ án. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý là Hội đồng giám đốc thẩm không xử lại bản án mà chỉ xem

10


xét và khẳng định có hay không các vi phạm của bản án hoặc quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật.
Với đặc điểm này, thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm được đưa ra các
quyết định sau:
1/ Không chấp nhận kháng nghị và giữa nguyên bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật, đây là sự khẳng định không có sự vi phạm nghiêm trong trong
bản án có hiệu lực pháp luật, việc kháng nghị là không có căn cứ.
2/ Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án,
trường hợp này được coi là có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến việc giải
quyết vụ án không khách quan, sự việc phạm tội không xẩy ra hoặc có sự việc phạm
tội nhưng hành vi của người bị kết án không cấu thành tội phạm. Vì vậy, bản án có
hiệu lực pháp luật bị Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy đồng thời với quyết
định đình chỉ vụ án.
3/ Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc
xét xử lại. Đây là trường hợp Hội đồng giám đốc thẩm xác nhận và khẳng định có
sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cần
phải tiến hành lại ở các giai đoạn điều tra hoặc xét xử để đảm bảo tính khách quan
của vụ án.
BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm thẩm quyền: 1/ Hủy bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án

Khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nghĩa vụ chứng minh, pháp luật
quy định cho các cơ quan này được áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ cần
thiết, phù hợp với nhiệm vụ chứng minh tội phạm đồng thời phải đảm bảo tôn trọng
các quyền tự do của công dân.
Nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu có giai đoạn nào cơ quan
tiến hành tố tụng mắc sai lầm mà khi bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu
lực pháp luật mới phát hiện ra sai lầm đó thì nghĩa vụ khắc phục phải là các cơ quan
tiến hành tố tụng thông qua thủ tục giám đốc thẩm.
Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm là chung thẩm không bị kháng nghị
và có hiệu lực thi hành ngay sau khi quyết định đó được tuyên. Đây là hậu quả pháp
lý của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự buộc các bên liên quan phải thi
hành. Đồng thời, quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm trong trường hợp này là

12


sự khắc phục những sai lầm của các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với
những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trả lại sự khách quan,
công bằng cho vụ án.
Thứ ba, Thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành khi phát hiện và khẳng
định được những vi phạm pháp luật của bản án có hiệu lực pháp luật và được những
người có thẩm quyền kháng nghị dựa trên những căn cứ kháng nghị được qui định
trong luật.
Việc phát hiện vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án pháp luật các nước đều qui định cho mọi công dân, các cơ
quan nhà nước và tổ chức xã hội, nhưng trước hết thuộc về người bị kết án, VKS và
Toà án. Qui định này xuất phát từ quyền được giám sát đối với hoạt động của cơ
quan nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng của công dân
và xã hội.
Ở nước ta, theo qui định tại điều 274 BLTTHS năm 2003 thì: “Người bị kết

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm
vụ áp dụng mọi biện pháp của luật tố tụng hình sự qui định nhằm xác định sự thật
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác
định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc
phải chứng minh mình vô tội. Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự không
chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đều quy định trách nhiệm này.
Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đều được giải quyết khách quan, công
bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mà có một số trường hợp sau khi bản
án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp
dụng pháp luật. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải có cơ chế khắc phục những sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật được phát hiện sau khi bản án đã có hiệu
lực pháp luật.
Những sai lầm được phát hiện từ những bản án hoặc quyết định của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan và nó
tồn tại như một quy luật. Bởi lẽ, nhận thức chân lý là một quá trình phản ánh nhận
thức của con người từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến

14


bản chất. Đó là quá trình trải qua hai giai đoạn tất yếu từ nhận thức cảm tính (trực
quan sinh động) đến nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng), từ việc thu thập, kiểm tra
chứng cứ đến việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ đã thu thập được nhằm làm rõ
tình tiết của vụ án. Mặt khác, nhận thức còn là một quá trình mâu thuẫn giữa biết ít
và biết nhiều, biết chưa đầy đủ và biết đầy đủ và phải đặt các sự vật hiện tượng
trong mối quan hệ tổng thể, luôn vận động biến đổi nên nó phụ thuộc rất nhiều vào
chủ thể của quá trình nhận thức. Do vậy, có nhận thức sai lầm là không tránh khỏi.
Sai lầm của bản án hoặc quyết định của Toà án được thể hiện dưới dạng bỏ

người tiến hành tố tụng.
Đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát
hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc
quyết định mà trong quá trình giải quyết vụ án chưa xác định được. Những tình tiết
mới này do những người tiến hành tố tụng không phát hiện và xác định được khi
giải quyết vụ án và nó ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án thì được được xét
lại theo trình tự tái thẩm. Khi tiến hành thủ tục này thì bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật đó có thể được hủy để điều tra lại, truy tố lại hoặc xét xử lại.
Đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát
hiện có những vi phạm pháp luật thì được tiến hành theo trình tự giám đốc thẩm.
Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt của tố
tụng hình sự. Thủ tục này chỉ có thể tiến hành khi có kháng nghị của những cơ quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Tuy nhiên, không phải
tất cả các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án được phát hiện đều là
căn cứ để xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm mà chỉ là những vi phạm
nghiêm trọng ảnh hưởng tới tính khách quan của bản án. Qui định này nhằm đảm
bảo sự ổn định của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên những vi
phạm không nghiêm trọng, không ảnh hưởng nhiều tới tính khách quan của vụ án
và đặc biệt là không ảnh hưởng tới trách nhiệm hình sự của người bị kết án thì thì
không được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.
Việc “xét lại” bản án đã có hiệu lực pháp luật của cấp giám đốc thẩm được
hiểu đó là hoạt động thẩm tra, xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản
án hoặc quyết định đó có phù hợp với các quy định của luật hình sự không và quá
trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng có tuân thủ những qui định của

16


luật tố tụng hình sự không. Khi xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ phải xem
xét một số vấn đề như: việc định tội có đúng tội danh được quy định trong BLHS


luật khi có kháng nghị của người có thẩm quyền. Việc sửa chữa được thực hiện
thông qua quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm. Bằng các quyết định của mình
Hội đồng giám đốc thẩm khắc phục gián tiếp bằng việc hủy án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án. Thông qua hoạt
động đó Tòa án cấp giám đốc thẩm thực hiện mục đích bảo vệ lợi ích xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.
Ngoài những mục đích trên, giám đốc thẩm có ý nghĩa rất lớn trong hoạt
động tổng kết xét xử của ngành Tòa án hàng năm. Kết quả thống kê toàn ngành
giúp cho Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đề ra các Nghị quyết hoặc phối hợp
với các cơ quan hữu quan ra Thông tư liên tịch hướng dẫn Tòa án các cấp trong
hoạt động xét xử. Đồng thời, qua việc giám đốc thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng
còn phát hiện ra những quy định bất hợp lý của BLHS, BLTTHS và các văn bản
quy phạm pháp luật khác để kịp thời có những kiến nghị nhằm sửa đổi bổ sung cho
phù hợp với thực tiễn.
1.3. Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và
của một số nƣớc trên thế giới
1.3.1. Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.3.1.1. Quá trình hình thành, phát triển thủ tục giám đốc thẩm trong pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu chế định giám đốc thẩm thì việc nghiên cứu một
cách khoa học và đầy đủ có hệ thống quá trình hình thành và phát triển các quy
phạm pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục giám đốc thẩm là thực sự cần thiết. Nó
cung cấp cho chúng ta một kiến thức pháp lý, khoa học để từ đó giúp cho việc hoàn
thiện pháp luật tố tụng hình sự nói chung và chế định giám đốc thẩm nói riêng cho
phù hợp với tình hình thực tế xã hội. Có thể đánh giá quá trình hình thành, phát
triển thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo các giai
đoạn như sau:
- Giai đoạn trước cách mạng Tháng 8 năm 1945
Trong thời kỳ pháp thuộc, nền tư pháp nước ta là nền tư pháp thuộc địa và

các ngạch Thẩm phán [6]; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền
các Toà án và sự phân công trong Toà án [7]; Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải
cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng [8].

19


Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, thẩm quyền của Toà án ngày càng được
mở rộng. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án đã xuất hiện những sai lầm,
thiếu sót của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án được pháp luật Việt Nam quy định trong giai đoạn
này. Đầu tiên phải kể đến Thông tư số 321/VHH-CT ngày 12/2/1958 của Bộ Tư
pháp về việc yêu cầu các Toà án phải nghiên cứu giải quyết các đơn thư khiếu nại
về các vụ án đã xét xử chung thẩm quy định “Đối với những việc đã xử rồi… nếu
thấy sai hoặc đúng không rõ ràng thì tuỳ từng trường hợp có kế hoạch giải quyết
thích đáng (báo cáo cấp trên đề nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn đề điều
tra, xác minh lại…)” [14, tr.14]. Sau đó Bộ tư pháp và TAND tối cao ra Thông tư số
02/TT ngày 13/1/1959 và thông tư số 04/TT ngày 3/2/1959 quy định thủ tục xét lại
bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật nay phát hiện có sai lầm. Các thông tư
này quy định chỉ đặt ra việc xét lại bản án hoặc quyết định hình sự đã có hiệu lực
pháp luật đối với các can phạm đang bị giam giữ thi hành án và thuộc một trong ba
trường hợp: xử oan, tội nặng xử nhẹ, tội nhẹ xử nặng. Xử oan là trường hợp Toà án
tiến hành xét xử và ra bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Sau đó xuất
hiện bằng chứng chứng minh can phạm không phạm tội, có phạm tội nhưng được
đại xá hoặc những căn cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng tìm được không đủ cơ sở
kết luận can phạm đã phạm tội. Nếu phát hiện ra vụ án bị xử oan TAND tối cao sẽ
ra quyết định tiêu án và giao cho Toà án cấp phúc thẩm xử lại và tha cho người bị
oan. Tội nặng xử nhẹ là trường hợp Toà án áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với hình
phạt đáng lẽ phải áp dụng hoặc đã áp dụng điều luật nhẹ hơn so với điều luật đáng
lẽ phải áp dụng. Tội nhẹ xử nặng là trường hợp Toà án áp dụng hình phạt đối với bị

nhất định nên việc hoàn thiện các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc
sống là rất cần thiết.
- Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003.
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, theo định hướng XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước đã đưa đến những thành tựu trong việc ổn định về chính
trị, kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực thì cũng xuất hiện những
hiện tượng tiêu cực mới, pháp luật có lúc bị buông lỏng, tình hình tội phạm diễn
biến phức tạp, còn nhiều vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự dẫn đến
oan sai, vi phạm quyền và lợi ích của công dân trong điều tra, truy tố, xét xử. Trong

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status