Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân quận hà đông, thành phố hà nội - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ QUỲNH THANH

TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Trần Văn Luyện

HÀ NỘI, 2018



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi thực hiện dưới sự hướng dân của PGS.TS
Trần Văn Luyện. Các số liệu và trích dân trong luận văn là
trung thực. Các kết quả nghiên cứu của Luận văn không trùng
lặp với bất kỳ công trình nào khác. Tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Ngô Quỳnh Thanh

3.4. Cấu thành tội phạm
3.5. Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT3.6. BCA-VKSNDTCTANDTC-BTP

Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLTBCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP


3.9. Bảng 2.1. Tỉ lệ % số vụ án, số bị cáo xét xử về tội tàng trữ trái phép chất
ma túy so với tổng số vụ án, số bị cáo xét xử các tội về ma túy quy định tại Điều 194
BLHS 1999.
3.10. Bảng 2.2. Hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng đối với các
bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy giai đoạn 2012 - 2017.
3.11. Bảng 2.3. Nhân thân của các bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, giai đoạn 2012 - 2017.


3.12.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
3.13. Ma túy là vấn đề mang tính toàn cầu. Cuộc chiến phòng, chống ma túy là
cuộc chiến không chỉ của riêng quốc gia nào. Các quốc gia, các tổ chức quốc tế đã và
đang không ngừng tăng cường hợp tác trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
và tệ nạn ma túy thể hiện bằng việc kí kết các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy
như Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961, Công ước về các chất hướng
thần năm 1971, Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất gây nghiện và các
chất hướng thần năm 1988, đồng thời đầu tư nhiều nguồn lực với mục tiêu ngăn chặn,
đẩy lùi tiến tới xóa bỏ ma túy khỏi đời sống xã hội.
3.14. Ở Việt Nam, tình hình sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán và sử

truyền, giáo dục tác hại của ma túy trong cộng đồng; tăng cường công tác cai nghiện,
quản lí sau cai nghiện,... đặc biệt nâng cao vai trò, hiệu quả của hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử các vụ án về ma túy. Những năm qua, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã có
nhiều nỗ lực, cố gắng trong hoạt động xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy bằng
việc ra những bản án nghiêm minh, đúng người, đúng pháp luật đã góp phần giáo dục,
trừng trị người phạm tội nói riêng; răn đe, phòng ngừa trong xã hội nói chung. Tuy
nhiên vẫn còn những vi phạm, hạn chế xuất phát từ trình độ, nghiệp vụ, tinh thần trách
nhiệm của đội ngũ thẩm phán, hội thẩm nhân dân và xuất phát từ những bất cập trong
quy định của pháp luật hình sự. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
có nhiều quy định mới càng cần hướng dẫn để áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Chính vì vậy Tôi chọn đề tài “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình
sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3.17. Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tham khảo những tài liệu sau:
3.18. Về giáo trình, sách gồm có:

7


-

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, tập 2 , Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất
bản Công an nhân dân năm 2009,

-

Giáo trình Lí luận chung về Định tội danh, GS.TS Võ Khánh Vinh, nhà xuất bản
Khoa học Xã hội năm 2013,


năm 2017 (tập trung nghiên cứu hoạt động định tội danh và quyết định hình
phạt).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách của
Đảng và nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
chung, tội phạm về ma túy nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp như:
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu thực tiễn các bản án,...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
3.25. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tội
tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của
Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Do đó có ý nghĩa về mặt lí luận là
có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập của học viên; ý kiến tham khảo cho hoạt động
hoàn thiện pháp luật hình sự. Mặt khác có ý nghĩa về thực tiễn là góp phần nâng cao
hiệu quả, chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung và hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn

1
0


3.26. Luận văn gồm:
3.27. Phần mở đầu
3.28. Chương 1 : Những vấn đề lí luận và pháp luật về tội tàng trữ trái phép
chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam,
3.29. Chương 2: Thực tiễn xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy của Tòa án
nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2012-2017.

tr.1].
3.42. Các chất ma túy và tiền chất ma túy được Chính phủ ban hành tại Nghị
định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 gồm có 235 chất ma túy được chia làm 3 danh
mục và 41 tiền chất.
3.43. Ngày 09/12/2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2015/NĐ-CP sửa
đổi, bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số
82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và
tiền chất. Đã bổ sung thêm 15 chất vào danh mục II và 02 chất vào danh mục IV.
3.44. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT -BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP


3.45.

ngày 24/12/2007 hướng dẫn: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất

hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành
” [1, tr.1].
1.11.2. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
3.46. Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm về “Tội tàng trữ
trái phép chất ma túy”, mà chỉ có khái niệm “Tội phạm là gì?”, “Tàng trữ trái phép chất
ma túy là gì?”.
3.47. Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (viết tắt BLHS
1999), “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những
lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa ” [18, tr.4]
3.48. Theo quy định tại khoản 1, Điều 194 BLHS 1999 thì “Người nào tàng

3.60. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm,
bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [7, tr.94].
3.61. Đối tượng tác động của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là các chất ma
túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy [8, tr.203].
3.62. Các chất ma túy và tiền chất được quy định tại Nghị định 82/2013/NĐCP ngày 19/7/2013 của Chính phủ và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐCP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành Danh mục các chất ma túy và tiền chất.
-

Mặt khách quan của tội phạm: Là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan [7,
tr.99].
3.63. Biểu hiện bên ngoài đó bao gồm hành vi khách quan của tội phạm, hậu

quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của tội
phạm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, ngoài ra còn có những biểu hiện bên ngoài
khác như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, địa điểm, thời gian,
hoàn cảnh phạm tội...


3.64. Trong CTTP, không phải tất cả những biểu hiện của mặt khách quan được
quy định là dấu hiệu của CTTP. Chỉ hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là dấu
hiệu được phản ánh trong tất cả các CTTP cơ bản.
3.65. Hành vi khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất
giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn,
chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang
mặc trên người hoặc theo người...).
3.66. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi trên, hậu quả không
phải là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này.
-


hành Bộ luật hình sự năm 1985
3.71. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, ngày 03/9/1945,
một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong bài về "Những nhiệm vụ cấp bách của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Chế độ thực
dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn nhằm hủ hóa
dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng gian giảo, tham ô và những thói xấu
khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta... Cuối
cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm thuốc phiện". Thực hiện chỉ thị của Người, ngày
05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử
lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện. Tiếp đó, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 225/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có
hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện có thể bị tịch thu thuốc phiện, phạt tiền hoặc
bị truy tố trước Toà án nhân dân.
3.72. Hai Nghị định này chỉ dừng lại việc xử lí đối với hành vi vận chuyển,
tàng trữ trái phép ma túy, vẫn cho phép trồng thuốc phiện do đó tình trạng nghiện ma
túy trong nhân dân vẫn không giảm. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành
Nghị định số 580/TTg ngày 15/9/1955 quy định những trường hợp cụ thể có thể đưa ra
Toà án để xét xử; Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 635/VVH-HS ngày 29/3/1945 và
Thông tư số 33/VHH-HS ngày 05/07/1958 hướng dẫn đường lối truy tố và xét xử
những vụ án về buôn lậu thuốc phiện.
3.73. Sau khi giải phóng miền Nam, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 76/CP ngày 25/3/19977 về chống buôn lậu thuốc phiện.
3.74. Như vậy, có thể thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã sớm nhận
thấy tầm quan trọng của công tác phòng, chống ma túy bằng việc ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật xử lí đối với hành vi vi phạm trong quản lí thuốc phiện, tuy nhiên
do đặc điểm tình hình nước ta mới giành được độc lập, đang trong quá trình xây dựng


và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nên nhiệm vụ này mới chỉ dừng lại


Điều 185c; “Tội vận chuyển trái phép chất ma túy” - Điều 185d, “Tội mua

bán trái phép chất ma túy” - Điều 185đ; “Tội chiếm đoạt chất ma túy” - Điều 185e...
3.80. Trong Chương VIIA, tội phạm về ma túy đã được quy định thành các
điều luật riêng cụ thể, rõ ràng từng hành vi tương ứng với từng khung hình phạt. Cho
thấy tư duy và trình độ lập pháp của Nhà nước ta đã có nhiều tiến bộ; đồng thời qua đó
thấy được việc Đảng, Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc hơn về tác hại của ma túy và
những hành vi vi phạm về ma túy sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc.
1.2.2.

Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật Hình sự năm

1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
3.81.

- Quy định về tội phạm:

3.82.

Trong quá trình áp dụng BLHS năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế bất

cập, để đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội, ngày 21/12/1999 BLHS mới được ban
hành trên cơ sở kế thừa những thành tựu khi áp dụng BLHS năm 1985. Bộ luật Hình sự
năm 1999 quy định các tội phạm về ma túy tại Chương XVIII, gồm 10 tội, từ Điều 192
đến Điều 201.
3.83.

Điều 194 BLHS 1999 được hình thành trên cơ sở ghép 04 điều luật của


số 17/2007/TTLT. (Vấn đề này sẽ được phân tích trong phần thực tiễn xét xử).
3.86.

Ngày 14/11/2015 liên ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLTBCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP (viết tắt Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT) sửa đổi
một số điều của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT đã góp phần tháo gỡ khó khăn, bất
cập khi áp dụng Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT.
3.87.
3.88.

- Quy định về hình phạt:
Điều 194 BLHS 1999 quy định hình phạt chính gồm có 4 khung, khung

cơ bản quy định tại khoản 1 có mức hình phạt tù từ 02 đến 07 năm. Khung tăng nặng
quy định tại khoản 2, 3, 4 có mức cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài hình
phạt chính, còn có hình phạt bổ sung như: hình phạt tiền, tịch thu
3.89.

một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc

làm công việc nhất định.


1.2.3.

Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật Hình sự năm

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
3.90.


Thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW là hạn chế áp dụng hình phạt tử hình

đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc tách Điều 194 BLHS năm
1999 thành các tội phạm độc lập, nhằm bỏ hình phạt tử hình đối với tội “Tàng trữ trái


phép chất ma túy” - Điều 249 và “Tội chiếm đoạt chất ma túy” - Điều 252 BLHS chỉ
áp dụng mức hình phạt cao nhất là chung thân.
3.94.

Qui định rõ ràng, cụ thể, trực tiếp trong luật về định lượng để truy cứu

trách nhiệm hình sự trong từng tội phạm và qui định khung hình phạt nhẹ hơn so với
Điều 194 BLHS 1999. BLHS 1999 không qui định cụ thể định lượng của các chất ma
túy để xác định cấu thành tội phạm mà căn cứ mục 3.6 Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp để xác định
mức tối thiểu cấu thành tội phạm cho các hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất
ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
3.95.

Thay đổi đơn vị tính: Thực tế các chất ma túy khi thu giữ được xác định

bằng gam, kg... hoặc không thu giữ được vật chứng là chất ma túy mà dựa trên lời khai
của các đối tượng để xác định ma túy bằng đơn vị bánh, cây, chỉ... Đây là những đơn vị
tính khối lượng chứ không phải trọng lượng. Vì vậy, BLHS 2015 thay đổi “Trọng
lượng” thành “ Khối lượng” để phù hợp với đơn vị tính.
3.96.




3.100.
3.101.
3.102.

THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.103.

2.1.

Chương 2

GIAI ĐOẠN 2012 - 2017

Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong hoạt động

xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 2017
2.1.1.

Nhận thức chung về định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy
3.104.

3.105.

Khái niệm về định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng pháp luật hình sự có nhiều nội dung trong đó có định tội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status