VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU HƢƠNG
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---------------------------
TRẦN THỊ THU HƢƠNG
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH.............................................................................................................. 46
2.1. Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn
Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh ....................................................... 46
2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy
trên địa bàn Quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí Minh .................................... 62
Chƣơng 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY ............................................................................................ 67
3.1. Các yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng
trữ trái phép chất ma túy .............................................................................. 67
3.2. Các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng
trữ trái phép chất ma túy .............................................................................. 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA
:Bộ Công an
BLHS
:Bộ luật hình sự
BLTTHS
:Bộ luật tố tụng hình sự
:Toà án nhân dân tối cao
TNHS
:Trách nhiệm hình sự
VKSNDTC
:Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
:Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy so với tình hình tội
phạm nói chung trên địa bàn Quận Gò Vấp (2013-2017) .........................................46
Bảng 2.2 Thống kê số bị cáo bị xét xử theo các khoản khác nhau theo Điều 194
BLHS trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh (2013 – 2017). .............63
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nƣớc ta đã đạt đƣợc những
thành tựu to lớn về mọi mặt: kinh tế, chính trị và xã hội. Những kết quả đạt đƣợc từ
việc đổi mới hệ thống chính trị, cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, cải
cách tƣ pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật và hội nhập quốc tế tạo ra tiền đề quan
trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nhà nƣớc
ma tuý, có kinh nghiệm đối phó nên khi bị bắt đều tìm cách tẩu tán tang vật, ngoan
cố không chịu nhận tội dẫn đến việc đấu tranh, xử lý gặp nhiều khó khăn.
Do vậy, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, hiện nay, các cơ quan
tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc trong việc định tội danh và
quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bên cạnh những kết
quả nhất định, phát huy hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm vẫn còn
nhiều hạn chế, thiếu sót nhƣ: Vẫn có một số trƣờng hợp áp dụng không đúng, chƣa
xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội dẫn đến việc định tội danh thiếu chính
xác, việc hủy án, sửa án vẫn còn tồn tại ở tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Từ các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí
Minh”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý hành
vi phạm tội này, tác giả luận văn đã tham khảo:
- Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài nhƣ: Nghiên cứu nƣớc ngoài:
Kuđriavtxev V.N, Lý luận chung về định tội danh, NXB Sách pháp lý. Maxcơva,
1972 (Tiếng Nga); Gaukhman L.Đ, Định tội danh: Pháp luật, lý luận, thực tiễn,
Trung tâm Thông tin pháp lý xuất bản, Maxcơva, 2001 (Tiếng Nga);“Why
Canadian marijuana is fiding a booming market in Asia, after years of East -to-West
trade” (Tại sao cần sa Canada đƣợc mua bán rộng rãi ở Châu Á sau nhiều năm vận
chuyển, mua bán từ Châu Á sang Châu Âu) năm 2013, tác giả Chris Brummitt;
Sách “Detection of secret laboratories producing illicit drugs and illicit substances
(Phát hiện các labo bí mật sản xuất trái phép chất ma túy và buôn lậu tiền chất), Cơ
2
quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) khu vực Châu
Á - Thái Bình Dƣơng, năm 2004. Sách “The role of the chemical industry in the
tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh từ
năm 2013 đến năm 2017.
- Lập luận các yêu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo
đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất
ma túy từ thực tiễn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm
2017.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định pháp luật hình sự về tội
tàng trữ trái phép chất ma túy và thực tiễn áp dụng chúng trên địa bàn quận Gò Vấp,
thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề
tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ chuyên ngành luật hình sự và
tố tụng hình sự.
Các số liệu phục vụ nghiên cứu đƣợc thu thập từ thực tiễn xét xử tội tàng trữ
trái phép chất ma túy từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn quận Gò Vấp, thành
phố Hồ Chí Minh .
Khía cạnh thực tiễn: Áp dụng pháp luật hình sự có nội dung rộng, song trong
phạm vi luận văn thạc sĩ, luận văn chỉ tập trung xem xét nội dung định tội danh và
quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nƣớc, pháp luật và những chủ trƣơng, đƣờng
lối của Đảng, Nhà nƣớc ta về tội phạm và hình phạt; về đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Luận văn còn đƣợc thực hiện dựa trên và trong một tổng thể các phƣơng
pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học luật hình sự nhƣ: Phƣơng pháp phân tích,
phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp thống kê…để giải quyết
5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
1.1. Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
1.1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma
túy
1.1.1.1. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Con ngƣời đã phát hiện và sử dụng các chất ma tuý từ cách đây khoản 6000
năm. Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma tuý đã trở thành thói quen
và tập tục của nhiều nƣớc trên thế giới, từ thời thƣợng cổ ngƣời Ba Tƣ và ngƣời Ai
Cập đã biết dùng nhựa mủ cây thuốc phiện để hút, tạo cảm giác hƣng phấn, dễ chịu
cho con ngƣời khi sử dụng. Điều này chứng minh ma tuý đã tồn tại từ rất lâu đời vì
thế có nhiều cách hiểu khác nhau về ma tuý:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Ma túy là bất kỳ chất gì khi đƣa vào cơ
thể sống có thể thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”. Năm 1982
WHO đã phát triển định nghĩa ma túy nhƣ sau: “Ma túy theo nghĩa rộng nhất là mọi
thực thể hóa học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái đƣợc
đòi hỏi để duy trì một sức khỏe bình thƣờng, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến
đổi chức năng sinh học”
Theo các chuyên gia về ma tuý của Liên hợp quốc thì: “Ma tuý là những chất
có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con ngƣời sẽ làm thay
đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con ngƣời bị lệ thuộc vào ma tuý gây nên
những tổn thƣơng cho cá nhân và cộng đồng”
Theo từ điển Tiếng Việt năm 1991 thì ma túy là chất bột trắng kết tinh dẫn
xuất từ Moocphin rất độc, dùng làm thuốc giảm đau, ngƣời lạm dụng có cảm giác
thần kinh bị tê liệt và lâu dài có thể nghiện.
Tàng trữ ma tuý: Là việc cất giữ, cất giấu chất ma tuý ở bất cứ nơi nào (nhƣ
trong nhà, ngoài vƣờn, chôn cất dƣới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất
giấu trong quần áo, tƣ trang mặc trên ngƣời hoặc theo ngƣời…mà không nhằm mục
đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma tuý. Thời gian tàng trữ dài
hay ngắn không ảnh hƣởng đến việc xác định tội này.
7
Từ các khái niệm về chất ma túy và tàng trữ ma tuý nêu trên, khái niệm tội
phạm quy định tại Khoản 1 điều 8 BLHS năm 1999, khái niệm các tội phạm về ma
túy và từ quy định tại điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, có thể đƣa ra khái niệm
về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣ sau: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất
ma túy của Nhà nƣớc và phải bị xử lý hình sự.
1.1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
* Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại [22, tr.145]. Vậy, khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma
túy là chế đội độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về việc cất giữ các chất ma túy.
Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA – VKSTC – TANDTC – BTP
ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân
tối cao, Bộ tƣ pháp đƣa ra khái niệm vật chất ma túy tƣơng tự nhƣ Luật phòng
chống ma túy năm 2000 đó là: “Ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần
đƣợc quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành”.
Các chất ma tuý đƣợc liệt kê trong bảng 1, bảng 2, bảng 3 và bảng 4 danh
mục các chất ma tuý, chất hƣớng thần, theo quy định của Công ƣớc quốc tế 1961;
1971; 1988. Công ƣớc này Việt Nam đã tham gia theo quyết định số 798-QĐ/CTN
ngày 01-9-1997 của Chủ tịch Nƣớc cộng hoà xã hội Việt Nam.
Ở nƣớc ta, các chất ma túy đƣợc quy định trong danh mục do Chính phủ ban
chuyển trái phép chất ma tuý.
Thời gian cất giữ dài hay ngắn không có ý nghĩa xác định ngƣời phạm tội có
tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không.
Thực tiễn xét xử có nhiều trƣờng hợp khó xác định ngƣời phạm tội có hành
vi tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không, bởi lẽ đặc điểm chung của các tội phạm
về ma tuý là ngƣời phạm tội không bao giờ chịu nhận hành vi thật của mình nếu cơ
quan tiến hành tố tụng không có bằng chứng. Nếu chỉ căn cứ vào nơi cất giấu ma
tuý thì dễ cho rằng ngƣời phạm tội không có hành vi tàng trữ, nhƣng nếu căn cứ vào
các tình tiết khác của vụ án thì vẫn xác định đƣợc hành vi tàng trữ của ngƣời phạm
tội.
9
Nếu tàng trữ trái phép chất ma tuý cho ngƣời mà khác biết rõ ngƣời này mua
bán trái phép chất ma tuý đó thì hành vi cất giữ ma tuý không phải là hành vi tàng
trữ trái phép chất ma tuý mà là hành vi giúp sức ngƣời mua bán trái phép chất ma
tuý và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai
trò đồng phạm. Tuy nhiên, hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển đã đƣợc quy định
trong cùng một điều luật nên việc xác định chính xác hành vi tàng trữ, hành vi vận
chuyển hay hành vi mua bán chỉ có ý nghĩa trong việc định tội theo hành vi (một
hoặc một số hành vi hay định tội theo hành vi đầy đủ).
Theo hƣớng dẫn tại Thông tƣ liên tịch số 01 ngày 2-1-1998 của Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ thì “Người nào tàng trữ, vận
chuyển trái phép dưới 1 gam nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca; dưới
0,1 gam Hêrôin hoặc côcain; dưới 1 kilôgam lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô
ca; dưới 5 kilôgam quả thuốc phiện khô; dưới 1 kilôgam quả thuốc phiện tươi; dưới
2 gam các chất ma tuý ở thể rắn; dưới 5 mililit các chất ma tuý ở thể lỏng không
nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy thì chưa tới mức bị truy
cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính”. Tuy nhiên, cũng có quan
điểm cho rằng, hƣớng dẫn trên là trái với quy định của Bộ luật hình sự, vì điều luật
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h
khoản này.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý sẽ cấu thành tội phạm tăng nặng khi
thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 249 BLHS
năm 2015, theo đó:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05
năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;
e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam
đến dưới 01 kilôgam;
11
g) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng
từ 05 gam đến dưới 30 gam;
h) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ
25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;
k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100
gam;
m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250
mililít;
n) Tái phạm nguy hiểm;
o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;
e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.”
* Chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Con ngƣời từ khi sinh ra đã có ý thức nhƣng không phải có ý thức là có năng
lực trách nhiệm hình sự mà phải qua một quá trình phát triển về tâm, sinh lý trong
điều kiện xã hội nhất định thì năng lực đó mới hình thành. Chúng ta đã biết, năng
lực trách nhiệm hình sự là năng lực tự nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi và
khả năng điều khiển hành vi của con ngƣời.
Mỗi ngƣời có sự phát triển bình thƣờng về tâm, sinh lý đến một giai đoạn
nhất định trong đời sống sẽ hoàn thiện năng lực này và khi đó họ đƣợc coi là chủ
thể của tội phạm. Giai đoạn hoàn chỉnh này trong đời sống của mỗi cá nhân đƣợc
luật hình sự mỗi nƣớc trên thế giới quy định không giống nhau. Việc làm này phù
hợp với sự phát triển tâm, sinh lý (thể chất, trí tuệ) của con ngƣời ở mỗi quốc gia
vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là
con ngƣời cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc
13
luật hình sự quy định là tội phạm và thỏa mãn điều kiện có năng lực TNHS và đủ
tuổi chịu TNHS.
Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định: " Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có
quy định khác "; " Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
trong ngƣời nhƣ cho vào túi áo, túi quần, nuốt vào trong bụng, để trong hành lý nhƣ
vali, túi xách v.v…) mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái
phép chất ma túy khác.
Ngƣời giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho ngƣời khác, mà
biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của ngƣời đó, thì bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.
Mua bán trái phép chất ma túy là các hành vi:
a) Bán trái phép chất ma túy cho ngƣời khác (không phụ thuộc vào nguồn
gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho ngƣời khác
để hƣởng tiền công hoặc các lợi ích khác;
b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho ngƣời khác;
c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho ngƣời khác;
d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc
vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);
đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy
nhằm bán lại trái phép cho ngƣời khác;
e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho ngƣời khác;
g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho ngƣời khác.
Ngƣời tổ chức, ngƣời xúi giục, ngƣời giúp sức cho ngƣời thực hiện một
trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy đƣợc hƣớng dẫn từ điểm a đến
điểm g mục này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất
ma túy.
Chiếm đoạt chất ma túy là một trong các hành vi trộm cắp, lừa đảo, tham ô,
lạm dụng tín nhiệm, cƣỡng đoạt, cƣớp, cƣớp giật, công nhiên chiếm đoạt chất ma
túy của ngƣời khác. Trƣờng hợp ngƣời có hành vi chiếm đoạt chất ma túy nhằm
mục đích bán lại chất ma túy đó cho ngƣời khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
với tội danh đầy đủ đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
16
Nhƣ vậy, mặc dù đƣợc diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhƣng về cơ bản
các nhà khoa học đều thống nhất ở một số khía cạnh dƣới đây:
Một là, định tội danh là hoạt động nhận thức có tính logic của con ngƣời đối
với việc có sự phù hợp hay không phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội, có
lỗi xảy ra ngoài thực tiễn khách quan với quy định của pháp luật hình sự về một tội
phạm cụ thể;
Hai là, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nếu đƣợc thực
hiện bởi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và ngƣời có thẩm quyền trong các cơ
quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật. Cũng có tác giả cho rằng bao gồm cả
hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định tội danh theo nghĩa rộng;
Ba là, định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết các
vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của ngƣời phạm tội (trong trƣờng
hợp định tội danh chính thức).
Do đó, định tội danh có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và
pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù
hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được
thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong
Phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định, cũng như các quy định khác trong Bộ
luật hình sự có liên quan, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định
về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của người phạm tội.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy định tội danh có 4 đặc điểm sau:
Thứ nhất, định tội danh là một quá trình nhận thức có tính logic giữa lý luận
và thực tiễn, thể hiện ở hai khía cạnh: xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể trong
BLHS và đƣa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi đã
thực hiện trong thực tế.
đối với trƣờng hợp phạm tội của ngƣời đó.
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp
luật hình sự, có ý nghĩa to lớn thể hiện ở chỗ:
19