VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIỆU THỊ NGÂN HÀ
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Luật Hình Sự và Tố Tụng Hình Sự
Mã số: 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Văn Beo
Phản biện 1: PGS.TS. Hồ Sỹ Sơn
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội
9 giờ 45 ngày 11 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Khoa học xã hội
cứu đó gắn với một địa bàn tỉnh thành cụ thể của cả nước. Đề tài “tội
tàng trữ trái phép chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn tỉnh Tiền Giang” là một nghiên cứu chuyên sâu về hành vi
tàng trữ trái phép chất ma tuý trong điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội
trên một địa bàn cụ thể của tỉnh Tiền Giang được luật hình sự quy
định là tội phạm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đúng thực tiễn tội tàng trữ trái phép chất ma tuý trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang cũng như thực trạng hoạt động định tội danh
và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội tàng trữ trái phép chất ma
tuý trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; đưa ra các giải pháp bảo đảm áp
dụng đúng pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ cụ thể
cần giải quyết sau đây:
- Khái quát lịch sử hình thành và hoàn thiện các quy phạm
pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, thể hiện rõ
được các khái niệm và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng
trữ trái phép chất ma tuý.
- Phân tích các quy định pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái
phép chất ma tuý.
- Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự xử lý
tội tàng trữ trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
3
Trên cơ sở nghiên cứu tác giả nêu lên những hạn chế, vướng
mắc trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý tội tàng trữ trái phép
chất ma tuý từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang trong công tác xét xử và
hướng hoàn thiện sẽ có ý nghĩa nhất định trong việc lựa chọn căn cứ
để áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma
tuý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận
chung, luận văn gồm có 03 ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội tàng trữ
trái phép chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình
sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý tại tỉnh Tiền Giang.
Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất
ma tuý.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội tàng trữ trái
phép chất ma tuý
Nghiên cứu các quy định của pháp luật trong giai đoạn này có
thể thấy các quy định của pháp luật đối với tội tàng trữ trái phép chất
ma tuý đã phát triển và từng bước được hoàn thiện nhưng chưa đầy
đủ, chưa có một cơ quan chuyên trách, các hành vi phạm tội liên
quan đến ma tuý vẫn chỉ được các cơ quan chức năng tiến hành đấu
tranh phòng ngừa như những tội phạm thông thường. Việc ưu tiên
các điều kiện, phương tiện kỹ thuật cũng như các điều kiện khác
chưa được chú ý. Vì thế hiệu quả đấu tranh phòng, chống đối với loại
tội phạm này không cao [20].
1.1.3. Pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép
chất ma tuý theo BLHS năm 1999
BLHS năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/7/2000. Trong BLHS năm 1999, tội tàng trữ trái
phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 lồng ghép với tội vận
chuyển, mua bán trái phép và chiếm đoạt chất ma túy, trong chương
XVIII – các tội phạm về ma túy.
- Điểm mới của BLHS năm 1999 không quy định tình tiết
chuyển khung hình phạt nặng hơn khi có nhiều tình tiết định khung
tăng nặng của khung tăng nặng thấp hơn và sửa đổi tình tiết định
khung tăng nặng “sử dụng người chưa thành niên vào việc phạm
pháp” thành “sử dụng trẻ em vào việc phạm tội”; lạo bỏ tình tiết “thu
lợi bất chính lớn” và “có tính chất chuyên nghiệp”.
6
1.1.4. Pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép
chất ma túy theo BLHS năm 2015
BLHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015. Trong
1.2.1.2. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Từ khái niệm tội phạm theo Điều 8 Bộ luật hình sự có thể đưa
ra khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý như sau:
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện việc cất giữ trái phép chất ma tuý một
cách cố ý, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của
Nhà nước.
1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất
ma tuý
Cơ sở của TNHS chính là cấu thành tội phạm với đầy đủ các
dấu hiệu luật định về khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và
chủ thể của tội phạm. Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu
hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy
định trong luật hình sự. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy
định tại Điều 249 BLHS năm 2015.
1.2.2.1. Khách thể
Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là chế độ độc
quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Đối tượng của tội
phạm này là các chất ma tuý và các nguyên liệu thực vật có chứa
chất ma tuý. Do vậy, mọi hành vi vi phạm các quy định về chế độ
độc quyền quản lý chất ma tuý đều bị coi là tội phạm và bị xử lý
nghiêm khắc.
1.2.2.2. Mặt khách quan
8
Bất cứ một tội phạm nào khi xảy ra đều tồn tại bên ngoài thế
giới khách quan. Trong mặt khách quan của tội phạm thì hành vi
phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng với
mức án cao nhất là tù chung thân. Ngoài ra còn quy định hình phạt
bổ sung như sau:
- Phạt tiền từ 5.000.000.000đồng đến 500.000.000đồng
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định với mức từ một năm đến năm năm hoặc tịch một phần hoặc
toàn bộ tài sản.
1.3.1. Chế tài theo khung cơ bản
Được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. So với
quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 thì tội tàng trữ trái phép chất
ma tuý được quy định thành một điều luật riêng, khung cơ bản được
quy định từ 01 năm đến 05 năm, khoảng cách khung hình phạt có sự
cân đối hơn so với quy định của BLHS năm 1999 và cấu thành cơ
bản của tội phạm được quy định chi tiết cụ thể hơn, không phải dựa
vào văn bản hướng dẫn. Đây là điểm mới tiến bộ của BLHS năm
2015.
1.3.2. Chế tài theo các khung tăng nặng
Khung hình phạt tăng nặng gồm có 03 khung được quy định
tại khoản 2, 3 và 4 điều 249 BLHS năm 2015. Khung 2 được quy
định mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm; khung 3 từ 10 năm đến
15 năm và khung 4 được quy định từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù
chung thân dựa vào khối lượng chất ma túy thu giữ. Tội tàng trữ trái
phép chất ma túy được quy định tại điều 249 BLHS năm 2015 không
áp dụng hình phạt tử hình.
1.3.3 Hình phạt bổ sung
Hình phạt bổ sung là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được
quy định trong BLHS nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và ngăn ngừa
10
hoàn thiện, gắn liền với quá trình lịch sử phát triển của đất nước ở
một giai đoạn nhất định, tội này được quy định thành tội danh độc
lập, có khi ghép với các nhóm tội khác cho phù hợp với thực tiễn áp
dụng. Hiện nay, BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 có lực pháp
luật vào ngày 01/01/2018, trong đó tội tàng trữ trái phép chất ma túy
được quy định thành một điều luật với tội danh riêng tại Điều 249 đã
kế thừa và khắc phục những hạn chế trong các quy định trước đây.
12
Chương 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
TẠI TỈNH TIỀN GIANG
2.1. Thực tiễn định tội danh
Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp
dụng pháp luật hình sự nhằm đạt được chân lý khách quan trên cơ sở
xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội
đã thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự
quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối quan hệ tương đồng
giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của
hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn
nhất định.
2.1.1. Thực tiễn định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ
bản
Định tội danh là quá trình đối chiếu những tình tiết thực tế của
tội phạm đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành của một
loại tội phạm nhất định. Tội phạm là một thể thống nhất gồm bốn
hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó.
* Những quan điểm chưa thống nhất trong định tội danh
theo cấu thành cơ bản:
+ Định tội danh chưa đúng theo văn bản hướng dẫn: Theo
Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12/2007: Tàng trữ chất ma túy
nhằm mục đích bán trái phép cho người khác thì xử lý theo tội mua
bán trái phép chất ma túy nhưng chỉ xử lý về tội tàng trữ trái phép
chất ma túy.
+ Chưa thống nhất trong quan điểm trong định tội danh do
đánh giá chứng cứ.
2.1.2 Thực tiễn định tội danh theo các khung tăng nặng
14
Được quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 194 Bộ luật hình sự:
2.2. Những hạn chế, bất cập từ thực tiễn xử lý tội tàng trữ
trái phép chất ma tuý tại Tiền Giang
Thứ nhất: Từ quy định của BLHS và văn bản hướng dẫn:
- Do văn bản hướng dẫn chưa đúng với quy định của BLHS
dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ
án do trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy.
Thứ hai: Do quan điểm khác nhau của người áp dụng
pháp luật:
- Thực hiện Công văn 110, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám
định, tuy nhiên, có nơi Toà án khi nhận hồ sơ vụ án có kết luận giám
định “chứa thành phần” nhưng vẫn đưa ra xét xử.
Thứ ba: Do năng lực trình độ người áp dụng pháp luật chưa
đúng quy định, vi phạm thủ tục tố tụng dẫn đến không xử lý được
hành vi vi phạm.
Kết luận Chương 2
chuyển, chiếm đoạt và mua bán thì việc áp dụng hình phạt sẽ không
đảm bảo nguyên tắc công bằng, nhân đạo, không phù hợp với chính
sách hình sự của Nhà nước ta, đặc biệt là không đúng với nguyên tắc
phân hoá TNHS mà BLHS đã quy định.
16
- Việc quy định về định lượng các chất ma tuý không đảm bảo
nguyên tắc công bằng.
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (Điều 194) được chia khung
hình phạt làm bốn khoản chính và một khoản quy định hình phạt bổ
sung, định lượng chất ma tuý được quy định từ ít đến nhiều để làm
tình tiết định khung và là căn cứ để áp dụng mức hình phạt từ thấp
đến cao.
Thứ hai: Do năng lực trình độ, chuyên môn của cán bộ chưa
đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ như: lập hồ sơ ban đầu chưa chặt
chẽ, chưa tuân thủ những quy định của pháp luật.
Thứ ba: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc
của các cơ quan tiến hành tố tụng còn thiếu, chưa đảm bảo và chưa
ổn định.
3.2. Yêu cầu và phương hướng nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Để đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật có hiệu quả trên
thực tế phải quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước, thực hiện các phương hướng, nhiệm vụ được đề ra trong chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như chiến lược xây dựng,
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam định hướng đến năm 2020
với các yêu cầu sau đây:
- Quán triệt chính sách hình sự hướng thiện trong cải cách tư
3.3.2. Nâng cao trình độ người áp dụng pháp luật
Thường xuyên giáo dục đạo đức, bồi dưỡng kiến thức pháp
luật cho cán bộ, đặc biệt cán bộ có chức danh tư pháp để họ nhận
thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của công tác giải quyết án tàng
trữ trái phép chất ma túy.
3.3.3. Các giải pháp khác
18
- Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên
truyền phòng, chống tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đầu tư thoả
đáng cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật cho các cơ quan
hoạt động tư pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ
quan như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án. Xây dựng hệ
thống dữ liệu pháp luật, dữ liệu vụ án ma tuý nổi cộm để dùng tham
khảo, và dữ liệu nghiệp vụ phục vụ cho nhu cầu công tác.
- Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có kế hoạch tập huấn
nghiệp vụ hàng năm để nhận thống nhất thống nhất pháp luật, để
không xảy ra việc nhận thức không thống nhất, cần thống nhất chung
về biện pháp xử lý tránh văn bản đơn ngành.
- Nâng cao nhận thức lý luận và pháp luật, thực hiện đầy đủ
chức năng, nhiệm và thực hiện nghiêm túc các quy định được quy
định trong Bộ luật hình sự, luật Phòng chống ma túy, các văn bản
hướng dẫn xử lý tội phạm về ma túy… Trên cơ sở đó vận dụng linh
hoạt, đúng đắn để xử lý đối với từng bị can, từng hành vi phạm tội,
đầu tư trọng tâm vào các địa bàn trọng điểm về ma túy, xác định
nhiệm vụ cụ thể cho mỗi cấp trong các kế hoạch phòng chống tội
phạm ma túy.
- Có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý đối với các chức danh
tuý trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Tiền Giang cho thấy công
tác giải quyết, xét xử luôn được các cấp chú trọng. Số vụ án bị sửa
theo thủ tục phúc thẩm rất ít (không có án bị huỷ). Điều này cho thấy
sự nổ lực rất lớn từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng tại Tiền Giang
nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử. Bên cạnh những kết quả
đạt được, thực tiễn còn một số hạn chế nhất định về quan điểm áp
dụng pháp luật vấn đề cấp thiết đang được tranh cãi giữa các ngành
tố tụng hiện chưa được thống nhất.
Thực tế hiện nay cho thấy còn tình trạng luật đã ban hành
nhưng không thực hiện được do chưa có văn bản hướng dẫn hoặc
tình trạng các điều luật còn chung chung, dẫn đến cách nhận thức
khác nhau trong quá trình áp dụng. Điều đó đã gây ra rất nhiều khó
khăn cho các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nói riêng
trong quá trình tiến hành tố tụng. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần thiết
là đẩy mạnh công tác giải thích, hướng dẫn thi hành pháp luật. Tuy
nhiên về lâu dài thì cần có phương hướng xây dựng luật, bộ luật đảm
bảo dễ hiểu, dễ áp dụng. Một vấn đề đặt ra là các cơ quan tư pháp
cần hạn chế và đi đến chấm dứt trình trạng các cơ quan chỉ giải thích,
hướng dẫn pháp luật cho riêng ngành mình. Đồng thời kịp thời bổ
sung các chất ma tuý mới vào danh mục chất ma tuý và tiền chất để
phục vụ kịp thời công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy
trong giai đoạn hiện nay, tránh bỏ lọt tội phạm.
Việc trang bị nền tảng lý luận cơ bản và vững chắc đối với tội
phạm về ma tuý là rất quan trọng. Do vậy, tác giả chọn đề tài nghiên
cứu “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” với mong muốn thông quan đó
21
góp phần hoàn thiện về mặt lý luận của hoạt động phòng, chống tội