Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRIỆU THỊ NGÂN HÀ

TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRIỆU THỊ NGÂN HÀ

TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM VĂN BEO

2.1. Thực tiễn định tội danh ......................................................................... 28
2.2. Những hạn chế, bất cập từ thực tiễn xử lý tội tàng trữ trái phép chất ma
tuý tại Tiền Giang ........................................................................................ 44
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI
PHÉP CHẤT MA TUÝ ................................................................................ 56
3.1. Nguyên nhân hạn chế, bất cập .............................................................. 56
3.2. Yêu cầu và phương hướng nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội
tàng trữ trái phép chất ma tuý ...................................................................... 66
3.3. Các giải pháp cụ thể .............................................................................. 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 74


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCA:

Bộ Công an

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CSĐT:


tồn của loài người và phát triển của xã hội.
Ở Việt Nam sau khi nhiều năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội, đất nước ta có nhiều thay đổi, đời sống
của nhân dân ngày càng được nâng cao, nền kinh tế không ngừng có sự tăng
trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước. Bên cạnh sự phát triển của nền kinh
tế thì hoạt động xây dựng pháp luật cũng được tăng cường và phát triển mạnh
mẽ. Đặc biệt là pháp luật hình sự đối với các tội về ma tuý đã luôn được sửa
đổi và bổ sung với hướng ngày càng cụ thể và nghiêm khắc hơn nhằm đáp
ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống các tội phạm này. Cùng với sự
gia tăng của tội phạm ma tuý về số vụ và số người thực hiện hành vi phạm tội
thì tình hình nghiện hút ma tuý trong xã hội đặc biệt là ở tầng lớp thanh thiếu
niên có xu hướng tăng mạnh. Nguồn ma tuý trong nước có ít, mà chủ yếu là
từ nước ngoài đem vào Việt Nam, đặc biệt là từ vùng tam giác vàng Lào –
Myanma- Tây bắc Việt Nam. Ma tuý sản xuất ở trong nước như trồng cây có
chứa chất ma tuý bao gồm thuốc phiện được trồng nhiều ở vùng biên giới Tây
Bắc, Đông Bắc Bộ và miền núi các tỉnh miền Trung từ Thanh Hoá đến Quảng
Trị. Cây cần sa trồng ở các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam. Số người
sản xuất ma tuý theo công thức tiên tiến không nhiều chủ yếu từ nước ngoài
đem vào Việt Nam là Heroin và ma tuý tổng hợp. Ma tuý đã gây ra tác hại to
1


lớn đối với con người và cộng đồng, gây ra nhiều tệ nạn trong xã hội và là
nguyên nhân làm mất an toàn xã hội, làm băng hoại đạo đức, đồng thời là
nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc
dù toàn xã hội đã có rất nhiều cố gắng, chung tay, chung sức để làm giảm tệ
nạn nghiện hút ma tuý trong xã hội nhưng số người nghiện ma tuý hàng năm
không giảm mà lại cho chiều hướng gia tăng. Tỉnh Tiền Giang tuy không phải
là địa bàn trọng điểm về ma túy. Song, do Tiền Giang là cửa ngõ nối các tỉnh

tranh phòng chống các tội phạm về ma túy trên đại bàn quận Lê Chân, thành
phố Hải Phòng” của thạc sĩ Đào Thị Huệ năm 2011; “Kiểm sát điều tra các
tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của thạc sĩ Lê
Viễn Phương. Các công trình nghiên cứu đó gắn với một địa bàn tỉnh thành cụ
thể của cả nước được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau về công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm ma tuý và công tác kiểm sát điều tra là một hoạt
động tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết án ma túy gắn với địa bàn tỉnh
cụ thể mà tác giả nghiên cứu không phải tại Tiền Giang với những đặc thù
riêng biệt. Đề tài “tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” là một nghiên cứu chuyên sâu về hành
vi tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định pháp luật hình sự trong điều
kiện địa lý, kinh tế, xã hội trên một địa bàn cụ thể của tỉnh Tiền Giang được
luật hình sự quy định là tội phạm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ vấn đề lý luận và pháp luật về tội tàng trữ trái phép
chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam; đánh giá đúng thực tiễn tội tàng
trữ trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Tiền Giang cũng như thực trạng
hoạt động định tội danh và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội tàng trữ
3


trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; đưa ra các giải pháp bảo
đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ cụ thể cần giải
quyết sau đây:
- Khái quát lịch sử hình thành và hoàn thiện các quy phạm pháp luật
hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, thể hiện rõ được các khái niệm

- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư
tưởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật hình sự
để tìm hiểu, đánh giá các vấn đề lý luận chung về tội tàng trữ trái phép chất
ma tuý và đưa ra giải pháp hoàn thiện.
- Để hoàn thành luận văn tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu
như: Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh đối chiếu, chứng minh, đánh
giá và một số phương pháp khác liên quan nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về lý
luận và thực tiễn của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Khi nghiên cứu đề tài: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang làm rõ được những cơ sở khoa
học, cơ sở lý luận và đánh giá được thực trạng của tội này từ thực tiễn tỉnh
Tiền Giang. Qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện khi áp dụng đúng pháp luật
hình sự để xử lý tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu tác giả nêu lên những hạn chế, vướng mắc trong
quá trình áp dụng pháp luật để xử lý tội tàng trữ trái phép chất ma tuý từ thực
tiễn tỉnh Tiền Giang trong công tác xét xử và hướng hoàn thiện sẽ có ý nghĩa

5


nhất định trong việc lựa chọn căn cứ để áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội
tàng trữ trái phép chất ma tuý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận chung,
luận văn gồm có 03 ba chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội tàng trữ trái phép
chất ma tuý.

tội phạm.
Do tính chất nguy hiểm cao của tội phạm về ma tuý, nhất là trước
những tác hại to lớn do ma tuý gây ra trong thời gian qua, cùng sự gia tăng
của tệ nạn nghiện hút và tội phạm về ma tuý, chính sách hình sự đối với loại
7


tội này luôn thể hiện tính nghiêm khắc. Nguyên tắc xử lý đối với các tội phạm
về ma tuý theo đường lối xử lý chung của pháp luật hình sự là đảm bảo
nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự, nghiêm trị bọn chủ mưu, chỉ huy,
cầm đầu, những kẻ ngoan cố phạm tội nhiều lần với số lượng ma tuý lớn,
những kẻ tái phạm, tái phạm nguy hiểm và những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền
hạn để phạm tội đặc biệt là đối với các ổ nhóm có tổ chức chuyên nghiệp
được quy định chi tiết trong các BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015. Ngoài
ra ngày 09/12/2000 Quốc hội thông qua Luật phòng, chống ma túy.
1.1.1. Pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma
tuý trước khi BLHS năm 1985 được ban hành
Ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập,
nhận thức được tác hại do ma túy gây ra nên ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký Sắc lệnh số 47/SL tạm thời giữ lại một số luật lệ cũ quy định về
các tội phạm ma túy không trái với nội dung chính thể cộng hòa. Đến ngày
05/3/1952 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 150/TTg quy định
việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện. Ngày
22/12/1952, Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 255/TTg quy định
những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện bị xử lý như: Phạt
tiền từ một đến năm lần trị giá thuốc phiện lậu, tịch thu thuốc phiện khi mua
bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép. Người vi phạm có thể còn bị truy tố ra
trước tòa án. Ngày 15/9/1955 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số
580/TTG bổ sung Nghị định số 150/TTg, quy định những trường hợp có thể
bị đưa ra Tòa án để xét xử [20].

Chương VIIa “Các tội phạm về ma tuý” với 14 Điều luật cụ thể. Với thẩm
quyền theo luật định, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự như Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an) đã
ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của BLHS. Bên cạnh
9


đó, để hướng dẫn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các ngành Toà án, Viện
kiểm sát, Bộ nội vụ đã xây dựng Thông tư liên ngành số 07/TTLN ngày
05/12/1992; số 05/TTLN ngày 14/02/1995, và số 09/TTLN ngày 10/10/1996
hướng dẫn áp dụng điều 96a và điều 203 BLHS năm 1985 và thông tư liên
tịch số 01/1998/TTLT ngày 02/01/1998 và số 02/1998/TTLT ngày 05/8/1998.
Đồng thời ngày 10/5/1997, Quốc hội (khoá IX) đã thông qua luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLHS trong đó các tội phạm về ma tuý đã được tách ra
và quy định môt chương riêng – Chương 7a với 14 điều luật, ngoài điều 185o
quy định “Hình phạt bổ sung” thì còn 13 điều luật từ điều 185a đến điều 185n
được ứng với 13 hành vi phạm tội khác nhau. Các chất ma tuý thường gặp
cũng được quy định rất cụ thể trong từng điều và đặc biệt là đã được lượng
hoá để làm căn cứ truy cứu TNHS với những mức hình phạt nghiêm khắc
hơn, nâng cao mức phạt tiền và tịch thu tài sản, thêm một số hình phạt bổ
sung khác …[20].
Nghiên cứu các quy định của pháp luật trong giai đoạn này có thể thấy
các quy định của pháp luật đối với tội tàng trữ trái phép chất ma tuý đã phát
triển và từng bước được hoàn thiện những quy định về tội phạm, hình phạt và
nguyên tắc xử lý đối với tội phạm, đã thể hiện chính sách cứng rắn, kiên quyết
và nghiêm khắc hơn thể hiện rõ nhất ở yếu tố định lượng của khung hình phạt,
ứng với mỗi hành vi phạm tội là một mức xử lý thích hợp, phù hợp với tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với xã hội. Tuy nhiên,
những quy định pháp luật về đấu tranh phòng, chống ma tuý ở giai đoạn này
cũng vẫn còn có những hạn chế nhất định như: Quan điểm đấu tranh phòng,

đích mua bán. Vận chuyển cũng lại là để mua bán và tàng trữ. Vì vậy nhiều
vụ án ma tuý đã được khám phá song rất khó phân biệt, bóc tách xem đâu là
hành vi vận chuyển, đâu là hành vi tàng trữ, mua bán. Ngoài ra hành vi chiếm

11


đoạt chất ma tuý cũng có cấu trúc điều luật và hình phạt tương tự như ba tội
danh này.
- Điểm mới BLHS năm 1999 không quy định tình tiết chuyển khung
hình phạt nặng hơn khi có nhiều tình tiết định khung tăng nặng của khung
tăng nặng thấp hơn và sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng “sử dụng người
chưa thành niên vào việc phạm pháp” thành “sử dụng trẻ em vào việc phạm
tội”; loại bỏ tình tiết “thu lợi bất chính lớn” và “có tính chất chuyên nghiệp”.
1.1.4. Pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma
túy theo BLHS năm 2015
BLHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa
XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015. Trong BLHS năm 2015, tội
tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249, Chương XX, các
tội phạm về ma túy. So với BLHS năm 1999 tội tàng trữ trái phép chất ma túy
được quy định thành một điều luật riêng và quy định hành vi phạm tội cụ thể
trong từng khung hình phạt không phải căn cứ vào văn bản hướng dẫn như
trước đây; khoảng cách giữa các khung hình phạt được rút ngắn hơn; không
áp dụng hình phạt tử hình đối với loại tội này; quy định thêm một số chất ma
túy mới vào tội danh và thay đổi đơn vị tính từ “trọng lượng” thành “khối
lượng”.
Tuy nhiên, BLHS năm 2015 có những quy định chưa phù hợp thực tiễn
nên ngày 20/6/2017 Quốc hội thông qua luật sửa đổi BLHS năm 2017 đối với
tội tàng trữ trái phép chất ma túy được sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2, 3 và 4
Điều 249 có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 đã định lượng hóa hậu quả trong

chất ma tuý, tiền chất và các chất hoá học dùng để điều chế các chất ma tuý
(bao gồm danh mục quy định tại Công ước quốc tế 1961, 1971, 1981) được
ban hành theo Nghị định của Chính phủ số 67/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 10
13


năm 2001. Do đó khi cần xác định một chất có phải là ma tuý hay không chỉ
cần đưa mẫu đến cơ quan giám định hoặc căn cứ vào danh mục các chất ma
tuý quy định tại Nghị định số 67/2001/NĐ – CP của Chính phủ.
1.2.1.1. Khái niệm
* Tàng trữ chất ma tuý: là việc cất giữ, cất giấu chất ma tuý ở bất cứ
nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào
thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo
người …) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái
phép chất ma tuý. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc
xác định tội này [1].
1.2.1.2. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Từ khái niệm tội phạm theo Điều 8 Bộ luật hình sự có thể đưa ra khái
niệm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý như sau:
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện việc cất giữ trái phép chất ma tuý một cách cố ý, xâm phạm chế
độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước.
1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Cơ sở của TNHS chính là cấu thành tội phạm với đầy đủ các dấu hiệu
luật định về khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội
phạm. Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc
trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự.
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 BLHS
năm 2015:

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;
15


e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500
gam đến dưới 01 kilôgam;
g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa,
quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính
phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200
kilôgam;
k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50
kilôgam;
l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới
100 gam;
m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới
250 mililít;
n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại
một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;
o) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
10 năm đến 15 năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01
kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
17


h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại
một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
CTTP là cơ sở pháp lý của BLHS là khuôn mẫu pháp lý mà chỉ có thể
dựa vào nó để xác định tội phạm. Không phải bất cứ hành vi nào gây thiệt hại
cho xã hội cũng làm phát sinh BLHS. BLHS chỉ được phát sinh khi hành vi
được thực hiện hội đủ dấu hiệu luật định về tội phạm mà tổng hợp các dấu
hiệu đó được gọi là CTTP. Trong đó CTTP về tội tàng trữ trái phép chất ma
tuý được quy định như sau:
1.2.2.1. Khách thể
Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là chế độ quản lý các
chất ma tuý của Nhà nước. Đối tượng của tội phạm này là các chất ma tuý và
các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma tuý.
Nhà nước ta thống nhất quản lý chất ma tuý theo một chế độ nghiêm
ngặt. Bởi lẽ nếu không thống nhất và độc quyền quản lý các chất đó sẽ dẫn
đến nguy cơ đe doạ nghiêm trọng an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự
phát triển lành mạnh của nòi giống, gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống
xã hội. Do vậy, mọi hành vi vi phạm các quy định về chế độ độc quyền quản
lý chất ma tuý đều bị coi là tội phạm và bị xử lý nghiêm khắc.
Các chất ma tuý là chất gây nghiện ở dạng tự nhiên hoặc tổng hợp gồm:
các chất hướng thần; các tiền chất ma tuý và các tiền chất hướng thần; các
nguyên liệu thực vật có chứa chất ma tuý. Chất ma tuý có đặc tính nguy hiểm

thì bị truy cứu về tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò đồng phạm [9,
tr. 87-88].
19


Tàng trữ trái phép chất ma tuý được hiểu là hành vi lưu giữ, cất giữ trái
phép chất ma tuý. Địa điểm cất giữ ở bất cứ nơi nào như trong người, trong
nhà, ngoài vườn, chôn giấu dưới đất, để trong va ly, cho vào thùng xăng xe
hoặc ở nơi nào đó. Thời gian tàng trữ có thể dài hay ngắn, bất kể là bao lâu.
Hành vi tàng trữ chất ma tuý bị coi là trái phép khi việc tàng trữ đó được thực
hiện mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền [31, tr. 362].
Việc cất giữ chất ma tuý phải không nhằm để mua bán hoặc để sản xuất
trái phép chất ma tuý khác mới cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Hành vi khách quan của các tội phạm về ma tuý tuy có khác nhau về hình
thức thể hiện về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Song các hành vi
này giống nhau ở chỗ đều là những hành vi vi phạm các quy định của Nhà
nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý. Đó có thể là những hành
vi thực hiện những điều mà Nhà nước cấm các cá nhân làm hoặc có thể là
những hành vi của những người có trách nhiệm được Nhà nước giao đã không
thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những
quy định về quản lý, sử dụng chất ma tuý.
Việc xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma
tuý không những có tác động ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế đất nước, đến
tính mạng sức khoẻ con người làm thoái hoá nòi giống, là nguy cơ gây ra “cái
chết trắng”, là nguồn lan truyền đại dịch HIV/AIDS… Vì vậy nó có ảnh
hưởng rất xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên tội phạm có cấu thành
hình thức và được coi là hoàn thành khi người thực hiện hành vi tàng trữ trái
phép chất ma tuý, không cần hậu quả vật chất cụ thể do tội phạm gây ra.
1.2.2.3. Chủ thể
Chủ thể phải chịu TNHS theo quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status